Kỳ 2: Chế độ Liên Quan đến án Lệ Hàn Quốc - Nghiên Cứu Khoa Học

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Sơ đồ Tổ chức
    • Lịch sử phát triển
    • Ban Giám đốc
    • Các Phòng, Khoa
  • Tuyển Sinh Đại học, Cao học
  • Đào tạo - Bồi dưỡng
    • Thông báo
    • Lịch học - Lịch thi
    • Chương trình, kế hoạch
    • Văn bản - Quy chế
    • Kết quả học tập
  • Trao đổi nghiệp vụ
    • Nghiên cứu khoa học
    • Hỏi đáp nghiệp vụ
    • Văn bản nghiệp vụ mới
  • Hợp tác quốc tế
    • Hoạt động chung
    • Các dự án
  • Hoạt động tình nguyện
  • Thư viện Tài liệu
--Liên kết nhanh-- Hệ thống VBPL Sổ tay Thẩm phán Cổng thông tin TANDTC Trang thông tin TAND tỉnh Thừa Thiên Huế Trang thông tin TAND tỉnh Hà Tĩnh Trang thông tin TAND tỉnh Vĩnh Long Trang thông tin TAND tỉnh Hưng Yên Tel: 0432.693.693 Fax: 0432.693.693 Email: [email protected] Bản đồ đến Học viện Tòa án
7159663
Nghiên cứu khoa học Kỳ 2: Chế độ liên quan đến án lệ Hàn quốc 1

1. Mở đầu

- Xét xử là việc xác định sự thật và áp dụng luật phù hợp đối với sự thật đó. Tuy nhiên, có trường hợp ý nghĩa của luật không rõ ràng dẫn đến không thể xác định rõ xem có thể áp dụng luật đó vào vụ án cụ thể hay không, cũng có trường hợp nếu chỉ áp dụng luật do những nhà làm luật ban hành thì khó có thể đưa ra kết luận đối với những vụ án phát sinh theo những hiện tượng xã hội phức tạp và đa dạng.

- Án lệ của Tòa án có thể làm sáng tỏ ý nghĩa của luật và bổ sung hoàn thiện những lỗ hổng của luật thông qua việc giải thích luật hoặc tuyên ngôn pháp lý.

- Nếu án lệ được tập hợp và đóng vai trò là tiêu chí của nhận định trong xét xử, thì việc phân tích, áp dụng pháp lệnh của Tòa án sẽ được thực hiện một cách thống nhất. Theo đó, Tòa án có thể đối xử một cách bình đẳng đối với đương sự của vụ án và giảm thiểu chi phí cũng như những nỗ lực để giải quyết tranh chấp.

- Dưới đây, tôi sẽ giới thiệu qua về các nội dung như án lệ trong hệ thống luật Anh Mỹ (thông luật) và hệ thống luật Châu Âu lục địa (dân luật) có ý nghĩa như thế nào, Ở Hàn Quốc án lệ có được công nhận là nguồn luật (source of law) hay không, ý nghĩa và chức năng của án lệ tại Hàn Quốc và vấn đề liên quan đến án lệ là tính chất và hiệu lực pháp lý củaphán quyết mà Tòa án cấp trên hủy và trả vụ án về tòa án sơ thẩm sẽ như thế nào; sau đó sẽ giới thiệu về tình hình thu thập và công bố án lệ trong và ngoài Tòa án của Tòa án Hàn Quốc.

2. Vị trí của án lệ theo từng hệ thống luật

- Hệ thống luật Anh Mỹ (thông luật)

+ Các quốc gia nằm trong hệ thống luật Anh Mỹ là những quốc gia theo trường phái luật không thành văn, án lệ được tích lũy trong thời gian dài hình thành nên hệ thống luật.

+ Trường phái Luật bất thành văn dựa trên tư tưởng cho rằng tập quán và thường thức lành mạnh được được hình thành giữa các công dân phải được coi trọng như luật và nhận định được đưa ra thông qua tranh luận giữa các đương sự có quyền lợi và nghĩa vụ đối lập nhau trong tố tụng thực tế sẽ đáng tin hơn tuyên ngôn pháp lý về vụ việc mang tính chất giả định.

+ Ưu - nhược điểm của trường phái luật bất thành văn

* Ưu điểm Đa số án lệ đều được tập hợp do vậy luật được cụ thể hóa đến từng nội dung chi tiết. Nội dung của luật phù hợp với cảm nhận về luật pháp của người dân và án lệ mới được được hình thành theo sự biến đổi của xã hội do vậy luật có thể phát triển liên tục.

* Nhược điểm Việc lựa chọn án lệ có giá trị dẫn chiếu làm tiền lệ trong số nhiều án lệ không phải là điều dễ dàng và rất khó để thiết lập nguyên tắc luật pháp chung từ án lệ liên quan đến vụ việc cụ thể.

+ Ở các quốc gia thuộc hệ thống luật Anh Mỹ, án lệ trở thành nguồn luật căn bản (source of law) và có hiệu lực pháp lý bắt buộc như một tiền lệ.

- Hệ thống luật Châu Âu lục địa (dân luật)

+ Các quốc gia thuộc hệ thống luật Châu Âu lục địa là các quốc gia theo trường phái luật thành văn, làm rõ nội dung của luật bằng việc ban hành sẵn các văn bản pháp luật về những vấn đề quan trọng giữa nhà nước và người dân.

+ Trường phái luật thành văn dựa trên tư tưởng cho rằng việc các cơ quan lập pháp đại diện cho người dân xây dựng pháp luật theo quy trình thủ tục do hiến pháp quy định là điều đúng đắn.

+ Ưu - nhược điểm của trường phái luật thành văn.

* Ưu điểm Khả năng dự đoán của người dân về pháp luật cao vì họ có thể biết rõ nội dung của luật, dễ dàng sắp xếp luật pháp một cách hệ thống, không dễ dàng sửa đổi luật, tính an toàn pháp lý cao vì luật được so sánh liên tục trong thời gian dài.

* Nhược điểm Luật được ban hành dưới hình thức quy định trừu tượng để có thể áp dụng trong các vụ việc đa dạng do vậy có thể phát sinh khó khăn trong việc phân tích luật, việc sửa đổi luật không hề dễ dàng nên luật không thể đối phó một cách nhanh chóng trước những biến đổi của xã hội.

+ Các quốc gia thuộc hệ thống luật Châu Âu lục địa coi luật thành văn là nguồn luật căn bản (source of law), coi trọng việc giải quyết vụ việc một cách thỏa đáng, cụ thể nên phần lớn không công nhận hiệu lực pháp lý bắt buộc của án lệ.

3. Ở Hàn Quốc án lệ có phải nguồn luật (source of law) hay không?

- Hàn Quốc là một quốc gia thuộc hệ thống luật Châu Âu lục địa. Vềnguyên tắc, luật thành văn là nguồn luật nhưng ngoài luật thành văn, có phải án lệ cũng được coi nguồn luật hay không. Điều này có nghĩa là vấn đề án lệ có hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với những vụ án tương tự sau này hay không đang được bàn luận theo hướng học thuật tại Hàn Quốc.

+ Thuyết khẳng định

Có ý kiến cho rằng án lệ được xác lập tương đương với thông luậtnên có thể coi là nguồn luật, có ý kiến cho rằng án lệ tương đương với nguồn luật với lý do nó có chức năng hình thành nên luật, bổ sung những điểm còn thiếu sót của luật thành văn, có ý kiến cho rằng phán quyết của tòa án cấp dưới trái với án lệ thì khả năng bị hủy án sẽ rất cao do vậy án lệ có thể xem là nguồn luật vì có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến Tòa án cấp dưới về mặt thực tế.

+ Thuyết phủ định

Là ý kiến phủ nhận tính chất nguồn luật của án lệ với lý do án lệ có hiệu lực bắt buộc trên thực tế đối với những vụ án tương tự nhưng nó cũng chỉ là kết quả của việc áp dụng luật đối với vụ án cụ thể và không thể coi án lệ là luật.

Điều 8 Luật tổ chức tòa án quy định “Nhận định trong xét xử của Tòa án cấp trên sẽ ràng buộc cấp dưới đối với vụ án đó". Điều này có nghĩa án lệ không có hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với các vụ án tương tự và đây cũng là căn cứ để phủ nhận tính chất nguồn luật của án lệ.

- Việc có công nhận tính chất nguồn luật của án lệ hay không là một vấn đề quan trọng xét về mặt lý luận luật pháp. Song cả hai ý kiến đều không có sự khác biệt ở điểm cho rằng án lệ dù là hình thức như thế nào chăng nữa đều có hiệu lực bắt buộc.

- Ở Hàn Quốc rất khó để coi án lệ có hiệu lực pháp lý bắt buộc như luật thành văn. Tuy nhiên trong thực tiễn án lệ, đặc biệt là án lệ của tòa án tối cao có hiệu lực bắt buộc mạnh mẽ đối với tòa án cấp dưới.

- Do vậy ở Hàn Quốc nhấn mạnh việc khi xét xử vụ án tương tự với vụ việc của án lệ, trước khi áp dụng theo kết luận của án lệ, Thẩm phán phải kiểm tra, xem xét một cách đầy đủ xem vụ án có cùng phạm trù với vụ việc của án lệ hay không, án lệ có phù hợp với thực trạng xã hội hiện tại hay không v.v...

4. Ý nghĩa và chức năng của án lệ

- Ý nghĩa của án lệ ở Hàn Quốc

+ Ví dụ về việc sử dụng đa dạng thuật ngữ án lệ.

* Phán quyết của tất cả các Tòa án cũng được gọi là án lệ, chỉ riêng phán quyết của Tòa án tối cao- cơ quan xét xử cao nhất cũng được gọi là án lệ.

* Bản thân phán quyết của vụ án đặc thù nào đó cũng được gọi là án lệ,các phán quyết được tập hợp về các vụ án tương tự cũng được gọi là án lệ.

* Đôi khi chỉ những ý kiến, lập luận mang tính luật pháp của Tòa án được đúc rút trong phán quyết cũng được gọi là án lệ.

+ Thông thường ở Hàn Quốc thuật ngữ án lệ mang ý nghĩa là những phán quyết của Tòa án tối cao- cơ quan xét xử cao nhất

- Chức năng của án lệ

+ Cụ thể hóa những quy định trừu trượng của luật thông qua việc phân tích pháp lệnh.

* Luật không chỉ được thiết lập dưới hình thức những quy định trừu tượng nhằm điều chỉnh những hiện tượng xã hội đa dạng, mà còn có những quy định pháp luật giao cho thẩm phán quyết định các nội dung như “phúc lợi công cộng”, “thuần phong mỹ tục và các trật tự xã hội khác ”, “lý do chính đáng” v.v

* Thông qua việc phân tích luật của án lệ, ý nghĩa của các quy định pháp luật trừu tượng được cụ thể hóa, phạm vi áp dụng quy định pháp luật, mối quan hệ với các quy định pháp luật khác trở nên rõ ràng hơn

+ Bổ sung khiếm khuyết của luật

* Có những vấn đề không thể dự đoán trước được tại thời điểm ban hành luật. Và thậm chí cho dù là những vấn đề đã được dự đoán trước thì vẫn có những vấn đề không phải là đối tượng quy định của luật do những hạn chế về mặt kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên thẩm phán lại không thể từ chối xét xử với lý do chưa được quy định trong luật.

* Án lệ có thể bổ sung được khiếm khuyết của luật bằng việc đưa ra tuyên bố pháp lý hoặc áp dụng suy đoán các quy định pháp luật khác.

* Có thể lấy các ví dụ trong án lệ của Hàn Quốc như: Nguyên tắc mất hiệu lực, quyền yêu cầu bồi thường hậu quả của việc không thi hành, lý luận lạm dụng quyền đại diện v.v...

+ Đảm bảo tính ổn định pháp luật thông qua việc thống nhất giải thích và áp dụng pháp luật.

* Án lệ có thể thống nhất việc phân tích và áp dụng luật của Tòa án. Theo đó, Tòa án có thể đối xử một cách bình đẳng đối với đương sự của vụ án, giảm thiểu chi phí cũng như nỗ lực của đương sự và Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp, đảm bảo tính ổn định pháp luật.

5. Ý nghĩa của án lệ đã được quy định trong luật thực tiễn của Hàn Quốc

- Quy định về án lệ trong pháp luật Hàn Quốc

+ Luật xét xử vụ án có giá trị tranh chấp nhỏ Điều 3 (kháng cáo và tái kháng cáo) Đối với phán quyết, hoặc quyết định, mệnh lệnh của cấp phúc thẩm của hội đồng xét xử gồm 3 Thẩm phán của Tòa án địa phương về vụ án có giá trị tranh chấp nhỏ, có thể kháng cáo hoặc tái kháng cáo lên Tòa án tối cao trong trường hợp tương ứng với mục 1 của các khoản dưới đây. 2. Khi đưa ra nhận định trái ngược với án lệ của Tòa án tối cao.

+ Luật tòa án quân sự. Điều 414 (phán quyết có thể kháng cáo) Đối với phán quyết của Tòa án quân sự thông thường, có thể kháng cáo lên Tòa án quân sự cấp cao khi có căn cứ tương ứng với bất kỳ khoản nào dưới đây. 2. Khi đưa ra nhận định trái ngược với án lệ của Tòa án tối cao hoặc Tòa án quân sự cấp cao

Điều 442 (Phán quyết có thể kháng cáo) Đối với phán quyết của Tòa án quân sự cấp cao, có thể kháng cáo lên Tòa án tối cao khi có căn cứ tương ứng với một trong các khoản dưới đây. 2. Khi đưa ra nhận định trái ngược với án lệ của Tòa án tối cao và gây ảnh hưởng rõ ràng đến phán quyết. 3. Khi Tòa án quân sự cấp cao đưa ra nhận định trái ngược với án lệ cuối cùng trong trường hợp không có án lệ của Tòa án tối cao và gây ảnh hưởng rõ ràng đến phán quyết.

- Khái niệm án lệ trong luật thực tiễn của Hàn Quốc

+ Án lệ là nhận định của Tòa án.

* Không phải bản thân phán quyết trở thành án lệ mà chỉ nội dung nhận định của Tòa án được chỉ ra trong phán quyết mới là án lệ.

+ Án lệ là phần nhận định được biểu thị trong "xét xử của vụ án đặc thù".

* Án lệ là nhận định của Tòa án được biểu thị trong phán quyết của các vụ án đặc thù, do đó để kháng cáo với lý do đã đưa ra nhận định trái ngược với với án lệ của Tòa án tối cao, phải tiến hành lựa chọn đặc biệt và biểu thị cụ thể những án lệ của Tòa án tối cao.

+ Án lệ là nhận định "mang tính pháp luật" mang "tính chung, phổ biến" được thể hiện tại phần lý do của phán quyết.

* Án lệ phải là những nhận định có thể trở thành tiền lệ khi xét xử những vụ án khác trong tương lai, vì vậy nhận định đó phải có tính chung, phổ biến để có thể áp dụng cho những vụ án khác.

* Công nhận sự thật, tính toán số tiền bồi thường thiệt hại về tinh thần, mức hình phạt của phán quyết hình sự không phải là án lệ.

+ Phán quyết lần 1 cũng là án lệ.

* Nhận định được biểu thị trong phán quyết 1 lần cũng là án lệ.

6. Vấn đề liên quan: Tính chất pháp lý và hiệu lực ràng buộc của phán quyết trả hồ sơ vụ án

a. Phán quyết trả hồ sơ vụ án

- Trong trường hợp kết quả thẩm tra vụ án của Tòa án cấp chung thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm nhận thấy kết luận của phán quyết sơ thẩm là không thỏa đáng, thì về nguyên tắc Tòa án cấp chung thẩm, hoặc trong một số trường hợp nhất định, Tòa án cấp phúc thẩm hủy phán quyết sơ thẩm và trả hồ sơ vụ án về Tòa án cấp phúc thẩm hoặc Tòa án sơ thẩm.

- Tòa án phúc thẩm hay Tòa án sơ thẩm nhận phán quyết trả hồ sơ vụ án, có bắt buộc phải tuân theo nhận định về mặt pháp luật và về mặt thực tế mà Tòa án cấp trên đưa ra làm lý do hủy hay không, nếu phải tuân theo thì vấn đề đặt ra là căn cứ và phạm vi lý luận.

- Ngoài ra, một vấn đề khác nữa đó là có thể tiếp tục không đồng ý với Tòa án cấp trên về phán quyết trả hồ sơ vụ án hay không, có thể đưa ra căn cứ tái thẩm trong phán quyết trả hồ sơ vụ án và đề nghị tái thẩm hay không?

b. Quy định liên quan

- Luật tổ chức Tòa án

Điều 8 Luật tổ chức tòa án (hiệu lực ràng buộc trong xét xử của tòa án cấp trên)

Nhận định trong xét xử của tòa án cấp trên ràng buộc tòa án cấp dưới đối với vụ án tương ứng

- Luật tố tụng dân sự

Điều 436 ( Hủy, hoàn trả, chuyển giao phán quyết)

1.Trong trường hợp công nhận là có lý do chính đáng để kháng cao, Tòa án cấp chung thẩm phải tiến hành hủy phán quyết sơ thẩm và trả hồ sơ vụ án về tòa án sơ thẩm hoặc chuyển giao cho tòa án cùng cấp khác.

2.Tòa án nhận vụ án bị trả lại hoặc chuyển giao phải tiến hành xét xử lại thông qua biện luận. Trong trường hợp này bị ràng buộc vào nhận định về mặt pháp luật và thực tế mà tòa án chung thẩm đưa ra làm lý do hủy phán quyết.

c. Tính chất pháp lý của phán quyết trả hồ sơ vụ án

- Thảo luận của giới học thuật

+ Thuyết phán quyết trung gian.

* Là ý kiến cho rằng với phán quyết trả hồ sơ vụ án, trước hết vụ án sẽ không bị xét xử tại các cấp xét xử nhưng vẫn phải được xét tại Tòa án sơ thẩm và khi lại tiếp tục có yêu cầu kháng cáo thì lại phải quay trở lại Tòa án đã đưa ra phán quyết trả hồ sơ vụ án, và phải nhận được phán quyết cuối cùng. Do đó phán quyết trả hồ sơ vụ án chưa phải là xét xử cuối cùng và chỉ có thể coi là phán quyết trung gian.

* Phán quyết trung gian là phán quyết mà nhận định trước về vấn đề là điểm tranh luận trong quá trình tiến hành tố tụng nhằm giúp việc đưa ra phán quyết cuối cùng trở nên dễ dàng hơn (điều 201 Luật tố tụng dân sự)

* Theo thuyết phán quyết trung gian, khi phán quyết trả hồ sơ vụ án đươc tuyên bố thì ngay lập tức sẽ phát sinh hiệu lực hoàn trả đối với vụ án đó. Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm tuyên phán quyết trả hồ sơ vụ án thì không thể kháng cáo lên Tòa án tối cao đối với phán quyết này, và dẫn đến kết luận là sau khi trả hồ sơ vụ án, nếu phán quyết do Tòa án sơ thẩm đưa ra bị kháng cáo, thì cũng đồng thời có thể là không đồng tình với phán quyết trả hồ sơ vụ án và không thể khởi kiện yêu cầu tái thẩm đối với phán quyết trả hồ sơ vụ án.

+ Thuyết phán quyết cuối cùng

* Là ý kiến cho rằng phán quyết trả hồ sơ vụ án giúp vụ án thoát khỏi việc bị xét xử ở cấp xét xử nên có thể coi đây là phán quyết cuối cùng

* Theo thuyết phán quyết cuối cùng, khi phán quyết trả hồ sơ vụ án được xác định sẽ có hiệu lực. Trong trường hợp tòa án cấp phúc thẩm đưa ra phán quyết trả hồ sơ vụ án thì vẫn có thể kháng cáo lên Tòa án tối cao đối với phán quyết đó, và kết luận là vẫn có thể khởi kiện yêu cầu tái thẩm đối với phán quyết trả hồ sơ vụ án.

* Là thuyết đa số của Hàn Quốc

- Lập trường của Tòa án tối cao

+ Trước đây, Tòa án tối cao dựa trên thuyết phán quyết trung gian để xét xử và sau này trong phán quyết của hội đồng xét xử lớn của Tòa án tối cao số 3271, 80 , tuyên án ngày 8.9. 1981 đã thay đổi lập trường sang thuyết phán quyết cuối cùng cho rằng "phán quyết trả hồ sơ vụ án là phán quyết kết thúc việc xét xử đối với vụ án, đồng thời là phán quyết thoát khỏi cấp xét xử đó, do vậy việc giải thích cho rằng phán quyết trả hồ sơ vụ án là phán quyết cuối cùng là hợp lý. Theo đó đối với phán quyết này, có thể kháng cáo thẳng lên tòa án tối cao theo điều 392 Luật tố tụng dân sự”.

+ Tuy nhiên, mặc dù Tòa án tối cao tuân theo thuyết phán quyết cuối cùng song vẫn giữ lập trường rằng phán quyết trả hồ sơ vụ án không phải đối tượng tái thẩm.

+ Xem xét.

Nếu theo thuyết phán quyết trung gian thì cho dù có sai sót trong phán quyết trả hồ sơ vụ án của Tòa án cấp phúc thẩm thì đương sự phải đợi đến khi có phán quyết của tòa sơ thẩm mới được tiến hành kháng cáo lên cấp phúc thẩm và nếu tòa án cấp phúc thẩm lại phạm phải sai sót giống như vậy, lúc đó mới được kháng cáo tiếp lên Tòa án cấp chung thẩm. Do vậy, xét về mặt kinh tế tố tụng thì thuyết phán quyết cuối cùng là khả thi, phù hợp.

d. Hiệu lực ràng buộc của phán quyết trả hồ sơ vụ án

- Căn cứ công nhận hiệu lực ràng buộc của phán quyết

- Nếu không công nhận hiệu lực ràng buộc trong phán quyết trả hồ sơ vụ án, trong trường hợp Tòa án sơ thẩm- nơi nhận án hoàn trả vẫn giữ quan điểm như trước đó, thì vụ án sẽ bị chuyển qua chuyển lại giữa tòa án cấp trên và tòa sơ thẩm. Do đó để duy trì một cách hợp lý chế độ cấp xét xử, thì phải công nhận hiệu lực ràng buộc trong phán quyết của tòa án cấp trên.

- Tính chất pháp lý tố tụng của hiệu lực ràng buộc của phán quyết

+ Tranh luận của giới học thuật

* Thuyết hiệu lực phán quyết trung gian Là ý kiến coi tính chất pháp lý của phán quyết trả hồ sơ vụ án là phán quyết trung gian và hiệu lực ràng buộc của phán quyết đó sẽ ràng buộc tòa án cấp dưới.

* Thuyết hiệu lực ràng buộc Là ý kiến cho rằng nếu như phán quyết trả hồ sơ vụ án đã được xác định, sẽ phát sinh hiệu lực ràng buộc đối với những điểm vi phạm pháp luật hoặc chưa hợp lý của phán quyết sơ thẩm và hiệu lực ràng buộc đó sẽ ràng buộc tòa án cấp dưới.

* Thuyết hiệu lực đặc thù Là ý kiến cho rằng rất khó để có thể giải thích rằng hiệu lực ràng buộc của phán quyết trả hồ sơ vụ án là hiệu lực thông thường của phán quyết và để duy trì chế độ cấp xét xử phải coi nó là hiệu lực đặc thù được công nhận trong luật tố tụng. Đây là thuyết đa số tại Hàn Quốc.

+ Xem xét Như đã tìm hiểu trên đây, Thuyết hiệu lực phán quyết trung gian rất khó coi tính chất pháp lý của phán quyết trả hồ sơ vụ án là phán quyết trung gian, do đó tiền đề đó không hợp lý và Thuyết hiệu lực ràng buộc của bản án rất khó tuân theo ở luận điểm nắm bắt hiệu lực ràng buộc của phán quyết trả hồ sơ vụ án thành hiệu lực ràng buộc có tính chất khác. Vì vậy việc phân tích một cách hợp lý về phạm vi hiệu lực của phán quyết trả hồ sơ vụ án ở phần sau cho thấy thuyết hiệu lực đặc thù là phù hợp.

- Phạm vi khách quan của hiệu lực ràng buộc của phán quyết

+ Hiệu lực ràng buộc của phán quyết trả hồ sơ vụ án chỉ có giá trị đối với vụ án đó và không ảnh hưởng tới các vụ án cùng loại khác. Hơn nữa, Tòa án sơ thẩm nhận vụ án bị trả hồ sơ không chịu sự ràng buộc đối với mọi nhận định trong lý do phán quyết của Tòa án cấp trên, mà chỉ chịu sự ràng buộc đối với nhận định về mặt thực tế và nhận định về mặt pháp luật mà tòa án cấp trên đưa ra làm lý do hủy bản án. Tuy nhiên, vẫn chưa có quy định rõ ràng về phạm vi của nhận định về mặt thực tế và nhận định về mặt pháp luật có hiệu lực ràng buộc.

+ Nhận định về mặt thực tế

* Hàn Quốc công nhận hiệu lực ràng buộc của phán quyết trong cả nhận định về mặt pháp luật lẫn nhận định về mặt thực tế của phán quyết trả hồ sơ vụ án.

* Cấp chung thẩm là một cấp pháp luật, sự thật do Tòa án phúc thẩm xác định theo đúng quy định của pháp luật sẽ ràng buộc Tòa án chung thẩm, do đó sự thật liên quan tới vụ việc, nghĩa là nhận định của Tòa án chung thẩm về sự thật trong luật thực tiễn không phát huy hiệu lực ràng buộc, mà chỉ sự thật trong luật tố tụng nghĩa là chỉ có nhận định của Tòa án chung thẩm liên quan đến sự thật về vấn đề điều tra thẩm quyền, sự thật về vi phạm trình tự thủ tục mới có hiệu lực ràng buộc.

* Trường hợp Tòa phúc thẩm hủy phán quyết sơ thẩm với lí do công nhận sự thật của cấp sơ thẩm, thì tòa án cấp phúc thẩm không được trả hồ sơ vụ án mà phải trực tiếp đưa ra phán quyết, do vậy nhận định thực tế có hiệu lực ràng buộc của phán quyết trả hồ sơ vụ án do tòa phúc thẩm đưa ra cũng chỉ giới hạn trong nhận định liên quan tới sự thật trong pháp luật tố tụng.

- Theo đó, Tòa án nhận hồ sơ vụ án bị trả lại có thể công nhận sự thật khác dựa trên những chứng cứ mới về vụ việc và trong trường hợp này, nếu như tòa đưa ra kết luận giống như trước khi trả hồ sơ vụ án thì cũng không ảnh hưởng gì.

+ Nhận định về mặt pháp luật.

* Nhận định về mặt pháp luật có hiệu lực ràng buộc bao gồm các nhận định về việc giải thích pháp lệnh, ý kiến về việc áp dụng pháp lệnh (ví dụ: nếu là quan hệ thực tế này thì sẽ pháp hiệu lực pháp luật như thế này), giải thích hành vi pháp luật….

* Không phải tất cả nội dung nhận định về mặt pháp luật của tòa chung thẩm đều có hiệu lực ràng buộc đối với tòa án cấp dưới, chỉ có nhận định đưa ra làm lý do hủy phán quyết sơ thẩm mới có hiệu lực ràng buộc. Nhận định không phải lý do trực tiếp hủy phán quyết sơ thẩm thì không có hiệu lực ràng buộc.

* Cho dù là Tòa án cấp trên cũng không được phép chỉ đạo Tòa án cấp dưới phải đưa ra một nhận định như thế nào. Do đó hiệu lực ràng buộc chỉ phát sinh trong nhận định mang tính chất phủ định đối với phán quyết sơ thẩm. Ví dụ, trong trường hợp tòa chung thẩm hủy phán quyết sơ thẩm áp dụng quy định A với lý do việc áp dụng quy định A là sai và phải áp dụng quy định B, khi đó Tòa án sơ thẩm nhận vụ án bị trả hồ sơ sau khi tiến hành thẩm tra không áp dụng quy định B mà lại áp dụng quy định C thì cũng không vi phạm hiệu lực ràng buộc.

* Ngoài ra, đa số ý kiến cho rằng tuy không phải là nhận định phủ định trực tiếp trở thành lý do hủy phán quyết nhưng nhận định trở thành tiền đề lý luận tất yếu trong việc đưa nhận định đó có hiệu lực ràng buộc. Ví dụ, trong trường hợp Tòa chung thẩm đã hủy phán quyết sơ thẩm và trả hồ sơ vụ án với lý do tòa chung thẩm coi việc tồn tại nghĩa vụ của bị cáo là tiền đề, và nhận định của tòa sơ thẩm đối với việc bị cáo không chấp hành nghĩa vụ đã có sai sót, thì khi đó nhận định khẳng định sự tồn tại của nghĩa vụ do tòa chung thẩm đưa ra cũng có hiệu lực ràng buộc.

* Trường hợp tòa án cấp trên đưa ra nhận định khẳng định nhưng tòa án cấp dưới không tuân theo có thể dẫn tới nguy cơ bị lại bị tòa án cấp trên hủy án, vì vậy phần nhận định mang tính chất khẳng định trên thực tế có ảnh hưởng tới việc xét xử của tòa án cấp dưới song nó chỉ là ảnh hưởng trên thực tế, không phải ảnh hưởng theo hiệu lực ràng buộc của phán quyết trả hồ sơ vụ án.

- Phạm vi chủ quan của hiệu lực ràng buộc

+ Tòa án chịu hiệu lực ràng buộc của phán quyết trả hồ sơ vụ án là tòa sơ thẩm nhận hồ sơ vụ án bị trả lại. Hơn nữa, tương tự như vậy tòa án cấp dưới của tòa án nhận hồ sơ vụ án bị trả lại cũng chịu hiệu lực ràng buộc.

+ Hiệu lực ràng buộc đối với tòa án đưa ra phán quyết trả hồ sơ vụ án.

* Tòa án đưa ra phán quyết trả hồ sơ vụ án cũng bị ràng buộc bởi nhận định của chính mình, do đó trong trường hợp phán quyết của cấp phúc thẩm nhận hồ sơ vụ án bị trả lại tiếp tục bị tái kháng cáo, thì cấp chung thẩm sẽ bị ràng buộc bởi nhận định trước đó của chính mình.

* Nếu không công nhận hiệu lực ràng buộc đối với tòa án đưa ra phán quyết trả hồ sơ vụ án, thì cấp chung thẩm có thể hủy phán quyết sơ thẩm mà bị ràng buộc vào phán quyết trả hồ sơ vụ án và sẽ khó khăn hơn trong việc giải quyết dứt điểm tranh chấp.

+ Hiệu lực ràng buộc của phán quyết trả hồ sơ vụ án đối với tòa án cấp trên

* Sau phán quyết trả hồ sơ vụ án của tòa án cấp phúc thẩm, vụ án được chuyển đến tòa sơ thẩm, phúc thẩm rồi tới tòa án chung thẩm. Lúc này vấn đề đặt ra là tòa án chung thẩm có chịu ràng buộc bởi phán quyết trả hồ sơ vụ án của cấp phúc thẩm lần 1 hay không?

* Cũng có ý kiến khẳng định hiệu lực ràng buộc, nhưng phần lớn ý kiến khác coi trọng chức năng thống nhất giải thích pháp lệnh của cấp chung thẩm và phủ định hiệu lực ràng buộc này.

- Phạm vi thời gian của hiệu lực ràng buộc

+ Phán quyết trả hồ sơ vụ án dựa trên cơ sở sự thật đã được tòa sơ thẩm công nhận, và là phán quyết áp dụng pháp lệnh tại thời điểm tòa án cấp trên tuyên án, do đó trong trường hợp sau phán quyết trả hồ sơ vụ án,pháp lệnh thay đổi hoặc công nhận một sự thật khác dựa trên những chứng cứ mới thì phán quyết trả hồ sơ vụ án không có hiệu lực ràng buộc và tòa sơ thẩm nhận hồ sơ vụ án bị trả lại có thể tự do đưa ra nhận định.

+ Tòa án tối cao cũng khẳng định “ Tòa án nhận hồ sơ vụ án án bị trả lại từ Tòa án cấp chung thẩm trong quá trình thẩm tra sau khi trả hồ sơ đối với nhận định về mặt sự thật hoặc về mặt pháp luật mà Tòa án chung thẩm đã đưa ra làm lý do hủy khi xét xử vụ án đó, có chủ trương hoặc chứng cứ mới được đưa ra không làm phát sinh thay đổi trong quan hệ thực tế là cơ sở của nhận định mang tính ràng buộc" (Phán quyết 954923, tuyên án 28.2.1997)

7. Tập hợp, phát hành án lệ của tòa án tại Hàn Quốc

a. Hệ thống đăng ký bản án và hệ thống tra cứu bản án

- Tất cả phán quyết tòa án đưa ra đều được đăng lý vào hệ thống đăng ký bản án. Thẩm phán và nhân viên tòa án tìm kiếm phán quyết đã được đăng ký thông qua hệ thống tra cứu và tham khảo áp dụng vào nghiệp vụ xét xử

- Để bảo vệ thông tin cá nhân, chỉ thẩm phán và nhân viên tòa án mới có thể sử dụng hệ thống tra cứu bản án để tìm kiếm phán quyết, người dùng bên ngoài tòa án không thể sử dụng được.

b. Hệ thống thông tin pháp luật tổng hợp

+ Năm 1998, Hàn Quốc xây dựng hệ thống thông tin pháp luật tổng hợp, cung cấp những thông tin như án lệ, pháp lệnh, những văn bản liên quan tới pháp luật cho nội bộ tòa án qua hệ thống điện tử và bên ngoài thông qua internet.

+ Hệ thống thông tin pháp luật tổng hợp được chia thành thông tin pháp luật tổng hợp chuyên dụng trong nội bộ tòa án và thông tin pháp luật tổng hợp chuyên dụng cho bên ngoài tòa án, thông tin pháp luật tổng hợp chuyên dụng bên ngoài tòa án sẽ có số lượng án lệ ít hơn so với thông tin pháp luật tổng hợp chuyên dụng trong nội bộ tòa án.

+ Địa chỉ trang thông tin pháp luật tổng hợp ngoài tòa án http://glaw.scourt.go.kr

+ Án lệ cung cấp trên hệ thống thông tin pháp luật tổng hợp

Tòa án phán quyết

Phân loại

Đặc điểm

Thông tin pháp luật tổng hợp nội bộ

Thông tin pháp luật tổng hợp bên ngoài

Tòa án tối cao

A

Những phán quyết quan trọng trở thành tiền lệ được tập hợp trong tuyển tập án lệ của tòa án tối cao như phán quyết của hội đồng xét xử lớn

O

O

C

Phán quyết quan trọng có giá trị như một tiền lệ

O

O

D+

Phán quyết liên quan tới pháp lý rất quan trọng hoặc phán quyết đã có xét xử tương tự từ trước.

O

O

D

Những phán quyết được đưa ra rất nhiều lần trong quá khứ

O

X

X

Phán quyếtkhông có ý nghĩa như một tiền lệ và chỉ cần đăng ký lên hệ thống đăng ký phán quyết

X

X

Tòa cấp dưới

H

Phán quyết được ghi trong tập phán quyết của cấp sơ thẩm

O

O

H2

Phán quyết được ghi trong công bố của tòa án các cấp

O

O

W

Phán quyết sơ thẩm của phán quyết loại A và C

(những phán quyết không được ẩn danh)

O

X

W2

Phán quyết sơ thẩm của phán quyết loại A và C

(những phán quyết không được ẩn danh)

O

O

W4

Phán quyết loại D trong số phán quyết của tòa án các cấp

O

X

Tòa xét xử Hiến pháp

J1

Quyết định của Tòa xét xử Hiến pháp

O

X

c. Kho lưu trữ luật LX

- Từ năm 1997, các thông tin như án lệ, văn bản liên quan đến pháp luật, quy tắc của Toà án tối cao đã được đưa vào CD (kể từ năm 2004 là DVD) lưu hành nội bộ tòa án và bán ra bên ngoài.

- Có thể tìm kiếm án lệ ngay cả trong trường hợp không thể sử dụng hệ thống thông tin pháp luật tổng hợp do khó khăn trong việc kết nối internet.

- Án lệ được lưu giữ trong kho lưu trữ luật LX giống với thông tin pháp luật tổng hợp bên ngoài tòa án, và có thể cập nhật thông tin án lệ thông qua internet.

d. Công bố án lệ

- 1 tháng 2 lần, ngày mồng 1 và 15 hàng tháng, lựa chọn phán quyết chính (loại A, loại C) trong số những phán quyết Tòa án tối cao đưa ra để phát hành thành sách công bố án lệ. Trong một cuốn sách công bố án lệ có khoảng 20 án lệ của Tòa án tối cao.

- Ngoài toàn văn án lệ, còn có [nội dung xét xử] tập hợp những điểm tranh luận của án lệ, [nội dung chính của phán quyết] tóm lược những phần chính của án lệ, [điều khoản tham khảo] là những pháp lệnh liên quan tới án lệ.

- Phát sách công bố án lệ trong và ngoài tòa án, đồng thời đăng tải file công bố án lệ lên hệ thống điện tử nội bộ cũng như trang web (https://library.scourt.go.kr) của thư viện tòa án để người dùng bên ngoài tòa án cũng có thể sử dụng được.

- Quy trình phát hành công bố án lệ

+ Khi phán quyết của Tòa án tối cao được tuyên bố, phòng nghiên cứu xét xử viên sẽ gửi tài liệu cần thiết cho việc phát hành công bố án lệ (bản án, lý do kháng cáo, các văn bản ghi nội dung xét xử, nội dung chính của phán quyết, các điều luật tham khảo) đến thư viện tòa án.

+ Phòng nghiên cứu xét xử viên, khi gửi tài liệu công bố án lệ tới thư viện tòa án, sẽ ghi chú biểu thị loại án lệ (A, C, D+, D, X…)

+ Thẩm định viên điều tra (thẩm phán) làm việc tại thư viện tòa án kiểm tra xem việc phân loại án lệ có phù hợp hay không

+ Ủy viên điều tra công tác tại thư viện tòa án (chủ yếu là những người đã có học vị tiến sỹ luật học) tiến hành lập, soạn bản thảo công bố án lệ ghi chép những nội dung xét xử, nội dung chính của phán quyết, nội dung tham khảo đối với án lệ đã được phân loại theo cấp từ A đến C.

+ Thẩm định viên điều tra tiến hành kiểm tra và chỉnh sửa bản thảo công bố án lệ

+ Bản thảo công bố án lệ do Thẩm định viên điều tra chỉnh sửa sẽ được giao cho nhân viên phụ trách hiệu đính để tiến hành công việc hiệu đính.

+ Thẩm định viên điều tra chuyển đổi tên họ của đương sự ghi trên bản thảo đã chỉnh sửa thành ẩn danh (ví dụ: bị cáo Na Yoon Mi sẽ được sửa thành bị cáo A)

+ Thẩm định viên điều tra sẽ kiểm tra chéo bản thảo công bố án lệ do những Thẩm định viên điều tra khác lập, cùng nhau thảo luận xem nội dung xét xử đã phù hợp hay chưa và hoàn thiện bản thảo công bố án lệ

+ Giám đốc Thư viện Tòa án sau khi kiểm tra lần cuối sẽ tiến hành phê duyệt bản thảo công bố phán quyết.

- Những phán quyết tập hợp trong công bố án lệ sẽ được cung cấp trên hệ thống thông tin pháp luật tổng hợp trong và ngoài tòa án, kho lưu trữ luật LX

e. Công bố phán quyết của tòa án các cấp (sơ thẩm, phúc thẩm).

- Mỗi tháng 1 lần, vào ngày 10, thư viện tòa án sẽ tiến hành lựa chọn những phán quyết chính trong số những phán quyết do tòa án sơ thẩm, phúc thẩm trên toàn quốc tuyên án và phát hành thành sách công bố phán quyết của tòa án các cấp(sơ thẩm, phúc thẩm) Trung bình 1 cuốn sách công bố phán quyết của tòa án các cấp sẽ có khoảng 15 án lệ.

- Thư viện tòa án hành lựa chọn lại các phán quyết chính do Tòa án sơ thẩm, phúc thẩm trên cả nước tiến đăng tải trên trang web của mình và phát hành công bố phán quyết của tòa án các cấp.

- Trình tự xuất bản cũng giống như khi công bố án lệ

f. Tập án lệ Tòa án tối cao

- Kể từ năm 1956, tiến hành xuất bản liên tục mỗi năm 1 hoặc 2 lần án lệ chính do hội đồng thẩm tra án lệ của Tòa án tối cao tuyển chọn.

- Tập hợp các nội dung như: toàn văn án lệ, nội dung xét xử, nội dung chính của phán quyết, điều khoản tham khảo, lý do kháng cáo, phán quyết sơ thẩm và phúc thẩm

- Trong 1 cuốn có khoảng 30 án lệ

g. Phân tích án lệ của Tòa án tối cao

- Từ năm 1986 tiến hành soạn thảo, tổng hợp và phát hành luận văn phân tích phán quyết chính của Tòa án tối cao 2 lần/ năm.

Hàng năm có khoảng 140 luận văn được công bố.

h. Tập án lệ tiếng Anh và Tập án lệ tiếng Trung

- Dịch và phát hành án lệ chính của Tòa án tối cao bằng tiếng Anh và tiếng Trung

- Tập án lệ tiếng Anh được phát hành từ năm 2004, đến nay đã phát hành được 10 cuốn, và tập án lệ tiếng Trung được phát hành từ năm 2009, đến nay đã phát hành được 6 cuốn.

Hải Đăng Bài viết này Gửi bài Các tin khác Huỷ quyết định hành chính cá biệt trong pháp luật Anh Quốc: Một số vấn đề lý luận và quy định (Phần I) 23/07/2015 Kỳ 1: Cơ cấu tổ chức và thực tiễn xét xử của Tòa án Gia đình Hàn Quốc 06/07/2015 Tranh chấp nhãn hiệu X-MEN và một số vấn đề pháp lý đáng lưu ý 29/06/2015 Phân tích quyền tài phán của quốc gia ven biển tại các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia và thực tiễn quy định của Việt Nam (Phần 2) 11/06/2015 Phân tích quyền tài phán của quốc gia ven biển tại các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia và thực tiễn quy định của Việt Nam (Phần 1) 11/06/2015 Chế tài pháp lý đối với hành vi làm lộ bí mật thông tin cá nhân của chủ thuê bao và quảng cáo trái phép qua thư điện tử, tin nhắn điện tử 19/05/2015 Chế tài pháp lý đối với hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử 05/05/2015 Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng xét hỏi và những vướng mắc bất cập trong thực tiễn 15/04/2015 Một số điểm mới của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 10/04/2015
Thông báo Công văn số: 1043/HVTA-QLĐT V/v triệu tập học viên Khóa 12.5 - Đào tạo nghiệp vụ xét xử (23/12/2025) Công văn số: 1042/HVTA-QLĐT V/v triệu tập học viên Khóa 12.4 - Đào tạo nghiệp vụ xét xử (23/12/2025) Công văn số: 1044/HVTA-QLĐT V/v triệu tập học viên Khóa 12.2 - Đào tạo nghiệp vụ xét xử (23/12/2025) Thông báo số: 1036/TB-HVTA V/v tổ chức Lễ khai giảng Khóa 12.2, Khóa 12.4 và Khóa 12.5 Đào tạo nghiệp vụ xét xử (20/12/2025) Công văn số: 995/HVTA-KBDCCVCTA V/v triệu tập học viên tham gia khoá bồi dưỡng nghiệp vụ xét xử án Lao động, Hôn nhân & Gia đình tại miền Nam (18/12/2025)
Hình ảnh hoạt động
GIÁO TRÌNH TÀI LIỆU MỚI Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam Hướng dẫn chi tiết thi hành Luật thi đua khen thưởng... Bình luận Bộ luật hình sự năm 2015 phần thứ hai... Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự...
Tin video
Ý kiến góp ý Họ và tên: Địa chỉ mail của bạn: Tiêu đề: Chọn file:
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌC VIỆN TÒA ÁN Địa chỉ : Đường 282 Kim Sơn, Gia Lâm, Hà Nội. Điện thoại: 0432.693.693 - Fax : 0432.693.693 Email: [email protected] Trưởng Ban biên tập: Giám đốc Học viện Tòa án Ghi rõ nguồn Trang thông tin điện tử Học viện Tòa án (www.hocvientoaan.edu.vn) khi trích dẫn

Từ khóa » Hệ Thống Dân Luật Là Gì