Làm Vợ Giang Hồ

Làm vợ giang hồ

03/06/2008

Chuyện tướng cướp Đức Tân cờ bạc, nghiện ngập, vào tù ra tội... mà cuối cùng vẫn hoàn lương, còn viết được cuốn truyện thơ “Giang hồ rẽ lối” nhiều người đã biết. Nguyên nhân sâu xa và động lực chính của hành động đẹp đẽ ấy theo tổng kết của Đức Tân chính là người vợ “bình thường” Ngô Thị Tuyết.

Mở đầu cho một chuỗi tai họa  

Chị Tuyết lấy Đức Tân (tên thật là Nguyễn Tích Đức) khi chưa đầy 20 tuổi. Cuộc sống êm ấm nhất với chị khi ấy là cảnh hai vợ chồng người đi làm xây dựng, người chạy chợ bán cà chua, đậu phụ và ngày ngày tích cóp cho đủ số tiền để đón đứa con đầu lòng.

Hạnh phúc kéo dài không lâu, đến giờ chị vẫn nhớ như in nỗi sợ hãi đến “rụng rời” khi nghe tin chồng bị tạm giam vì tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa. Giữa buổi chợ đông, chị sụp nón che kín mặt như chính mình là người mắc tội rồi bươn bả về nhà. Ngồi ru rú trong xó buồng khóc đến khi hai con mắt đỏ mọng lên mà hoàn toàn không biết giúp chồng bằng cách nào. Việc ấy quá sức với một cô gái 20 tuổi.

Cũng may, toà xử anh Tân được hưởng án treo. Dù sao, vào thời điểm năm 1974, chuyện một người bị “tù hụt” cũng lừng lẫy cả làng. Tưởng là sau vụ ấy vợ chồng yên tâm chí thú làm ăn, nhưng anh lại gây hấn với những người cùng đội sản xuất và đùng đùng xin nghỉ việc đòi lên ngược đi buôn. Bước chân ra khỏi Hà Nội, lại có tiền trong tay, Tân quan hệ thân thiết với một cô bạn đường xa. Mối tình bí mật ấy kéo dài không lâu thì đến tai chị Tuyết.

Thân gái dặm trường, chị lặn lội lên tận đất Lạng Sơn “lôi” chồng về. Cái đêm miền núi gió bấc lạnh căm căm ấy chị ăn trọn một cái tát bật máu môi vì dám làm mất mặt chồng. Kéo được anh về nhà, nhưng cái máu giang hồ phóng đãng trót ngấm vào anh, chị không kiểm soát được. Ở nhà dăm bữa nửa tháng, anh lại thu xếp vào miền Trung buôn tre nứa. Lần này chị Tuyết nhất định đòi đi cùng để vợ chồng đỡ đần nhau nơi đất khách quê người. Biết vợ theo để giữ mình nhưng Tân vẫn lén lút trốn vợ đi đánh bạc, hút xách. Tha thứ cho cả người tình của chồng

Chị Tuyết có thai, phải về nhà sinh nở. Thời gian này Đức Tân lại quan hệ sâu nặng với một cô gái quê ở Vinh. Lấy cớ rủ cô ra Hà Nội chơi, hai người ăn ở như vợ chồng trên bè nứa. Chị Tuyết biết chuyện lại tất tả tìm chồng.Nhìn thấy vợ đứng trên bờ, mặt không đằng đằng sát khí mà chỉ rầu rầu, mệt mỏi, Tân không khỏi chạnh lòng. Cả anh và cô gái kia đều nơm nớp không biết Tuyết sẽ “xử” như thế nào. Chị vào bè, chỉ hỏi cô kia rằng: “Em muốn ra Hà Nội phải không? thế thì đi cùng anh chị”. Đến nơi chị dẫn cô về nhà cho biết gia cảnh, tiếp đãi cô chu đáo, thành thực khuyên cô nên đi tìm hạnh phúc chính đáng của mình. Cô vừa cảm động vừa xấu hổ hứa là sẽ rời xa Tân vĩnh viễn. Chị Tuyết lại thu xếp tiền bạc để cô về quê an toàn. Sau lần ấy, mỗi lần Tân vào Vinh buôn chuyến, muốn tìm gặp người xưa nhưng cô đều tránh.

Lấy cớ cuộc sống tẻ nhạt, Tân quay sang đánh bạc triền miên. Một mình chị Tuyết phải làm lụng vất vả để nuôi con, nuôi chồng và phụng dưỡng bố mẹ chồng. Hai bàn tay chị chai sần vì làm lụng vất vả, người tóp lại không còn sinh khí nhưng vẫn không hé răng kêu ca một lời. Tân say bạc đến mức trong nhà chỉ còn mấy cân gạo cũng xúc đem trả nợ. Hết thứ bán được, anh dỡ cả mái ngói ngôi nhà ba gian để bàn thờ ông bà phơi nắng phơi sương. Trong nhà không ai dám nói nặng đến anh.

Có lúc, lên cơn nghiện, Tân lừa cả người thân, bạn hữu để lấy tiền hút thuốc phiện. Nhiều người khuyên chị Tuyết bỏ Tân cho yên thân, Tuyết chỉ cười trong nước mắt: đấy là cái số của em, không bỏ được. Không bỏ chồng trong những lúc khó khăn nhất

Bí tiền để hút, Tân đánh liều đi cướp tàu. Ảnh truy nã dán khắp nơi. Hai cái án treo cộng lại, lúc ấy Tân bị kết “án ngồi”. Không còn con đường nào khác, Tân quyết định “bốc” cả vợ con vào Nam để làm lại cuộc đời. Sự nhẫn nại và thuỷ chung của Tuyết đã làm thức tỉnh phần “người” trong anh. Cả làng tẩy chay Tân, những người thân cũng chừa mặt anh ra.

Chỉ còn Tuyết là vẫn tử tế, ân cần với anh, là không bỏ anh trong những lúc anh tàn tạ nhất. Vào Nam, hai vợ chồng dựng tạm một nếp nhà lá, hàng ngày Tân đi đạp xe lôi, Tuyết bán tàu hũ, cả gia đình 5 người đùm đúm nhau qua ngày. Được một thời gian, thấy tình hình yên yên, Tân muốn quay ra Bắc nghe ngóng xem thực hư thế nào. Chỉ định ở nhà 2, 3 ngày rồi lại vào với mẹ con nó, không ngờ mải chơi Tân ở lỳ ngoài Bắc đến 4 tháng và cũng chẳng tin tức gì cho gia đình. Hết tiền, ngứa nghề, lần này Tân bị bắt vì tội trộm cắp và giam ở Hoả Lò.

Ngồi sau bốn bức xà lim tay giang hồ rách giời rơi xuống mới kịp ân hận: thế là mất hết, cả vợ, cả con, cả cuộc sống bình thường.

Anh nghĩ có thể Tuyết chờ đợi không được đã lấy chồng trong Nam chứ chị không đủ tài để đưa ba đứa con về Bắc vì tiền bạc lúc đi Tân đã lấy đến đồng cuối cùng. Thế mà, một buổi sáng ngồi co ro giữa đám bạn tù, Tân nhận được một cái làn tiếp tế đề tên Ngô Thị Tuyết. Anh cảm động đến trào nước mắt, nghĩ rằng sau lần này Tuyết muốn anh làm thân trâu ngựa thế nào cũng đành.

Lúc toà xử, Tân phải chịu án 8 năm 10 tháng và cải tạo ở trại Phú Sơn. Chị Tuyết tay trắng từ miền Nam dẫn ba con ra lại bắt đầu làm thuê kiếm mướn để duy trì một gia đình. Tháng một lần chị dành dụm tiền bạc lên thăm nom, động viên anh. Nhìn hai mẹ con gầy xác xơ, bán mặt cho đất bán lưng cho trời mới có tiền tiếp tế cho chồng, Tân khóc thầm không biết bao lần. Anh quyết tâm cai nghiện và cải tạo tốt. Cuối cùng, thời gian cải tạo của Đức Tân chỉ dừng lại ở con số hơn 4 năm. Cuộc sống hồi sinh  

Tân về làng, như một con người khác. Thấy vợ con đã dành dụm dựng được một nếp nhà xinh xắn, anh lẩn thẩn vào ra đến mấy ngày liền vì cảm động. Nhớ thời gian “bán giời không văn tự” mấy cái nhà như thế này đã bị anh ném không thương tiếc vào canh bạc đỏ đen, vào bàn đèn thuốc phiện. Chị Tuyết mở quán bán hàng quà đêm cho những người buôn rau. Anh Tân tối tối ra giúp vợ và giúp luôn cả những bà con thấp cổ bé họng bị bọn đầu gấu trấn áp đòi tiền cống nạp. Một thời gian dài, dưới sự giúp đỡ của Tân, nạn đầu gấu, xin đểu ở vùng gần ngã ba Ngọc Hồi – Hà Tây đỡ hẳn. Cái quán nhỏ của vợ chồng anh thành một địa chỉ tin cậy mà hễ có chuyện bất trắc gì lại có người vào gọi: anh Tân, chị Tuyết ơi!

Cuộc sống trở lại bình thường. Trước sau, chị Tuyết vẫn đối xử với chồng đúng mực và tạo mọi điều kiện để anh có thể sống tự nhiên, không mặc cảm. Chị lấy cách cư xử của mình để làm gương cho các con. Sợ anh mệt, chị khuyên anh ở nhà nghỉ ngơi, tham gia vào các sinh hoạt xã hội cho vui vẻ. Thấy vợ con không xẩu hổ và dường như đã quên hẳn quá khứ lỗi lầm của mình, anh cũng tự tin hơn. Dần dần anh đã dám nói thẳng, nói thật về những “cái án” đã qua để làm bài học cho lớp thanh niên mới lớn.

Ngồi sắp xếp lại đống thư từ gửi chị Tuyết hồi còn trong trại Phú Sơn, anh Tân rụt rè làm thành cuốn “Giang hồ rẽ lối” và cũng không ngờ nó lại thành công. Có tới hàng nghìn bạn đọc từ khắp nơi trên đất nước chia sẻ với anh qua những lá thư. “Giang hồ rẽ lối” tái bản đến lần thứ hai. Để có tiền mua sách tặng bạn đọc, anh phải bán cả cái Deam II Thái. “Nếu không có vợ thì có lẽ đời tôi đã chấm dứt rồi”. Câu nói thành thật ấy mỗi lúc anh Tân nói ra lại làm chị Tuyết đỏ mặt. “Mình là vợ chồng với nhau, lúc hoạn nạn mà bỏ nhau thì thành ra cái gì?”. Bí quyết của vợ một tướng cướp hoàn lương lẽ nào chỉ giản dị chừng ấy?

Theo Pháp luật & Xã hội

Từ khóa » Giang Hồ Rẽ Lối