LẬP BẢNG HỎI VÀ CHỌN MẪU - Tp

NGUỒN: http://sotaynghiencuusinhvien.blogspot.com/

THIẾT KẾ BẢNG HỎI

  1. Cấu trúc của một bảng hỏi

Bảng hỏi là một công cụ dung để thu thập thông tin trong quá trình nghiên cứu đề tài khoa học. Cấu trúc chính của bảng hỏi gồm có 3 phần cơ bản như sau:

– Phần giới thiệu: giới thiệu mục đích, yêu cầu của việc nghiên cứu; việc bảo mật thông tin, địa chỉ liên hệ của người/nhóm nghiên cứu.

– Nội dung chính: các câu hỏi liên quan đến thông tin cần thu thập (Bắt đầu bằng những phần ít nhạy cảm và dễ trả lời nhất. Có thể chen những câu hỏi mở ở giữa)

– Thông tin nhân khẩu học (thông tin về cá nhân người trả lời): tuổi, giới tính, trình độ học vấn, lĩnh vực công tác,…

– Lưu ý: Kết thúc bảng hỏi cần có lời cám ơn.

  1. Các bước cơ bản trong thiết kế bảng hỏi

– Xác định cần những thông tin nào? Tiến hành phỏng vấn sâu nếu cần.

– Xác định các nhân tố chủ chốt của thông tin.

– Đặt câu hỏi mới/ chỉnh sửa các câu hỏi sẵn.

– Xắp xếp thứ tự các câu hỏi/nhóm các câu hỏi liên quan.

– Trình bày bố cục bảng hỏi.

– Đọc phản biện độc lập

– Hỏi thử bảng hỏi một vài lần với đồng nghiệp/người hoàn toàn không liên quan (họ hàng, bạn bè).

– Tự chỉnh sửa bảng hỏi.

– Điều tra thử (mẫu 20-50) với cách chọn mẫu tương đương cách chọn mẫu trong thực tế.

– Loại bỏ các câu không thu được thông tin, các câu không phân biệt được thông tin trả lời.

– Chỉnh sửa lại toàn bộ bảng hỏi.

– Kiểm tra thử lần thứ 2 nếu cần (nội dung có sửa nhiều).

  1. Các dạng (hình thức) của câu hỏi và thang đo

3.1. Câu hỏi mở

– Ưu điểm: Dễ trình bày, khuyến khích người trả lời trình bày quan điểm dựa trên ngôn ngữ phù hợp với quan điểm của mình, giúp người nghiên cứu thu được thông tin mang tính chiều sâu.

– Nhược điểm: Gây khó khăn cho thu thập và phân tích số liệu, tăng chi phí về tiền và thời gian, buộc người trả lời phải suy nghĩ và kiên nhẫn.

– Khó khăn khi sử dụng câu hỏi mở: Mất nhiều thời gian, phụ thuộc vào sự nhiệt tình của người trả lời. Nếu câu trả lời tối nghĩa sẽ khó thu thập thông tin.

– Dạng câu hỏi này thường để dung cho phần hỏi về hiểu biết, tuổi tác, nơi ở, địa chỉ làm việc trong bảng hỏi hoặc dùng trong trường hợp khảo sát qua điện thoại, phỏng vấn.

– Thang đo được sử dụng cho loại câu hỏi mở: Open-ended: người trả lời tự điền câu trả lời, không bị bó buộc theo các phương án sẵn có.

3.2. Câu hỏi đóng

Câu hỏi đóng là câu hỏi đã được xây dựng các phương án trả lời và người trả lời chỉ việc lựa chọn một hoặc nhiều phương án phù hợp.

– Ưu điểm: thuận lợi cho việc thu thập và phân tích số liệu, giảm chi phí, thời gian.

– Hạn chế: khi xây dựng các phương án trả lời, người nghiên cứu chỉ có thể đưa ra được những phương án trả lời theo quan điểm của mình, không thể thu thập được những phương án trả lời khác của người trả lời.

– Các thang đo thường được sử dụng trong loại câu hỏi đóng:

+ Thang Likert (do Rensis Likert phát triển) : là thang đo cho điểm mà có thể cộng điểm được. Thang đo này bao gồm 1 phát biểu thể hiện 1 thái độ ưa thích/không ưa thích, tốt/xấu về 1 đối tượng. Người tham dự được hỏi để trả lời đồng ý/không đồng ý với từng câu phát biểu. Mỗi trả lời được cho 1 điểm phản ánh mức độ ưa thích, và các điểm số có thể tổng hợp được để đo lường thái độ chung của người tham dự. Thang đo Likert có thể là 5, 7 hoặc 9 điểm. Ví dụ cho phần trả lời của thang 5 điểm: (1) Hoàntoàn không đồng ý; (2) Không đồng ý; (3) Không có ý kiến; (4) Đồng ý; (5) Hoàn toàn đồng ý”.

+ Choice-one answers: các phương án trả lời có sự loại trừ nhau.

+ Choice-multiple answers: các phương án trả lời không loại trừ nhau và người trả lời có thể lựa chọn nhiều phương án.

+ Thang định danh: các câu hỏi về tên và địa chỉ.

+ Yes/no: người trả lời chỉ có hai phương án cho câu hỏi.

  1. Các loại câu hỏi thường gặp khi lập một bảng hỏi

4.1. Câu hỏi liên quan đến kiến thức

– Câu hỏi liên quan đến kiến thức được sử dụng để đánh giá, tìm hiểu nhận thức của cộng đồng về một vấn đề hay về một cá nhân nào đó, hoặc để đo năng lực hay thu thập các thông tin chung khác.

– Hình thức được sử dụng cho loại câu hỏi này nên là câu hỏi mở.

– Lưu ý: không nên để người trả lời tự quản lý phiếu nhằm tránh trường hợp được hỗ trợ trả lời.

4.2. Câu hỏi về hành vi

– Câu hỏi về hành vi là loại câu hỏi dùng để đánh giá hành vi, hỏi về ý định, khả năng thực hiện hành vi; đo thực trạng và mức độ thường xuyên của hành vi.

– Hình thức được sử dụng cho loại câu hỏi này chủ yếu là câu hỏi đóng với thang đo Likert hoặc Yes/no.

– Ví dụ: Anh/chị có kiểm tra bài học của con mình không?

(1). Hằng ngày;                       (2). Hầu hết các ngày;                     (3). Thỉnh thoảng;

(4). Ít khi;                                 (5). Rất ít khi.

4.3. Câu hỏi về thái độ

– Câu hỏi về hành vi là loại câu hỏi dùng để đánh giá về thái độ, quan điểm, cảm nhận của người trả lời.

– Hình thức được sử dụng cho loại câu hỏi này chủ yếu là câu hỏi đóng với thang đo Likert.

– Ví dụ: Anh/Chị thích đọc sách hơn làm một số hoạt động khác.

(1) Hoàn toàn đồng ý;         (2) Đồng ý;                (3) Bình thường;

(4) Không đồng ý;                (5) Hoàn toàn không đồng ý.

4.4. Một số câu hỏi về nhân khẩu học điển hình

Câu hỏi nhân khẩu học là loại câu hỏi dùng để thu thập thông tin về: Thành phần và quy mô gia đình, Tuổi và giới tính, Tình trạng hôn nhân, Trình độ học vấn, Tông giáo, Nghề nghiệp, Thu nhập, Cư trú,…

– Hình thức được sử dụng cho loại câu hỏi này là câu hỏi mở và câu hỏi đóng với thang đo Open-ended và thang đo định danh.

4.5. Câu hỏi lọc

– Là những câu hỏi có chức năng phân chia những người trả lời câu hỏi thành các nhóm khác nhau, để sau đó có những câu hỏi dành riêng cho từng nhóm phù hợp với nội dung cuộc nghiên cứu tránh sự dịch chuyển của các kết quả nghiên cứu.

– Ví dụ:

Câu 12: Bạn hãy cho biết chỗ bạn ở hiện nay?

  1. Ở nhà riêng □ (1)
  2. Ở nhà người quen □ (2)
  3. Ở nhà trọ □ (3)
  4. Ở ký túc xá □ (4)

+ Nếu bạn ở nhà riêng xin trả lời các câu hỏi sau từ 13 -16.

+ Nếu bạn ở nhà người quen xin trả lời các câu hỏi từ 17-20.

+ Còn lại, bạn trả lời từ 21- 24.

  1. Những nguyên tắc cần lưu ý khi lập bảng hỏi

5.1. Một số nguyên tắc chung

– Hỏi những gì bạn muốn hỏi (các câu hỏi phải đảm bảo cung cấp thông tin cần thu thập). Tuy nhiên, các câu hỏi không nhất thiết hỏi thẳng vào thông tin cần thu thập.

– Hiểu tâm lý người được phỏng vấn và hoàn cảnh phỏng vấn. Luôn coi người trả lời là một người tham gia trò chuyện một cách tình nguyện. Quan tâm đến quyền riêng tư của người trả lời.

– Đảm bảo rằng người tham gia trả lời trong các cuộc điều tra được thông tin đầy đủ những gì họ được hỏi và thông tin của họ được sử dụng như thế nào.

– Đảm bảo tính khuyết danh của câu trả lời. Vấn đề này được giải quyết sẽ giải quyết một loạt các vấn đề nêu trên như: quyền cá nhân, sự đồng thuận hay sự tin tưởng của người trả lời.

– Cung cấp cho người trả lời toàn bộ các thông tin về mục đích nghiên cứu, nội dung bảng hỏi và trả lời bất kỳ câu hỏi nào về nguồn tài trợ hay việc sử dụng số liệu. Cần phải nhắc tới cả mức độ bảo mật của thông tin.

5.2. Một số lưu ý khác

Từ ngữ phải chính xác: một thay đổi nhỏ cũng sẽ tạo ra sự khác biệt lớn. Tính chất của từ ngữ ảnh hưởng tới câu trả lời. Câu hỏi càng cụ thể càng ảnh hưởng tới câu trả lời của người trả lời.

Đối với những câu hỏi mang tính đe dọa:

– Câu hỏi mang tính đe dọa là câu hỏi về một số vấn đề mà người trả lời cảm thấy bị nguy hiểm khi trả lời câu hỏi. Phần lớn câu hỏi liên quan đến các vấn đề bị tác động bởi “social desirability” (kỳ vọng xã hội). Một số chủ đề nhạy cảm: Sức khỏe, bệnh tật, đọc sách, làm từ thiện, bầu cử, hành vi vi phạm luật giao thông, sử dụng ma túy trái phép, uống rượu và hành vi tình dục.

– Đối với những câu hỏi nhạy cảm, có tính đe dọa nên được lồng ghép và che lấp để “hòa loãng” trong những câu hỏi thuộc chủ đề bình thường để tạo cho người trả lời cảm giác an toàn khi trả lời.

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Phát triển (DEPOCEN) và một số tài liệu tham khảo khác.

CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU

  1. Phương  pháp chọn mẫu không ngẫu nhiên

Xác suất được lựa chọn của mỗi đơn vị mẫu là không biết. Phương pháp này rẻ hơn tuy nhiên không có khả năng khái quát, và dễ bị thiên lệch.

  1. Chọn mẫu thuận tiện: Một mẫu thuận tiện được sử dụng là khi bạn dừng bất kỳ một ai đó ở góc phố, hay khi bạn đi quanh những trung tâm thương mại, những cửa hiệu, nhà hàng và hỏi bất kỳ ai mà bạn gặp và họ sẽ trả lời những câu hỏi của bạn. Nói theo một cách khác, mẫu này là những người mang lại sự thuận tiện cho nhà nghiên cứu. Nhưng nó không có tính ngẫu nhiên và có sự sai lệch có nhiều khả năng xảy ra.
  2. Chọn mẫu có chủ định: Chọn mẫu có chủ định là cách lựa chọn dựa trên cảm cảm quan của nhà nghiên cứu. Nhà nghiên cứu cố gắng có được mẫu mà nó đại diện cho tổng thể và cố gắng đảm bảo rằng nó bao trùm được tất cả các trường hợp.
  3. Chọn  mẫu tự nguyện: Người trả lời quyết định rằng họ muốn và đăng ký tham gia vào nghiên cứu của bạn.
  4. Chọn mẫu chuyên gia: Mẫu được lựa chọn là những người có kinh nghiệm hay là chuyên gia trong một số lĩnh vực. Thông thường, chúng ta mời tham dự dựa trên sự bảo trợ của nhóm chuyên gia.
  5. Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản
  6. Nguyên tắc:

Cơ hội lựa chọn/xác suất được lựa chọn của các đơn vị là ngang nhau.

  1. Quy trình:

Xác định tổng thể mẫu.

Cần danh sách của tất cả các đơn vị mẫu(khung lấy mẫu)

Số lượng các đơn vị (cỡ mẫu).

Chọn ngẫu nhiên các đơn vị trong khung lấy mẫu.

  1. Ưu điểm và nhược điểm

Ưu điểm: Đơn giản. Sai số chọn mẫu dễ dàng đo được.

Hạn chế: Cần danh sách đầy đủ tất cả các đơn vị. Không phải luôn luôn có được tính đại diện tốt nhất. Các đơn vị có thể bị phân tán và khó tiếp cận.

  1. Ví dụ:

Khảo sát thực trạng hiểu biết về luật giao thông đường bộ trong 1000 học sinh phổng thông trung học .

Dánh sách 1000 học sinh tại trường phổ thông trung học.

Học sinh được sắp xếp từ 1 đến 1000.

Cỡ mẫu là 100 học sinh.

Chọn ngẫu nhiên ra 100 học sinh từ học sinh thứ 1 đến thứ 1000.

  1. Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
  2. Nguyên tắc:

Mẫu được lựa chọn theo bước nhảy dựa trên tỷ lệ mẫu.

b.Ưu điểm và hạn chế:

Ưu điểm: Đơn giản; Dễ dàng đo được sai số.

Hạn chế: Cần danh sách đầy đủ tất cả các đơn vị của tổng thể. Theo chu trình.

  1. Ví dụ:

N= 1200        n= 60

Tỷ lệ lấy mẫu: N/n = 1200/60 = 20

Lấy danh sách của 1200 đơn vị.

Lựa chọn ngẫu nhiên bất kỳ một số trong 20 số đầu (ví dụ là số 5).

Cách 20 người nữa lại chọn người tiếp theo.

Người thứ 1: đứng thứ 5.

Người thứ 2: đứng thứ 25.

Người thứ 3: đứng thứ 45.

….

  1. Chọn mẫu tầng
  2. Nguyên tắc:

Chia các đơn vị trong tổng thể mẫu thành các nhóm nhỏ đống nhất(các tầng).

Chọn mẫu ngẫu nhiên từ mỗi tầng.

  1. Ví dụ về các tầng:

Theo địa lý: các vùng của đất nước (Bắc, Trung, Nam, 7 vùng kinh tế)

Vùng nông thôn/thành thị hay nội thành và ngoại thành.

Tôn giáo/sắc tộc.

Tuổi.

Địa vị xã hội (cao/thấp).

Tổ chức lợi nhuận và phi lợi nhuận.

  1. Ưu điểm và hạn chế:

Ưu điểm:

– Có thể có được thông tin về toàn bộ tổng thể và thông tin về mỗi tầng.

– Độ chính xác được tăng lên nếu như sự biến đổi trong mỗi tầng là ít (hay là nó đồng nhất) hơn so với giữa các tầng với nhau.

Hạn chế:

– Có thể sẽ khó xác định các tầng

– Sẽ giảm độ chính xác nếu các đơn vị trong mỗi tầng nhỏ.

  1. Tại sao chọn mẫu tầng?.

Tăng hiệu quả của chọn mẫu: tăng tính chính xác của việc ước tính, làm giảm sai số…

Tránh được những khó khăn của chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản hay hệ thống đó là vấn đề về danh sách khung lấy mẫu…

Bằng việc tạo ra những phần tầng rõ ràng, cụ thể chính xác chúng ta có thể chắc chắn  những nhóm nhỏ hơn có cỡ mẫu đủ để phân tích.chúng ta còn có thể so sánh giữa các tầng, kiểm soát được độ chính xác ở mỗi tầng.

Nó có thể sẽ thuận tiện hơn cho người quản lý (ngoài ra còn rẻ hơn).

– Ví dụ: thực hiện khảo sát qua thư đối với cha mẹ học sinh và phỏng vấn đối với học sinh.

Chọn mẫu phân tầng cho phép sử dụng các thiết kế mẫu khác nhau cho sự phân chia khác nhau của tổng thể.

  1. Phân loại chọn mẫu tầng

Chọn mẫu tầng tương xứng:

– Nếu tỷ lệ chọn mẫu chung được sử dụng cho mỗi phân tầng.

– Gần như luôn luôn đứng đầu trong việc làm tăng độ chính xác của điều tra.

Chọn mẫu tầng không tương xứng:

– Nếu tỷ lệ chọn mẫu không giống nhau ở mỗi phân tầng.

– Thỉnh thoảng làm tăng lên độ chính xác những thình thoảng lại giảm độ chính xác.

– Cần sử dụng trọng số để đạt được sự ước lượng không bị thiên lệch.

Chú ý sự khác biệt giữa phân tầng các biến và các tầng:

– Phân tầng các biến: giới tính, địa vị kinh tế- xã hội, tỉnh, vùng…

– Các tầng: Sự kết hợp giữa nhiều biến.

  1. Ví dụ:

– Nam + địa vị kinh tế cao + ở miền Bắc là một tầng.

– Nam + địa vị kinh tế cao + ở miền Nam là một tầng.

Ví dụ về chọn mẫu các tỉnh để điều tra trong nghiên cứu kỳ gốc của dự án TAMP- GDT với 2 biến:

  1. Vùng: Bắc/trung/nam
  2. Đóng góp thuế và NSNN: cao/trung bình/thấp —> bao nhiêu phân tầng?.
Tầng Vùng Mức đóng thuế
1 Bắc Cao
2 Bắc Trung bình
3 Bắc Thấp
4 Trung Cao
5 Trung Trung bình
6 Trung Thấp
7 Nam Cao
8 Nam Trung Bình
9 Nam Thấp

Nguồn tham của tài liệu: Trung Tâm Thông tin và phân tích dữ liệu Việt Nam (VIDAC).

PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CỠ MẪU

  1. Tại sao phải tính cỡ mẫu?.

Một câu hỏi luôn đặt ra với nhà nghiên cứu là cần phải điều tra bao nhiêu đơn vị mẫu để nó đại diện và có thể suy rộng cho tổng thể, để phân tích có ý nghĩa và kết quả nghiên cứu có giá trị về mặt khoa học?

  1. Làm thế nào để xác định cỡ mẫu?

Một cách đơn giản và dễ nhất là dựa vào các nghiên cứu có cùng nội dung đã được thực hiện trước đó để lấy mẫu.

Có thể hỏi ý kiến các chuyên gia, những người có kinh nghiệm thực hiện các dự án điều tra khảo sát. Có thể tính toán theo công thức tính mẫu.

  1. Công thức tính cỡ mẫu
  2. Với trường hợp cỡ mẫu lớn và không biết tổng thể.
n = z2( p.q )
e2

Trong đó:

n = là cỡ mẫu

z = giá trị phân phối tương ứng với độ tin cậy lựa chọn (nếu độ tin cậy 95% thì giá trị z là 1,96…)

p = là ước tính tỷ lệ % của tổng thể

q = 1-p (thường tỷ  lệ p và q được ước tính 50%/50% đó là khả năng lớn nhất có thể xảy ra của tổng thể).

e = sai số cho phép (+-3%, +-4%,+-5%…).

Ví dụ:

Tính cỡ mẫu của một cuộc trưng cầu ý kiến trước một cuộc bầu cử với độ tin cậy là 95% với giá trị z tương ứng là 1.96, sai số cho phép là nằm trong khoảng +5%. Giả định p*q lớn nhất có thể xảy ra là 0.5*0.5.

Cỡ mẫu sẽ được tính là:

n = 1.962( 0.5*0.5) = 385
0.052
  1. Nếu tổng thể nhỏ và biết được tổng thể thì dùng công thức sau:

Với n là cỡ mẫu, N là số lượng tổng thể, e là sai số tiêu chuẩn.

n =           N         
1+ N (e)2

Ví dụ:

Tính cỡ mẫu của một cuộc điều tra với:

Tổng thể là N= 2000, độ chính xác là 95%, sai số tiêu chuân là +- 5%.

và cỡ mẫu sẽ được tính là:

n =         N       =           2000       = 333
1+ N (e)2 1+2000 (.05)2

Bảng cỡ mẫu

Bảng 1. Cỡ mẫu với sai số cho phép là ±3%, ±5%, ±7% và ±10%  Độ tin cậy là  95% và P=0.5.
Cỡ của tổng thể Cỡ mẫu(n) với sai số cho phép :
±3% ±5% ±7% ±10%
500 * 222 145 83
600 * 240 152 86
700 * 255 158 88
800 * 267 163 89
900 * 277 166 90
1,000 * 286 169 91
2,000 714 333 185 95
3,000 811 353 191 97
4,000 870 364 194 98
5,000 909 370 196 98
6,000 938 375 197 98
7,000 959 378 198 99
8,000 976 381 199 99
9,000 989 383 200 99
10,000 1,000 385 200 99
15,000 1,034 390 201 99
20,000 1,053 392 204 100
50,000 1,087 397 204 100
100,000 1,099 398 204 100
>100,000 1,111 400 204 100

Nguồn tham của tài liệu: Trung Tâm Thông tin và phân tích dữ liệu Việt Nam (VIDAC).

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Phát triển (DEPOCEN) và một số tài liệu tham khảo khác.

Chia sẻ:

  • X
  • Facebook
  • Email
  • In

Có liên quan

Từ khóa » Bảng Hỏi Ngắn Là Gì