​LÊ CÔNG HÀNH - TỔ NGHỀ THÊU - Bàn Thờ

LÊ CÔNG HÀNH - TỔ NGHỀ THÊU

Nghề thêu xuất hiện ở nước ta từ lâu, nhưng cho đến nay, không ai biết chính xác nghề thêu được du nhập Việt Nam từ khi nào. Có lẽ, vì xưa kia nghề thêu quá sơ khai và chưa có mấy thành tựu nên sách sử chỉ nói đến một cách tản mát. Phải đến cuối thế kỷ 17, nghề thêu mới bắt đầu tỏa sáng ở kinh thành Thăng Long với việc xuất hiện hẳn một con phố mang tên phố Hàng Thêu.

Trải qua bao thăng trầm theo sự thăng trầm của lịch sử, đã có lúc nghề thêu tưởng không còn đường phát triển, nhưng thêu thùa vẫn âm thầm sống trong nhân gian để rồi khi có điều kiện nó sẽ lại tỏa sáng và hưng thịnh trên chính mảnh đất kinh kỳ văn hiến. Cho đến bây giờ, tất cả các nhà nghiên văn hóa dân gian Hà Nội và gần như mọi làng nghề có nghề thêu truyền thống ở nước ta đều thống nhất tôn vinh tiến sỹ Lê Công Hành, một vị quan triều Lê là ông tổ của nghề thêu Việt Nam.

Lê Công Hành tên thật là Bùi Công Hành (1606 - 1661), người xã Quất Động, huyện Thượng Phúc (nay là thôn Quất Động, xã Quất Động, Thường Tín, Hà Nội). Sau này ông trở thành con nuôi nhà Trần nên đổi tên thành Trần Quốc Khái.

Vào đời vua Lê Thần Tông (1637), Trần Quốc Khái đã thi đậu Hoàng giáp, làm quan đến chức Tả thị lang bộ Công, tước Thọ phúc hầu. Sau này có công đi sứ sang nhà Minh nên ông đã được phong họ vua, đổi thành họ Lê, gọi là Lê Công Hành.

Tương truyền khi đi sứ sang Tàu, vì bày tỏ được khí khái của người nước Nam nên ông đã bị vua Tàu nhốt trên lầu cao. Tại đây, ông đã tháo từng tấm lụa thêu rồi quan sát và học được kỹ thuật thêu rồng, phượng, hoa văn và làm lọng của người Trung Quốc. Khi về quê, ông đã mang những kỹ thuật thêu học được truyền lại cho người dân Quất Động quê mình.

Nhà nghiên cứu văn hóa Hà Nội Giang Quân, người đã hơn 40 năm nghiên cứu về Hà Nội, người đã có những nghiên cứu rất công phu về nghề thêu ở đất Thăng Long cho rằng: Cho đến bây giờ, nói đến ông tổ nghề thêu thì ai cũng nhắc đến tiến sỹ Lê Công Hành.

Tuy nhiên, việc khẳng định Lê Công Hành là người đầu tiên du nhập nghề thêu vào Việt Nam thì chưa có cứ liệu nào chắc chắn. Bởi vào thời Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa chống lại nhà Hán những năm 40 sau công nguyên, nghề thêu đã được nhắc đến qua lá cờ thêu 6 chữ vàng “trả thù nhà, đền nợ nước”.

Đến thời nhà Lý ở thế kỷ 11, sử sách cũng nhắc đến Vương phi Ỷ Lan đã dạy nghề thêu thùa cho các cung nữ rồi. Nhưng có lẽ thời kỳ đó chỉ có rất ít người trong hoàng cung biết nghề và kỹ thuật cũng không tinh xảo lắm, chỉ lưu truyền trong cung cấm nên mới không phát triển.

Đến thế kỷ 17, khi Lê Công Hành về quê, truyền nghề thêu và nghề làm lọng cho người dân Quất Động, rồi cả người dân ngũ xã lân cận, thì nghề thêu mới dần được phổ biến.

Trong dòng người thập phương đổ về kinh kỳ Thăng Long làm ăn buôn bán, tạo ra những làng nghề, rồi phố nghề, có rất nhiều thợ thêu làng nghề Quất Động. Ban đầu, những người làng Quất Động tập trung ở thôn Tự Tháp (cuối phố Hàng Trống bây giờ) làm và bán những sản phẩm thêu. Sau nhiều năm chuyên bán các sản phẩm thêu, nhiều người đã quen gọi đoạn phố người Quất Động đến sinh sống và làm ăn ấy là phố Hàng Thêu. Phố Hàng Thêu khi ấy dài chỉ khoảng 40 mét, nhưng mức sầm uất thì chẳng kém cạnh những con phố phát triển bậc nhất khác của Thăng Long. Hàng hóa thêu bày bán khi ấy không chỉ phục vụ cho các bậc quan lại, chức sắc, mà nó có rất nhiều mẫu mã phục vụ các nghi lễ truyền thống, đồ thờ cúng hoặc các y môn cho các đình, chùa. Các mặt hàng thêu khi ấy cũng không chỉ xuất hiện tại phố Hàng Thêu, mà nhiều con phố khác cạnh đó như phố Hàng Nón, Hàng Mành, Hàng Chỉ… cũng bày bán sản phẩm do người thợ thêu làm ra. Từ những người thợ thêu đầu tiên của làng nghề Quất Động, nhiều người Hà Nội hoặc người từ các địa phương khác đến Hà Nội sinh sống cũng đã học nghề thêu. Với những gia đình giàu có, họ học nghề thêu để làm ra những vật dụng của bản thân và để tặng ai đó, còn những gia đình khó khăn thì học nghề thêu như là một nghề kiếm sống, sinh nhai. Vì vậy, số người biết làm nghề thêu cứ âm thầm lan truyền và tăng lên theo cấp số nhân ở đất Thăng Long.

Sau một thời gian đứng vững với nghề thêu ở đất kinh kỳ, những người thợ thêu làng nghề Quất Động đã lập đền thờ vị tổ nghề thêu làng mình để ghi nhớ công ơn với người đã đem nghề thêu về cho dân làng. Đến nay, đền Tú Đình Thị ở số 2A Yên Thái là nơi thờ ông tổ nghề thêu thôn Quất Động Lê Công Hành, đồng thời, đó cũng là ông tổ nghề thêu đất Thăng Long kẻ chợ.

Ngày 12 tháng 6 âm lịch (tức ngày mất của tiến sỹ Lê Công Hành) hàng năm được lấy làm ngày giỗ tổ nghề thêu đất Thăng Long và cũng là ngày giỗ tổ của nghề thêu ở Việt Nam.

Tại lễ tế tổ nghề thêu, sau các nghi lễ thông thường có đọc bài văn cúng tổ sư. Lời văn cũng thể hiện tấm lòng tôn kính của thợ đối với ngài Tổ sư: “Tiên sinh tài cao xuất chúng, trí vượt tiên tri, là vầng trăng sáng Nam Triều, là ngôi sao lành đất Bắc. Lòng tựa gấm, miệng tựa thêu, đã lấy văn chương soi sáng đời thạnh trị, mũi kim, sợi chỉ, lại truyền tinh xảo đến phương Nam. Tài khéo sáng tỏ, ngắm sao Bắc Đẩu, Thái Sơn. Có công thì thờ tự, dù dâu biển cũng chẳng hề quên. Gặp lúc xuân tiết, kính dâng lễ mọn, nguyện soi xét lòng son, ban cho ơn phước lớn. Kính mong thượng hưởng”.

Từ khóa » Tổ Nghề Thêu Lê Công Hành