Lê Khánh Lam (Lê Qúy Bác) - Họ LÊ NGŨ CHI

Họ Lê Ngũ Chi
  • Giới thiệu
  • Từ đường
  • Phả đồ
  • Tham khảo
  • Thơ ca
  • Hình ảnh
  • Tin tức
  • Hướng dẫn
  • )
  • Đăng nhập
THÔNG TIN VỀ Lê Khánh Lam (Lê Qúy Bác)

4 đời trước | 4 đời sau Tổng cùng đời với Lê Khánh Lam (Lê Qúy Bác) : 122 người (111 mất) 92 Nam 30 Nữ Lúc còn sống thường trú tại: Lê Khánh Lam (Lê Qúy Bác) là Con thứ 4 của Lê Khánh Chỉnh thuộc đời thứ 21
Họ và tên Lê Khánh Lam (Lê Qúy Bác)
Mã số cá nhân 22.115
Giới tính Nam
Đời thứ 22
Là Con thứ 4 trong gia đình
Số điện thoại
Nghề nghiệp
Tình trạng Đã mất
Năm sinh 1875
Năm mất 03/09/1954 AL
Hưởng thọ 80
An táng tại
THỨ HỌ TÊN CON NĂM SINH TÌNH TRẠNG
1 Lê Khánh Đồng 1904 Đã mất
2 Lê Khánh Liệu 1907 Đã mất
3 Lê Khánh Lý Đã mất
4 Lê Thị Cúc 1910 Đã mất
5 Lê Khánh Biền 1914 Đã mất
6 Lê Khánh Cận 1919 Đã mất
7 Lê Khánh Cư 1925 Đã mất
7 Lê Khánh Bằng 1928 Đã mất
9 Lê Thị Khánh Hoà 1929
10 Lê Khánh Trai 1929 Đã mất
Tiểu sử, Sự nghiệp, Công đức, Ghi chú

Lê Khánh Lam (Lê Quý Bác) 1875-1954, hồi nhỏ cụ có tên là Lê Khánh Lam, về sau mới đổi tên thành Lê Quý Bác.

Từ thiếu thời cụ đã là một trong 4 chàng trai thông mình học giỏi nhất của họ Lê Ngũ Chi và cũng là của làng Xuân Thì thời đó: Lam, Liêm, Cồ, Hoạt (Lam – Lê Khánh Lam, Liêm – Lê Kinh Liêm, Cồ - Lê Doãn Cừ, Hoạt – Lê Khánh Hoạt) . Nhờ đỗ đạt cao, thông minh nên cụ lần lượt được bổ nhiệm làm tri huyện rồi tri phủ. Ở triều vua Khải Định, cụ được vua điều về làm việc ở bộ Lễ. Ở đây cụ đã thể hiện được là người có năng lực, mẫn cán và đạo đức nên rất được triều đình tín nhiệm, thăng chức liên tục lên dần đến chức Thị lang, cuối cùng tới chức Tham Tri bộ Lễ, hàm Nhị phẩm (tương đương với Thứ trưởng ngày nay).

Họ Lê Ngũ Chi làng Xuân Trì, Hương Sơn, Hà Tĩnh từ xa xưa đã nổi tiếng là dòng họ sản sinh ra nhiều thầy thuốc tài năng. Các cụ Lê Kinh Hạp, Lê Doãn Hành không chỉ là những thầy thuốc nổi danh ở xứ Nghệ mà còn nổi danh cả kinh thành Huế và Triều đình, nơi đã có một đội ngũ ngự y tài năng. Nối gót các bậc tiền bối, cụ Lê Quý Bác cũng cần cù học hỏi và nghiên cứu các tài liệu, các pho sách kim cổ về đông y, về đông dược để rồi trở thành một thầy thuốc nổi tiếng trong triều đình và kinh thành Huế. Qua nghiên cứu từ các pho sách thuốc và từ thực tiễn chữa bệnh cho bệnh nhân Cụ đã tạo ra nhiều bài thuốc quý giá để trị các bệnh dịch nguy hiểm như bệnh tả, bệnh kiết lỵ … Thuốc của Cụ chỉ uống một thang, thậm chí có khi chỉ một bát thuốc là bệnh nhân qua được cơn nguy kịch, là cứu sông được một mạng người.

Với tài năng kiệt xuất, cụ đã đã chữa khỏi nhiều ca bệnh hiểm nghèo hoặc mãn tính cho nhiều gia quyến các quan trong triều và Cụ trở nên nổi tiếng ngay cả trong triều đình. Tiếng lành đồn xa, tiếng tăm Cụ đến tai đức Từ cung (vợ vua Khải Định). Thế là Cụ được Nhà vua triệu vào cung chữa bệnh cho đức Từ Cung. Và kết quả là cụ đã chữa được các bệnh nan y của đức Từ cung mà các ngự y của triều đình đã bó tay. Sau khi khỏi bệnh đức Từ cung sinh con trai (sau này là vua Bảo Đại) Cụ được nhà vua thưởng một khoản lớn lắm. Ông Lê Khánh Ái, con ông Lê Khánh Biền (con trai thứ 3 của cụ Lê Quý Bác), là đứa cháu trai từ nhỏ đã được sống bên cụ kể lại rằng, thời kỳ đầu mới vào Kinh, lương Cụ cũng không nhiều, nhưng tài chữa bệnh của Cụ đã mang lại khoản thu nhập khá cho gia đình. Cụ chữa bệnh cho ai cũng không lấy tiền, nhưng biết ơn Cụ, sau khi khỏi bệnh hay người nhà được cứu sống, gia đình bệnh nhân khi nào cũng tìm cách trả ơn bằng thứ nọ, thứ kia. Chính nhờ nhưng khoản thu nhập đó và khoản tiền lớn của đức Từ cung thưởng mà Cụ tậu được cả trăm mẫu ruộng ở quê nhà, chứ tiền lương thì chưa đủ để nuôi và chu cấp đám con 9 đứa học hành.

Ông lại giỏi nghề đông y, thích làm vườn trồng cây, nuôi ong mật. Ông về hưu sau khi Nhật đảo chính Pháp. Sau cách mạng tháng Tám cả gia đình sơ tán về Sơn An, Hương Sơn. Ông có tham gia hội phụ lão cứu quốc và mất ngày 3 tháng 9 (1954). Sau cách mạng chủ yếu làm thuốc và chữa bệnh.

Là nhà Hán học, là quan chức to của Triều đình Huế, nhưng cụ rất thức thời. Tất cả các con của Cụ đều được Cụ hướng theo con đường Tây học. Con trai Cụ cho vào trường Khải Định; con gái vào trường Đồng Khánh. Học hết Trung học, ra Hà Nội học trường Bưởi để vào Cao Đẳng, Đại học.

Cả cuộc đời cụ làm việc cần mẫn, sống tằn tiện để nuôi các con ăn học thành tài. Con trai chí ít cũng có bằng Tú tài hay Cử nhân; con gái chí ít cũng có bằng Thành chung.

Ngay từ ngày đầu vào Huế, được Triều đình phân đất để định cư, bên cạnh ngôi nhà để ăn ở, Cụ cho xây thêm một căn nhà rộng rãi, có đầy đủ bàn ghế, tiện nghi học hành gọi là NHÀ HỌC để cho 9 con và một cháu lớn ngày ngày ngồi học. Có NHÀ HỌC, cứ ăn tối xong là ai nấy ngồi vào bàn học bài không cần nhắc nhở. Cụ quy định, trong học hành, ai có bài không hiểu thì hỏi anh chị lớn hơn; các anh chi lớn phải chỉ bảo tận tình chu đáo, không được quát mắng hay nặng lời. Nhờ vậy tất cả đều học giỏi, thi cử suôn sẽ đậu đạt.

Vợ là bà Lê Thị Đỉnh 1880-1955, con cụ Huấn Đỉnh (Huấn đạo) quê Yên Đồng nay là xã Sơn Bình. Trước bà sinh sống với gia đình ở Huế, năm 1946 về sống ở Sơn An làm vườn và nội trợ, tham gia công tác ở Hội mẹ chiến sĩ địa phương. Bà là một phụ nữ điềm đạm, thông minh, đảm đang việc nhà, chăm lo dạy bảo con cái. Bà mất ngày 22 tháng 2 (1955).

Phần mộ hai ông bà đặt ở rú Tháp, Sơn An.

Ông bà có 10 con (đời 23):

1. Lê Khánh Đồng

2. Lê Khánh Liệu

3. Lê Khánh Lý (mất lúc còn nhỏ)

4. Lê Thị Cúc

5. Lê Khánh Biền

6. Lê Khánh Cân (mất sớm)

7. Lê Khánh Cư

8. Lê Khánh Bằng

9. Lê Thị Khánh Hòa

10. Lê Khánh Trai.

0
  • Chọn tìm hiểu mối quan hệ
Chào bạn :)✓ Đã gửi lúc 21:22 Có gì bạn cứ chat với mình nhé.✓ Đã gửi lúc 21:22

Từ khóa » Khanh Lam Le