Lịch Sử Bắc Triều Tiên – Wikipedia Tiếng Việt
Có thể bạn quan tâm
| Chuyên đề | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Lịch sử Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Lịch sử Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (còn gọi là Bắc Triều Tiên) bắt đầu vào cuối Thế chiến II năm 1945, Sự đầu hàng của Nhật Bản dẫn đến sự chia cắt của bán đảo Triều Tiên tại vĩ tuyến 38, với Liên Xô chiếm đóng phía bắc và Mỹ chiếm đóng phía nam. Liên Xô và Mỹ không thống nhất được cách thức thống nhất đất nước, và vào năm 1948, họ thành lập hai chính phủ riêng biệt - Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thân Liên Xô và Hàn Quốc thân Phương Tây - cả hai đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp của toàn bộ bán đảo.
Năm 1950 chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Sau nhiều phá hoại, chiến tranh kết thúc trong bé tắc. CHDCND Triều Tiên đã thất bại trong việc thống nhất Triều Tiên, và các lực lượng Liên Hợp Quốc do Mỹ dẫn đầu đã thất bại trong việc chinh phục Bắc Triều Tiên. Sự chi cắt ở vĩ tuyến 38 bị thay thế bằng Khu phi quân sự Triều Tiên, và một lực lượng quân sự Mỹ vẫn hiện diện tại Hàn Quốc. Căng thẳng giữa hai bên vẫn tiếp tục. Từ đống đổ nát, Triều Tiên đã xây dựng một nền kinh tế chỉ huy công nghiệp hóa.
Kim Il-sung nắm giữ quyền lực cho đến khi ông qua đời vào năm 1994. Ông đã phát triển thói sùng bái cá nhân phổ biến với chính mình và đưa đất nước vào một con đường độc lập tự chủ theo tư tưởng Juche. Tuy nhiên, do các thiên tai tự nhiên và sự sụp đổ của Liên Xô và khối XHCN Đông Âu vào năm 1991, CHDCND Triều Tiên đã bị khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Con trai của Kim Il-sung, Kim Jong-il, kế tục vị trí lãnh đạo và sau đó lại được con trai của chính ông, Kim Jong-un nối tiếp. Dù hàng loạt cảnh báo quốc tế, CHDCND Triều Tiên tiếp tục phát triển tên lửa hạt nhân. Vào năm 2018, Kim Jong-un đã bất ngờ thực hiện tiếp xúc hòa bình với Hàn Quốc và Hoa Kỳ.
Bán đảo Triều Tiên trước khi chia cắt
[sửa | sửa mã nguồn]Từ năm 1910 đến cuối Thế chiến II, Triều Tiên bị Nhật Bản đô hộ. Hầu hết người Triều Tiên là các nông dân tham gia vào nông nghiệp tự cung tự cấp.[1] Trong những năm 1930, Nhật Bản đã phát triển các mỏ, đập thủy điện, nhà máy thép, và các nhà máy sản xuất ở miền bắc Triều Tiên và lân cận Mãn Châu.[2] Giai cấp công nhân công nghiệp Hàn Quốc phát triển nhanh chóng, và nhiều người Hàn Quốc đã đi làm việc ở Mãn Châu.[3] Kết quả là 65% công nghiệp nặng của Triều Tiên nằm ở phía bắc, nhưng, do sự khắc nghiệt của địa hình, phía bắc chỉ có 37% ngành nông nghiệp.[4]
Một phong trào du kích Triều Tiên nổi lên trong các vùng sâu miền núi và ở Mãn Châu, quấy rối các quan chức triều đình Nhật Bản. Một trong những nhà lãnh đạo du kích nổi bật nhất là người theo Cộng sản Kim Nhật Thành.[5]
CHDCND Triều Tiên có rất ít tiếp xúc với những ý tưởng hiện đại của phương Tây.[6] Một phần ngoại lệ của việc này là sự xâm nhập của tôn giáo. Kể từ khi sự xuất hiện của các nhà truyền giáo trong những năm cuối thế kỷ XIX, ở phía tây bắc của Triều Tiên, và đặc biệt là Bình Nhưỡng, trở thành trung tâm phổ biến Ki tô giáo.[7]
Chia cắt Triều Tiên
[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Chia cắt Triều TiênTại Hội nghị Tehran vào tháng 11 năm 1943 và tại Hội nghị Yalta vào tháng 2 năm 1945, Liên Xô cam kết sẽ cùng với các đồng minh tham gia vào Chiến tranh Thái Bình Dương sau 3 tháng khi giành chiến thắng ở châu Âu. Ngày 8 tháng 8 năm 1945, sau ba tháng như đã hẹn, Liên Xô tuyên chiến với Nhật.[8] Quân đội Liên Xô tiến nhanh, và chính phủ Mỹ lo lắng rằng họ sẽ chiếm toàn bộ Triều Tiên. Vào ngày 10 tháng 8, chính phủ Mỹ đã quyết định đề nghị vĩ tuyến 38 làm ranh giới giữa khu vực chiếm đóng của Liên Xô ở phía bắc và khu vực chiếm đóng của Mỹ ở phía nam. Vĩ tuyến này đã được chọn vì nó sẽ đặt thủ đô Seoul dưới quyền kiểm soát của Mỹ.[9] Ranh giới này đã đặt 16 triệu người Triều Tiên vào khu vực Mỹ chiếm đóng và 9 triệu người vào khu vực của Liên Xô.[10] Trước sự ngạc nhiên của người Mỹ, Liên Xô ngay lập tức chấp nhận sự phân chia này. Thỏa thuận này được đưa vào Lệnh chung số 1 (General Order No. 1 - được phê duyệt vào ngày 17 tháng 8 năm 1945) với sự đầu hàng của Nhật Bản.[11]
Lực lượng Liên Xô bắt đầu đổ bộ vào Triều Tiên ngày 14 tháng 8 và nhanh chóng chiếm phía đông bắc của đất nước này, vào ngày 16 tháng 8 họ đã hạ cánh xuống Wonsan.[12] Vào ngày 24 tháng 8, Hồng quân đã tiến tới Bình Nhưỡng.[13] Về phía quân đội Mỹ đến 8 tháng 9 họ mới đưa quân tới miền Nam.[10]
Trong tháng Tám, các Ủy ban nhân dân mọc lên trên khắp Triều Tiên, liên kết với Uỷ ban Chuẩn bị Triều Tiên Độc lập. Trong tháng 9 họ đã thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Triều Tiên. Khi quân đội Liên Xô vào Bình Nhưỡng, họ tìm thấy một Ủy ban nhân dân được thành lập ở đó, đứng đầu là người theo chủ nghĩa dân tộc Kitô giáo kỳ cựu Cho Man-sik.[14] Không giống như quân đội Mỹ, chính quyền Xô viết công nhận và làm việc với các Ủy ban nhân dân này.[15][16] Theo một số nguồn tin, Cho Man-sik là sự lựa chọn đầu tiên của chính phủ Liên Xô để dẫn dắt Bắc Triều Tiên.[17][18]

Ngày 19 tháng 9, Kim Nhật Thành và 36 sĩ quan Hồng quân khác của Triều Tiên về đến Wonsan. Họ đã chiến đấu với Nhật Bản ở vùng Mãn Châu trong những năm 1930 nhưng đã sống ở Liên Xô và được đào tạo trong Hồng quân kể từ năm 1941.[19] Ngày 14 tháng 10, chính quyền Xô Viết giới thiệu Kim đến với công chúng Triều Tiên như một anh hùng du kích.[19]
Trong tháng 12 năm 1945, tại Hội nghị Moscow, Liên Xô đã thoả thuận một đề xuất của Mỹ cho một lãnh thổ ủy thác tại Triều Tiên trong vòng 5 năm trong giai đoạn chờ độc lập. Hầu hết người Triều Tiên yêu cầu độc lập ngay lập tức, nhưng Kim và những người cộng sản khác đã hỗ trợ thỏa thuận này do chịu áp lực từ chính phủ Liên Xô. Cho Man-sik phản đối đề xuất này tại một cuộc họp công cộng vào ngày 4 tháng 1 năm 1946, và bị bắt giữ tại nhà riêng.[20][21] Vào ngày 8 tháng 2 năm 1946, Uỷ ban nhân dân đã được tổ chức lại thành Ủy ban nhân dân lâm thời với sự thống trị của những người theo Cộng sản.[22] Chế độ mới đưa ra chính sách được lòng công chúng như phân phối lại đất đai, quốc hữu hóa ngành công nghiệp, cải cách luật lao động và bình đẳng cho phụ nữ.[23]
Trong khi đó, các nhóm cộng sản hiện có đã được tập hợp lại thành một đảng dưới sự lãnh đạo của Kim Nhật Thành. Ngày 18 tháng 12 năm 1945, các cấp ủy Đảng Cộng sản địa phương được kết hợp thành Đảng Cộng sản Triều Tiên.[19] Vào tháng 8 năm 1946, đảng này sáp nhập với đảng Nhân Dân Mới để hình thành Đảng Lao động Triều Tiên. Trong tháng 12, một mặt trận do Đảng Công nhân lãnh đạo đã thống trị các cuộc bầu cử ở miền Bắc.[22] Năm 1949, Đảng Lao động của phía bắc Triều Tiên sáp nhập với Đảng Lao động phía nam để trở thành Đảng Lao động Triều Tiên với Kim Il-sung là Chủ tịch Đảng.[24]
Kim Il-sung xây dựng Quân đội Nhân dân Triều Tiên (KPA) định hướng theo mô hình Cộng sản, hình thành từ các cán bộ quân du kích và các cựu chiến binh, vốn đã có kinh nghiệm chiến đấu trong chiến tranh chống lại quân Nhật Bản và sau đó là Quốc dân Đảng Trung Quốc. Từ hàng ngũ những người này, với việc sử dụng các cố vấn và các thiết bị của Liên Xô, Kim Il-sung đã xây dựng một đội quân lớn chuyên môn sử dụng chiến thuật xâm nhập và chiến tranh du kích. Trước sự bùng nổ của chiến tranh Triều Tiên, Joseph Stalin trang bị cho quân Triều Tiên với xe tăng hiện đại trung bình, xe tải, pháo binh, và vũ khí cỡ nhỏ. Kim Il-sung cũng đã thành lập lực lượng không quân, trang bị lúc đầu với máy bay chiến đấu và máy bay cánh quạt tấn công của Liên Xô cũ. Sau đó, các ứng viên phi công CHDCND Triều Tiên đã được gửi đến Liên Xô và Trung Quốc để đào tạo lái các máy bay MiG-15 tại các căn cứ bí mật.[25]
Năm 1946, một loạt các dự luật đã chuyển CHDCND Triều Tiên theo con đường của chủ nghĩa Stalin. Phong trào "cải cách ruộng đất" đã phân phối lại phần lớn đất nông nghiệp cho người dân nông dân nghèo và không có đất, và phá vỡ sức mạnh của tầng lớp địa chủ.[26] Sau đó là "Luật Lao động", "Luật Bình đẳng giới", và luật "Quốc hữu hóa Công nghiệp, Giao thông vận tải, Luật Giao thông và ngân hàng" cũng đã được ban hành.[27]
Sự thành lập Cộng Hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
[sửa | sửa mã nguồn]
Do các cuộc đàm phán với Liên Xô về tương lai của Triều Tiên không đạt được tiến triển, Mỹ đã đưa vấn đề này lên Liên Hợp Quốc vào tháng 9 năm 1947. Để đáp lại, Liên Hợp Quốc đã thành lập Ủy ban Tạm thời của Liên Hợp Quốc về Triều Tiên để tổ chức bầu cử tại Triều Tiên. Liên Xô phản đối động thái này. Trong trường hợp không có sự hợp tác của Liên Xô, nó đã được quyết định chỉ tổ chức các cuộc bầu cử có sự giám sát của LHQ ở phía nam.[28] Tháng 4 năm 1948, một hội nghị của các tổ chức từ miền Bắc và miền Nam đã họp tại Bình Nhưỡng, nhưng hội nghị không có kết quả.Các chính trị gia miền Nam Kim Koo và Kim Kyu-sik đã tham dự hội nghị và tẩy chay các cuộc bầu cử ở miền Nam.[29] Cả hai ông đều được Triều Tiên trao tặng Giải thưởng Thống nhất Tổ quốc.[30] Các cuộc bầu cử được tổ chức tại Hàn Quốc vào ngày 10 tháng 5 năm 1948. Vào ngày 15 tháng 8, Đại Hàn Dân Quốc chính thức ra đời.[31] Một quá trình song song xảy ra ở Bắc Triều Tiên. Hội đồng Nhân dân Tối cao mới được bầu vào tháng 8 năm 1948 và vào ngày 3 tháng 9, hiến pháp mới được ban hành. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (CHDCND Triều Tiên - DPRK) được tuyên bố vào ngày 9 tháng 9, với Kim Il-sung là Thủ tướng.[32] Ngày 12 tháng 12 năm 1948, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã chấp nhận báo cáo của UNTCOK và tuyên bố Đại Hàn Dân Quốc là "chính phủ hợp pháp duy nhất ở Bán đảo Triều Tiên".[31]
Đến năm 1949, Triều Tiên là một quốc gia Cộng sản chính thức. Tất cả các đảng phái và đoàn thể đều tham gia Mặt trận Dân chủ Thống nhất Tổ quốc, bề ngoài là một mặt trận bình dân nhưng thực chất lại do Cộng sản kiểm soát. Chính phủ đã nhanh chóng tiến hành thiết lập một hệ thống chính trị một phần theo kiểu hệ thống Liên Xô, với quyền lực chính trị do Đảng Lao động Triều Tiên (WPK) độc quyền.
Chiến tranh Liên Triều (1950–1953)
[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Chiến Tranh Triều Tiên

Việc củng cố chính phủ của Syngman Rhee ở miền Nam với sự hỗ trợ quân sự của Mỹ và đàn áp cuộc nổi dậy tháng 10 năm 1948 đã chấm dứt hy vọng của Triều Tiên rằng một cuộc cách mạng ở miền Nam có thể thống nhất Triều Tiên, và từ đầu năm 1949, Kim Il-sung đã tìm kiếm sự ủng hộ của Liên Xô và Trung Quốc để chiến dịch quân sự thống nhất đất nước bằng quân sự. Việc rút hầu hết các lực lượng Mỹ khỏi Hàn Quốc vào tháng 6 năm 1949 khiến chính phủ miền Nam chỉ được bảo vệ bởi một quân đội Hàn Quốc yếu ớt và thiếu kinh nghiệm. Quân đội miền Nam cũng phải đối phó với một công dân không chắc chắn về lòng trung thành. Ngược lại, quân đội Bắc Triều Tiên đã được hưởng lợi từ các thiết bị từ thời Thế chiến thứ hai của Liên Xô, và có nòng cốt là các cựu chiến binh cứng rắn, những người đã từng chiến đấu chống Nhật hoặc cùng với Cộng sản Trung Quốc.[33] Năm 1949 và 1950, Kim đã tới Moscow cùng với lãnh đạo Cộng sản Hàn Quốc Pak Hon-yong để gây quỹ ủng hộ chiến tranh thống nhất đất nước.[34]
Ban đầu, Joseph Stalin từ chối yêu cầu của Kim Il-sung về việc cho phép xâm lược miền Nam, nhưng vào cuối năm 1949, chiến thắng của Cộng sản ở Trung Quốc và sự phát triển vũ khí hạt nhân của Liên Xô đã khiến ông xem xét lại đề nghị của Kim Il-sung. Vào tháng 1 năm 1950, sau khi Mao Trạch Đông của Trung Quốc chỉ ra rằng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẽ gửi quân đội và các hỗ trợ khác cho Kim, Stalin đã chấp thuận một cuộc xâm lược.[35] Liên Xô cung cấp hỗ trợ hạn chế dưới hình thức cố vấn giúp Triều Tiên khi họ lên kế hoạch cho chiến dịch, và các hướng dẫn viên quân sự của Liên Xô huấn luyện một số đơn vị Triều Tiên. Tuy nhiên, ngay từ đầu Stalin đã nói rõ rằng Liên Xô sẽ tránh đối đầu trực tiếp với Mỹ về vấn đề Triều Tiên và sẽ không triển khai lực lượng mặt đất ngay cả trong trường hợp có khủng hoảng quân sự lớn.[36] Sân khấu được thiết lập cho một cuộc nội chiến giữa hai đối thủ truyền kiếp trên bán đảo Triều Tiên.
Trong hơn một năm trước khi chiến tranh bùng nổ, hai bên đã xảy ra hàng loạt cuộc đụng độ đẫm máu dọc vĩ tuyến 38, đặc biệt là tại khu vực Ongjin trên bờ biển phía Tây.[37] Ngày 25 tháng 6 năm 1950, tuyên bố đang đáp trả cuộc tấn công của Hàn Quốc vào Ongjin, các lực lượng miền Bắc đã tiến hành một cuộc tấn công đổ bộ dọc theo vĩ tuyến.[38] Do sự kết hợp giữa bất ngờ và ưu thế quân sự, quân miền Bắc nhanh chóng chiếm được thủ đô Seoul, buộc Syngman Rhee và chính phủ của ông phải bỏ chạy. Vào giữa tháng 7, quân đội Bắc Triều Tiên đã áp đảo các đơn vị Mỹ và đồng minh của Hàn Quốc và buộc họ phải co cụm về tuyến phòng thủ ở phía đông nam Hàn Quốc được gọi là Vành đai Pusan. Trong thời gian ngắn chiếm đóng miền nam Triều Tiên, chế độ CHDCND Triều Tiên đã khởi xướng thay đổi xã hội triệt để, bao gồm quốc hữu hóa ngành công nghiệp, cải cách ruộng đất và khôi phục các Ủy ban nhân dân.[39] Theo Tướng William F. Dean của Hoa Kỳ bị bắt, "thái độ dân sự dường như khác nhau giữa sự nhiệt tình và sự chấp nhận thụ động".[40][41]
Liên Hợp Quốc lên án hành động của Triều Tiên và chấp thuận một lực lượng can thiệp do Mỹ dẫn đầu để bảo vệ Hàn Quốc.Vào tháng 9, các lực lượng của Liên Hợp Quốc đã đổ bộ vào Inchon và chiếm lại Seoul. Dưới sự lãnh đạo của tướng Hoa Kỳ Douglas MacArthur, các lực lượng của Liên Hợp Quốc đã đẩy mạnh lên phía bắc, tiến đến biên giới Trung Quốc. Theo Bruce Cumings, các lực lượng Bắc Triều Tiên đã không được định hướng, nhưng đã tìm cách rút lui chiến lược vào vùng nội địa miền núi và vào vùng Mãn Châu.[42] Chính phủ của Kim Il-sung đã tự tái lập tại một thành trì ở tỉnh Chagang.[43] Vào cuối tháng 11, các lực lượng Trung Quốc tham chiến và đẩy lùi lực lượng Liên Hợp Quốc, chiếm lại Bình Nhưỡng vào tháng 12 năm 1950 và Seoul vào tháng 1 năm 1951. Theo nhà sử học người Mỹ Bruce Cumings, Quân đội Nhân dân Triều Tiên đã đóng một vai trò không kém trong cuộc phản công này.[44] Lực lượng Liên Hợp Quốc đã cố gắng chiếm lại Seoul cho Hàn Quốc.Cuộc chiến về cơ bản đã trở thành một bế tắc đẫm máu trong hai năm sau đó. Các cuộc ném bom của Mỹ bao gồm việc sử dụng bom napalm vào các khu vực đông dân cư và phá hủy các con đập và đê điều, gây ra lũ lụt kinh hoàng.[45][46] Trung Quốc và Triều Tiên cũng cáo buộc Mỹ triển khai vũ khí sinh học.[47] Kết quả của vụ đánh bom, hầu hết mọi tòa nhà lớn và phần lớn cơ sở hạ tầng ở Triều Tiên đều bị phá hủy.[48][49] Triều Tiên đã phản ứng bằng cách xây dựng nhà cửa, trường học, bệnh viện và nhà máy dưới lòng đất.[50] GDP năm 1953 giảm 75-90% so với năm 1949.[51]
Trong khi các vụ ném bom tiếp tục, các cuộc đàm phán đình chiến, bắt đầu vào tháng 7 năm 1951, vẫn tiếp diễn. Trưởng đoàn đàm phán của Triều Tiên là Tướng Nam Il. Hiệp định đình chiến Triều Tiên được ký kết vào ngày 27 tháng 7 năm 1953. Một lệnh ngừng bắn sau đó, nhưng không có hiệp ước hòa bình, và các hành động thù địch tiếp tục với cường độ thấp hơn.[52]
Tái thiết sau chiến tranh (1953–thập niên 1970)
[sửa | sửa mã nguồn]Chính trị nội bộ
[sửa | sửa mã nguồn]
Kim Nhật Thành bắt đầu dần dần củng cố quyền lực của mình. Tính đến thời điểm đó, chính trường Bắc Triều Tiên được đại diện bởi bốn phe phái: Phái Diên An bao gồm những người trở về từ Trung Quốc; phái "người Triều Tiên tại Liên Xô" gồm những người gốc Triều Tiên đến từ Liên bang Xô viết; phái những người cộng sản Triều Tiên bản địa do Pak Hon-yong lãnh đạo; và phái Kapsan của Kim Nhật Thành, những người từng tham gia các hoạt động du kích chống Nhật trong thập niên 1930.[53][54]
Pak Hon-yong, Phó Chủ tịch đảng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, bị quy trách nhiệm cho việc người dân miền Nam không ủng hộ Bắc Triều Tiên trong chiến tranh. Ông bị cách chức vào năm 1953 và bị xử tử sau một phiên tòa dàn dựng vào năm 1955.[55][56]
Đại hội Đảng năm 1956 đã cho thấy sự biến đổi sâu sắc của đảng. Hầu hết các thành viên thuộc các phe phái khác đã mất đi vị thế và ảnh hưởng. Hơn một nửa số đại biểu tham gia sau năm 1950, phần lớn dưới 40 tuổi và có trình độ học vấn chính quy hạn chế.[53]
Vào tháng 2 năm 1956, nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev đã đưa ra bài phát biểu chỉ trích gay gắt Stalin, gây ra một làn sóng chấn động khắp thế giới cộng sản. Được khích lệ bởi điều này, các thành viên trong ban lãnh đạo đảng tại Bắc Triều Tiên bắt đầu chỉ trích sự lãnh đạo độc đoán, việc sùng bái cá nhân và các chính sách kinh tế kiểu Stalin của Kim Nhật Thành. Hệ quả là Kim Nhật Thành đã tiến hành thanh trừng họ trong Sự cố phe phái tháng Tám.[57][58] Đến năm 1960, 70% thành viên của Ủy ban Trung ương năm 1956 đã không còn hoạt động chính trị.[59]
Kim Nhật Thành ban đầu từng bị phía Liên Xô chỉ trích trong chuyến thăm Moskva năm 1955 vì thực hiện chủ nghĩa Stalin và xây dựng sự sùng bái cá nhân vốn đang ngày một lớn dần. Đại sứ Triều Tiên tại Liên Xô, Li Sangjo, một thành viên của phái Diên An, báo cáo rằng việc viết lên ảnh của Kim Nhật Thành trên báo cũng bị coi là một tội hình sự, và Kim đã được nâng tầm lên ngang hàng với Marx, Lenin, Mao Trạch Đông và Stalin trong hệ thống các lãnh tụ cộng sản. Li cũng cáo buộc Kim Nhật Thành viết lại lịch sử để làm như thể phe du kích của ông đã đơn phương giải phóng Triều Tiên khỏi Nhật Bản, hoàn toàn phớt lờ sự hỗ trợ từ Chí nguyện quân Nhân dân Trung Quốc. Ngoài ra, Li cho biết trong quá trình tập thể hóa nông nghiệp, ngũ cốc đã bị cưỡng chế thu hồi từ nông dân, dẫn đến "ít nhất 300 vụ tự sát", và Kim Nhật Thành tự mình đưa ra gần như tất cả các quyết định chính sách và bổ nhiệm quan trọng. Li báo cáo rằng hơn 30.000 người đã bị bỏ tù vì những lý do hoàn toàn bất công và tùy tiện, chẳng hạn như không in chân dung Kim Nhật Thành trên giấy đủ chất lượng hoặc dùng báo có hình ông để gói đồ. Việc trưng thu lương thực và thu thuế cũng được thực hiện bằng bạo lực, đánh đập và tù đày.[60]
Cuối năm 1968, các đối thủ quân đội có quan điểm chống lại tư tưởng Chủ thể (Juche) của Bắc Triều Tiên như Kim Chang-bong (Bộ trưởng An ninh Quốc gia), Huh Bong-hak (Trưởng bộ phận Tình báo miền Nam) và Lee Young-ho (Tư lệnh Hải quân) đã bị thanh trừng vì bị coi là phần tử phản đảng và phản cách mạng, bất kể họ từng là những chiến sĩ du kích chống Nhật trong quá khứ.[61]
Sự sùng bái cá nhân của Kim Nhật Thành được mô phỏng theo chủ nghĩa Stalin và ban đầu chế độ của ông công nhận Stalin là nhà lãnh đạo tối cao. Tuy nhiên, sau cái chết của Stalin năm 1953, Kim Nhật Thành bắt đầu được tôn vinh là "Lãnh tụ vĩ đại" (Suryong). Khi sự sùng bái cá nhân gia tăng, học thuyết Chủ thể bắt đầu thay thế chủ nghĩa Marx–Lenin. Đồng thời, sự sùng bái này không chỉ giới hạn ở bản thân ông mà còn mở rộng sang gia đình ông như một dòng máu cách mạng.[62] Năm 1972, để kỷ niệm ngày sinh của Kim Nhật Thành, Đài kỷ niệm Mansu Hill đã được khánh thành, bao gồm một bức tượng đồng của ông cao 22 mét.[63]
Quan hệ quốc tế
[sửa | sửa mã nguồn]
Giống như Mao Trạch Đông ở Trung Quốc, Kim Nhật Thành từ chối chấp nhận sự chỉ trích của Khrushchev đối với Stalin và tiếp tục xây dựng chế độ của mình theo các chuẩn mực của chủ nghĩa Stalin.[64][65] Đồng thời, ông ngày càng nhấn mạnh tính độc lập của Triều Tiên, được thể hiện qua khái niệm Chủ thể (Juche).[66] Kim Nhật Thành đã nói với Alexei Kosygin vào năm 1965 rằng ông không phải là con rối của bất kỳ ai và tuyên bố: "Chúng tôi... thực thi chủ nghĩa Marx thuần khiết nhất, đồng thời lên án những sự pha tạp từ phía Trung Quốc cũng như những sai lầm của Đảng Cộng sản Liên Xô".[67]
Quan hệ với Trung Quốc đã trở nên xấu đi trong chiến tranh. Mao Trạch Đông chỉ trích Kim Nhật Thành vì đã khơi mào toàn bộ cuộc "chiến tranh ngu ngốc" và là một chỉ huy quân sự kém cỏi, lẽ ra nên bị bãi nhiệm. Tư lệnh quân Chí nguyện quân Bành Đức Hoài cũng có thái độ coi thường tương tự đối với kỹ năng điều binh khiển tướng của Kim.[68]
Theo một số phân tích, Kim Nhật Thành giữ vững được quyền lực một phần là nhờ Liên Xô đã chuyển sự chú ý sang cuộc Cách mạng Hungary 1956 vào mùa thu năm đó.[69] Cả Liên Xô và Trung Quốc đều không thể ngăn chặn cuộc thanh trừng các đối thủ nội bộ của Kim hay việc ông tiến tới một chế độ chuyên chế kiểu Stalin độc diễn. Quan hệ với cả hai nước đều suy giảm: với Liên Xô là do việc loại bỏ những người Triều Tiên thân Xô viết, và với Trung Quốc là do chế độ của Kim từ chối thừa nhận sự hỗ trợ của Bắc Kinh trong công cuộc giải phóng khỏi Nhật Bản cũng như trong cuộc chiến 1950–1953.[70]
Bắt đầu từ cuối thập niên 1950, Bắc Triều Tiên và Trung Quốc tiến hành đàm phán lại biên giới, dẫn đến Hiệp ước Biên giới Trung–Triều năm 1962 và một văn bản bổ sung năm 1964 nhằm xác lập biên giới hiện đại giữa hai quốc gia.

Căng thẳng giữa hai miền Triều Tiên leo thang vào cuối thập niên 1960 với một loạt các vụ đụng độ vũ trang quy mô nhỏ được gọi là Xung đột khu phi quân sự Triều Tiên (1966–1969). Năm 1966, Kim Nhật Thành tuyên bố "giải phóng miền Nam" là một "nghĩa vụ dân tộc".[71] Năm 1968, đặc công Bắc Triều Tiên đã thực hiện cuộc Tấn công Nhà Xanh nhằm ám sát Tổng thống Hàn Quốc Park Chung-hee nhưng thất bại. Ngay sau đó, tàu do thám của Mỹ mang tên USS Pueblo bị hải quân Bắc Triều Tiên bắt giữ.[72] Thủy thủ đoàn bị giam giữ trong suốt một năm bất chấp những phản đối của Mỹ rằng con tàu đang ở trong vùng biển quốc tế; họ chỉ được thả vào tháng 12 sau khi Mỹ đưa ra lời xin lỗi chính thức.[73] Vào tháng 4 năm 1969, một máy bay chiến đấu của Bắc Triều Tiên đã bắn hạ một chiếc máy bay EC-121, khiến toàn bộ 31 thành viên phi hành đoàn thiệt mạng. Chính quyền Nixon đã không thể phản ứng gì, vì Mỹ đang lún sâu vào Chiến tranh Việt Nam và không còn quân dự bị nếu tình hình Triều Tiên leo thang. Tuy nhiên, việc bắt giữ tàu Pueblo và bắn rơi chiếc EC-121 không nhận được sự ủng hộ từ Moskva, do Liên Xô không muốn một cuộc chiến lớn thứ hai nổ ra tại châu Á. Phản ứng của Trung Quốc đối với cuộc khủng hoảng USS Pueblo ít rõ ràng hơn.[74]
Sau khi Leonid Brezhnev thay thế Khrushchev lãnh đạo Liên Xô vào năm 1964, cùng với sự thúc đẩy từ các khoản viện trợ của Xô viết, Bắc Triều Tiên đã thắt chặt quan hệ với Liên Xô. Kim Nhật Thành chỉ trích cuộc Cách mạng Văn hóa của Trung Quốc là "sự ngu ngốc khó tin". Ngược lại, lực lượng Hồng vệ binh của Trung Quốc đã gọi ông là một kẻ "xét lại béo phì".[75][76][77]
Năm 1972, cuộc gặp thượng đỉnh chính thức đầu tiên giữa Bình Nhưỡng và Seoul đã được tổ chức, nhưng các cuộc đàm phán thận trọng này đã không mang lại sự thay đổi lâu dài trong mối quan hệ.[78]
Với sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, Kim Nhật Thành cảm thấy Mỹ đã lộ rõ điểm yếu và việc tái thống nhất Triều Tiên dưới chế độ của ông là khả thi. Kim Nhật Thành đã đến thăm Bắc Kinh vào tháng 5 năm 1975[79][80][81] với hy vọng giành được sự hỗ trợ chính trị và quân sự cho kế hoạch tấn công miền Nam một lần nữa, nhưng Mao Trạch Đông đã từ chối.[82] Mặc dù công khai tuyên bố ủng hộ Kim, Mao đã kín đáo nói với Kim rằng Trung Quốc sẽ không thể hỗ trợ Bắc Triều Tiên do những hậu quả kéo dài của Cách mạng Văn hóa trên khắp đất nước, và vì Mao vừa mới quyết định khôi phục quan hệ ngoại giao với Mỹ.[83]
Trong khi đó, Bắc Triều Tiên nhấn mạnh định hướng độc lập của mình bằng cách gia nhập Phong trào Không liên kết vào năm 1975.[84] Nước này đã quảng bá tư tưởng Chủ thể như một hình mẫu cho các quốc gia đang phát triển noi theo.[85] Bình Nhưỡng cũng thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các chế độ của Bokassa ở Cộng hòa Trung Phi, Macías Nguema ở Guinea Xích Đạo, Idi Amin ở Uganda, Pol Pot ở Campuchia, Gaddafi ở Libya và Ceausescu ở Romania.[51]
Phát triển kinh tế
[sửa | sửa mã nguồn]
Công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh được tiến hành với sự hỗ trợ sâu rộng từ phía Trung Quốc và Liên Xô.[86][87] Những người Triều Tiên có kinh nghiệm trong các ngành công nghiệp thời thuộc Nhật cũng đóng một vai trò quan trọng.[88] Đất đai được tập thể hóa trong khoảng thời gian từ năm 1953 đến 1958. Nhiều địa chủ đã bị loại bỏ từ các cuộc cải cách trước đó hoặc trong thời gian chiến tranh.[89]
Quá trình phục hồi sau chiến tranh bị chậm lại do nạn đói trầm trọng vào năm 1954–1955. Các quan chức địa phương đã báo cáo khống sản lượng thu hoạch cao hơn thực tế từ 50–70%. Sau khi chính quyền trung ương thu mua phần của mình, nạn đói đã đe dọa nhiều nông dân, khiến khoảng 800.000 người thiệt mạng. Ngoài ra, việc tập thể hóa cũng bị phản kháng; nhiều nông dân đã giết mổ gia súc thay vì giao nộp chúng cho các hợp tác xã nông nghiệp.[90]
Mặc dù có những tranh luận về định hướng phát triển trong nội bộ Đảng Lao động Triều Tiên vào thập niên 1950, nhưng giống như tất cả các nhà nước cộng sản thời hậu chiến, Bắc Triều Tiên đã thực hiện đầu tư nhà nước ồ ạt vào công nghiệp nặng, hạ tầng quốc gia và tiềm lực quân sự, đồng thời lơ là việc sản xuất hàng tiêu dùng.[70]
Kế hoạch 3 năm lần thứ nhất (1954–1956) đã đưa vào khái niệm Chủ thể (Juche) hay tinh thần tự lực cánh sinh.[91] Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1957–1961) đã củng cố việc tập thể hóa nông nghiệp và khởi xướng các chiến dịch vận động quần chúng: Phong trào Thiên Lý Mã (Chollima), hệ thống Chongsan-ni trong nông nghiệp và Hệ thống làm việc Đại An (Taean) trong công nghiệp.[91][92] Phong trào Thiên Lý Mã chịu ảnh hưởng từ chiến dịch Đại nhảy vọt của Trung Quốc nhưng không để lại những hậu quả thảm khốc tương tự.[91] Ngành công nghiệp được quốc hữu hóa hoàn toàn vào năm 1959.[93] Thuế thu nhập nông nghiệp cũng được bãi bỏ vào năm 1966.[89]
Bắc Triều Tiên được đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến tranh, với sự ưu tiên ngang nhau cho cả kinh tế dân dụng và quân sự. Điều này được thể hiện trong Hội nghị Trung ương Đảng năm 1962 qua khẩu hiệu: "Một tay cầm súng, một tay cầm búa và liềm!"[94] Tại một hội nghị đảng đặc biệt năm 1966, những thành viên lãnh đạo phản đối việc tăng cường quân bị đã bị bãi miễn.[95]
Trên đống đổ nát của chiến tranh, Bắc Triều Tiên đã xây dựng được một nền kinh tế chỉ huy công nghiệp hóa. Chế độ này đã tiếp cận với Thế giới thứ ba với hy vọng phát triển các mối quan hệ thương mại bền chặt.[96] Che Guevara, khi đó là một bộ trưởng trong chính phủ Cuba, đã đến thăm Bắc Triều Tiên vào năm 1960 và tuyên bố đây là hình mẫu để Cuba học tập. Năm 1965, nhà kinh tế học người Anh Joan Robinson đã mô tả sự phát triển kinh tế của Bắc Triều Tiên là một "phép màu".[97][98] Cho đến tận thập niên 1970, GDP bình quân đầu người của nước này ước tính vẫn tương đương với Hàn Quốc.[99][100][101][102] Đến năm 1968, tất cả các hộ gia đình đều có điện, mặc dù nguồn cung chưa ổn định.[103] Đến năm 1972, tất cả trẻ em từ 5 đến 16 tuổi đều được đến trường và hơn 200 trường đại học cùng các trường cao đẳng chuyên biệt đã được thành lập.[104][105] Vào đầu thập niên 1980, có 60–70% dân số sống ở khu vực đô thị.[106]
Những năm cuối của Kim Nhật Thành (1970s–1994)
[sửa | sửa mã nguồn]
Vào thập niên 1970, sự tăng trưởng của nền kinh tế Bắc Triều Tiên cùng với sự cải thiện mức sống đi kèm đã đi đến hồi kết.[107] Tình trạng này thêm trầm trọng do quyết định vay vốn nước ngoài và đầu tư mạnh vào các ngành công nghiệp quân sự. Mong muốn giảm bớt sự phụ thuộc vào viện trợ từ Trung Quốc và Liên Xô đã thúc đẩy việc mở rộng sức mạnh quân sự của nước này, vốn đã bắt đầu từ nửa sau thập niên 1960. Chính phủ tin rằng những khoản chi phí đó có thể được bù đắp bằng các khoản vay nước ngoài và tăng cường bán tài nguyên khoáng sản trên thị trường quốc tế. Bắc Triều Tiên đã đầu tư mạnh vào ngành khai khoáng và mua một lượng lớn hạ tầng khai thác khoáng sản từ nước ngoài. Họ cũng mua toàn bộ các nhà máy sản xuất hóa dầu, dệt may, bê tông, thép, bột giấy và giấy từ thế giới tư bản phát triển.[82] Điều này bao gồm một liên doanh Nhật Bản-Đan Mạch cung cấp cho Bắc Triều Tiên nhà máy xi măng lớn nhất thế giới lúc bấy giờ.[108] Tuy nhiên, sau Khủng hoảng dầu mỏ 1973, giá quốc tế của nhiều loại khoáng sản nội địa Bắc Triều Tiên sụt giảm, để lại cho quốc gia này những khoản nợ lớn và mất khả năng trả nợ trong khi vẫn phải đảm bảo mức phúc lợi xã hội cao cho người dân. Bắc Triều Tiên bắt đầu vỡ nợ vào năm 1974 và ngừng gần như tất cả các khoản thanh toán vào năm 1985. Kết quả là, nước này không thể tiếp tục mua công nghệ từ nước ngoài.[109]
Đến giữa và cuối thập niên 1970, một số khu vực của thế giới tư bản, bao gồm cả Hàn Quốc, đã tạo ra các ngành công nghiệp mới dựa trên máy tính, điện tử và các công nghệ tiên tiến khác, trái ngược với nền kinh tế kiểu Stalin tập trung vào khai thác mỏ và sản xuất thép của Bắc Triều Tiên.[110] Quá trình di cư ra đô thị bị đình trệ.[111]
Vào tháng 10 năm 1980, Kim Jong Il đã ra mắt công chúng tại Đại hội Đảng Lao động Triều Tiên lần thứ VI với tư cách là người kế nhiệm Kim Nhật Thành.[112] Năm 1972, Kim Jong Il đã khẳng định vị thế là một nhà lý luận hàng đầu với việc xuất bản tác phẩm Về tư tưởng Chủ thể.[113] Và vào năm 1974, ông đã chính thức được xác nhận là người kế vị của cha mình.[114]
Năm 1983, Bắc Triều Tiên đã thực hiện Vụ đánh bom Rangoon, một âm mưu ám sát không thành nhằm vào Tổng thống Hàn Quốc Chun Doo-hwan khi ông đang thăm Miến Điện.[115] Cuộc tấn công trên một mảnh đất trung lập này đã khiến nhiều quốc gia Thế giới thứ ba phải xem xét lại mối quan hệ ngoại giao với Bắc Triều Tiên.[116]
Năm 1984, Kim Nhật Thành đã đến Moskva trong một chuyến công du rộng khắp Liên Xô, nơi ông gặp nhà lãnh đạo Xô viết Konstantin Chernenko. Kim cũng có các chuyến thăm công khai tới Đông Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary, Romania, Bulgaria và Nam Tư. Sự can dự của Liên Xô vào nền kinh tế Bắc Triều Tiên tăng lên cho đến năm 1988 khi thương mại song phương đạt mức đỉnh 2,8 tỷ USD.[117] Năm 1986, Kim gặp nhà lãnh đạo mới của Liên Xô là Mikhail Gorbachev tại Moskva và nhận được cam kết hỗ trợ.[118]
Vụ đánh bom Chuyến bay 858 của Korean Air vào năm 1987, ngay trước thềm Thế vận hội Seoul, đã dẫn đến việc chính phủ Hoa Kỳ đưa Bắc Triều Tiên vào danh sách các quốc gia tài trợ khủng bố.[119][120]

Bất chấp những vấn đề kinh tế mới nảy sinh, chế độ đã đầu tư mạnh vào các dự án mang tính biểu tượng, như Tháp Chủ thể, Đập Nam Phố và Khách sạn Ryugyong. Năm 1989, để đáp trả Thế vận hội Seoul 1988, Bình Nhưỡng đã tổ chức Đại hội Liên hoan Thanh niên và Sinh viên Thế giới lần thứ 13.[121][122] Trên thực tế, sự phô trương gắn liền với chế độ và việc sùng bái cá nhân, thể hiện qua các đài kỷ niệm, bảo tàng và sự kiện, đã được xác định là một nhân tố dẫn đến sự suy thoái kinh tế.[123]
Tuy nhiên, các cải cách và sáng kiến ngoại giao của Gorbachev, cuộc cải cách kinh tế Trung Quốc bắt đầu từ năm 1979 và sự sụp đổ của Khối Đông Âu từ năm 1989 đến 1991 đã khiến Bắc Triều Tiên ngày càng bị cô lập.[124] Ban lãnh đạo tại Bình Nhưỡng đã đáp trả bằng cách tuyên bố rằng sự sụp đổ của các chính phủ cộng sản ở khối Đông Âu đã chứng minh tính đúng đắn của chính sách Chủ thể.[125]
Sự tan rã của Liên Xô vào năm 1991 đã tước đi nguồn viện trợ kinh tế chính của Bắc Triều Tiên, để lại Trung Quốc là đồng minh lớn duy nhất của chế độ đang bị cô lập. Thiếu vắng viện trợ của Liên Xô, nền kinh tế Bắc Triều Tiên rơi vào tình trạng tự do rơi xuống dốc. Vào thời điểm này, đầu thập niên 1990, Kim Jong Il đã điều hành hầu hết các hoạt động thường nhật của nhà nước, được bổ nhiệm làm Tư lệnh tối cao của Quân đội Nhân dân Triều Tiên vào tháng 12 năm 1991 và Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng vào năm 1993. Trong khi đó, căng thẳng quốc tế gia tăng xung quanh việc Bắc Triều Tiên theo đuổi vũ khí hạt nhân. Cựu Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter đã đến thăm Bình Nhưỡng vào tháng 6 năm 1994, nơi ông gặp Kim Nhật Thành và trở về với tuyên bố rằng mình đã giải quyết được cuộc khủng hoảng.[126]
Thời kỳ Kim Jong Il (1994–2011)
[sửa | sửa mã nguồn]Kim Nhật Thành qua đời vì một cơn đau tim đột ngột vào ngày 8 tháng 7 năm 1994. Các chính sách trong những năm cuối đời của Kim Nhật Thành có sự tương đồng mật thiết với giai đoạn bắt đầu kỷ nguyên Kim Jong Il.[127]
Bắt đầu từ đầu năm 1990, nền kinh tế đã rơi vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng. Từ năm 1990 đến năm 1995, thương mại đối ngoại bị cắt giảm một nửa, trong đó sự thiếu hụt nguồn dầu mỏ được trợ giá từ Liên Xô gây ra những tác động đặc biệt nặng nề. Cuộc khủng hoảng lên đến đỉnh điểm vào năm 1995 với các trận lũ lụt trên diện rộng phá hủy mùa màng và cơ sở hạ tầng, dẫn đến một nạn đói kéo dài cho đến năm 1998.[128] Đồng thời, dường như có rất ít sự phản kháng nội bộ đáng kể đối với chế độ. Một bộ phận lớn người Bắc Triều Tiên trốn sang Trung Quốc vì nạn đói vẫn thể hiện sự ủng hộ đáng kể đối với chính phủ cũng như niềm tự hào về quê hương. Nhiều người trong số đó được cho là đã quay trở về Bắc Triều Tiên sau khi kiếm đủ tiền.[129]
Vào tháng 9 năm 1998, Kim Nhật Thành được tôn vinh là "Chủ tịch vĩnh cửu của Cộng hòa" và chức danh Chủ tịch nước bị bãi bỏ. Theo Ashley J. Tellis và Michael Wills, bản sửa đổi này là một chỉ dấu cho đặc điểm độc đáo của Bắc Triều Tiên khi là một nhà nước thần quyền dựa trên việc sùng bái cá nhân xung quanh Kim Nhật Thành, trao cho các nhà lãnh đạo những danh hiệu có quyền lực "pháp lý" ngay cả sau khi họ qua đời.[130] Các chức năng và quyền hạn trước đây thuộc về Chủ tịch nước được chia sẻ giữa ba vị trí: Người đứng đầu chính phủ là Thủ tướng; Chủ tịch Hội nghị Nhân dân Tối cao đóng vai trò là nguyên thủ quốc gia (về mặt lễ nghi), chính xác là Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao; và người đứng đầu quân đội là Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng kiêm Tư lệnh tối cao Quân đội Nhân dân Triều Tiên. Thực thi quyền lực thông qua các chức vụ quân sự mà ông vốn đã nắm quyền kiểm soát từ khi cha mình còn sống (được thăng làm Tư lệnh tối cao KPA và Chủ tịch NDC vào đầu thập niên 90), Kim Jong Il đã nhấn mạnh vào yếu tố quân sự để củng cố và nâng tầm quyền lực của mình. Thêm vào đó, sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa toàn cầu sụp đổ vào đầu những năm 1990 cùng với cuộc khủng hoảng kinh tế và nạn đói diện rộng kéo dài, Bắc Triều Tiên nhận thấy mình đang ở trong một vị thế quốc tế hết sức bấp bênh.[131] Theo nghĩa này, chính sách Songun được nhìn nhận như một động thái cứng rắn nhằm tăng cường sức mạnh quân đội Bắc Triều Tiên bằng cách ưu tiên nguồn lực hơn các thành phần khác của xã hội.[132]
Năm 1998, chính phủ công bố chính sách mới mang tên "Songun", hay "Quân sự là trên hết". Về bản chất, chính sách Songun dành sự ưu tiên hàng đầu cho các vấn đề quân sự và xác định Quân đội Nhân dân Triều Tiên (KPA) là lực lượng chính trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.[133]
Sau khi đắc cử vào năm 1998, Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae-jung đã tích cực nỗ lực giảm bớt căng thẳng giữa hai miền thông qua Chính sách Ánh dương. Tuy nhiên, sau khi George W. Bush đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ vào năm 2000, Bắc Triều Tiên phải đối mặt với áp lực mới về chương trình hạt nhân của mình. Ngày 9 tháng 10 năm 2006, Bắc Triều Tiên tuyên bố đã thử nghiệm thành công một quả bom hạt nhân dưới lòng đất.[134] Ngoài ra, Bắc Triều Tiên cũng đang phát triển các loại tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM).[135]
Ngày 13 tháng 2 năm 2007, Bắc Triều Tiên đã ký một thỏa thuận với Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc và Nhật Bản, trong đó quy định Bắc Triều Tiên sẽ đóng cửa lò phản ứng hạt nhân Yongbyon để đổi lấy viện trợ kinh tế và năng lượng.[136] Tuy nhiên, vào năm 2009, phía miền Bắc vẫn tiếp tục chương trình thử nghiệm hạt nhân của mình.[137]
Năm 2010, vụ đắm tàu chiến Cheonan của Hàn Quốc, được cho là do ngư lôi của Bắc Triều Tiên bắn trúng, cùng với vụ pháo kích đảo Yeonpyeong của Bắc Triều Tiên đã khiến căng thẳng giữa hai miền leo thang gay gắt.[138][139]
Thời kỳ Kim Jong Un (2011–nay)
[sửa | sửa mã nguồn]
Kim Jong Il qua đời vào ngày 17 tháng 12 năm 2011[140] và người kế vị là con trai ông, Kim Jong Un. Cuối năm 2013, chú của Kim Jong Un là Jang Song-thaek bị bắt giữ và xử tử sau một phiên tòa. Theo cơ quan tình báo Hàn Quốc, Kim Jong Un có thể đã thanh trừng khoảng 300 người sau khi lên nắm quyền.[141] Năm 2014, một Ủy ban Điều tra của Liên Hợp Quốc đã cáo buộc chính phủ nước này phạm các tội ác chống lại loài người.[142]
Vào năm 2015, Bắc Triều Tiên đã áp dụng Giờ Bình Nhưỡng (UTC+08:30); trước đó họ sử dụng Giờ tiêu chuẩn Nhật Bản (UTC+09:00) vốn được Đế quốc Nhật Bản áp đặt khi thôn tính Triều Tiên. Kết quả là Bắc Triều Tiên nằm ở múi giờ khác so với Hàn Quốc.[143] Năm 2016, Đại hội Đảng Lao động Triều Tiên lần thứ VII đã được tổ chức tại Bình Nhưỡng, đây là đại hội đảng đầu tiên kể từ năm 1980.[144] Một kế hoạch phát triển kinh tế trung hạn cũng được công bố lần đầu tiên sau 24 năm.[145]
Năm 2017, Bắc Triều Tiên đã thử nghiệm Hwasong-15, một loại tên lửa đạn đạo liên lục địa có khả năng tấn công bất cứ đâu trên lãnh thổ Hoa Kỳ.[146] Các ước tính về kho vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên vào thời điểm đó dao động từ 15 đến 60 quả bom, có khả năng bao gồm cả bom khinh khí.[147]

Vào tháng 2 năm 2018, Bắc Triều Tiên đã cử một phái đoàn cấp cao chưa từng có tới dự Thế vận hội Mùa đông tại Hàn Quốc, dẫn đầu là Kim Yo-jong, em gái của Kim Jong Un, và Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân Tối cao Kim Yong-nam; phái đoàn đã chuyển lời mời Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in tới thăm miền Bắc.[148] Vào tháng 4, lãnh đạo hai miền Triều Tiên đã gặp nhau tại Khu vực An ninh Chung, nơi họ tuyên bố chính phủ hai bên sẽ nỗ lực hướng tới một bán đảo Triều Tiên phi hạt nhân hóa và chính thức hóa hòa bình giữa hai quốc gia.[149] Bắc Triều Tiên cũng thông báo sẽ thay đổi múi giờ để tái đồng bộ với Hàn Quốc.[150]
Ngày 12 tháng 6 năm 2018, Kim Jong Un đã gặp Tổng thống Mỹ Donald Trump tại một hội nghị thượng đỉnh ở Singapore và ký kết bản tuyên bố, một lần nữa khẳng định cam kết đối với hòa bình và phi hạt nhân hóa.[151] Trump thông báo rằng ông sẽ tạm dừng các cuộc tập trận quân sự với Hàn Quốc và ám chỉ việc rút toàn bộ quân đội Mỹ về nước.[152] Vào tháng 9, Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in đã đến Bình Nhưỡng để tham dự hội nghị thượng đỉnh với Kim Jong Un.[153] Vào tháng 2 năm 2019 tại Hà Nội, một hội nghị thượng đỉnh thứ hai giữa Kim và Trump đã kết thúc mà không đạt được thỏa thuận.[154] Ngày 30 tháng 6 năm 2019, Trump, Moon và Kim đã gặp nhau tại khu phi quân sự DMZ.[155] Các cuộc đàm phán tại Stockholm bắt đầu vào tháng 10 giữa các nhóm đàm phán của Mỹ và Bắc Triều Tiên, nhưng đã đổ vỡ chỉ sau một ngày.[156]
Bắt đầu từ tháng 1 năm 2020, chính phủ Bắc Triều Tiên đã thực hiện các biện pháp sâu rộng để ngăn chặn sự lây lan của đại dịch COVID-19, bao gồm các biện pháp cách ly và hạn chế đi lại. Vào tháng 4, trang web phân tích Mỹ 38 North cho biết các nỗ lực này dường như đã thành công.[157] Năm 2024, 38 North báo cáo rằng Bắc Triều Tiên đã có một phản ứng "có vẻ thành công" đối với đại dịch, nhưng vẫn chưa hoàn toàn trở lại trạng thái bình thường.[158]
Đại hội Đảng Lao động Triều Tiên lần thứ VIII, tổ chức vào đầu tháng 1 năm 2021, đã khôi phục chức danh Tổng Bí thư Đảng Lao động Triều Tiên, một danh hiệu trước đó từng được trao tặng "vĩnh viễn" cho Kim Jong Il vào năm 2012,[159] và bầu Kim Jong Un vào vị trí này.[160]
Kim Jong Un đã công bố một sự thay đổi chính sách vào tháng 1 năm 2024, từ bỏ mục tiêu hợp tác và tái thống nhất với miền Nam.[161] Một trong những biểu tượng cho động thái này là việc phá hủy Vòm Thống nhất tại Bình Nhưỡng vào ngày 23 tháng 1 năm 2024.[162]

Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Lịch sử Hàn Quốc
- Lịch sử Triều Tiên
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 182. ISBN 0-393-32702-7.
- ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 174–175, 407. ISBN 0-393-32702-7.
- ^ Robinson, Michael E (2007). Korea's Twentieth-Century Odyssey. Honolulu: University of Hawaii Press. tr. 84–86. ISBN 978-0-8248-3174-5.
- ^ Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 184–185.
- ^ Robinson, Michael E (2007). Korea's Twentieth-Century Odyssey. Honolulu: University of Hawaii Press. tr. 85–87, 155. ISBN 978-0-8248-3174-5.
- ^ Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 175.
- ^ Robinson, Michael E (2007). Korea's Twentieth-Century Odyssey. Honolulu: University of Hawaii Press. tr. 113. ISBN 978-0-8248-3174-5.
- ^ Walker, J Samuel (1997). Prompt and Utter Destruction: Truman and the Use of Atomic Bombs Against Japan. Chapel Hill: The University of North Carolina Press. tr. 82. ISBN 0-8078-2361-9.
- ^ Seth, Michael J. (2010). A History of Korea: From Antiquity to the Present. Rowman & Littlefield Publishers. tr. 306. ISBN 9780742567177.
- ^ a b Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 53. ISBN 0-415-23749-1.
- ^ Hyung Gu Lynn (2007). Bipolar Orders: The Two Koreas since 1989. Zed Books. tr. 18.
- ^ Seth, Michael J. (2010). A History of Korea: From Antiquity to the Present. Rowman & Littlefield Publishers. tr. 86. ISBN 9780742567177.
- ^ Hyung Gu Lynn (2007). Bipolar Orders: The Two Koreas since 1989. Zed Books. tr. 18.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 54–57. ISBN 0-415-23749-1.
- ^ Robinson, Michael E (2007). Korea's Twentieth-Century Odyssey. Honolulu: University of Hawaii Press. tr. 105–107. ISBN 978-0-8248-3174-5.
- ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 227–228. ISBN 0-393-32702-7.
- ^ Bluth, Christoph (2008). Korea. Cambridge: Polity Press. tr. 12. ISBN 978-07456-3357-2.
- ^ Jager, Sheila Miyoshi (2013). Brothers at War – The Unending Conflict in Korea. London: Profile Books. tr. 23. ISBN 978-1-84668-067-0.
- ^ a b c Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 56. ISBN 0-415-23749-1.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 59. ISBN 0-415-23749-1.
- ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 187–190. ISBN 0-393-32702-7.
- ^ a b Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 60. ISBN 0-415-23749-1.
- ^ Robinson, Michael E (2007). Korea's Twentieth-Century Odyssey. Honolulu: University of Hawaii Press. tr. 107. ISBN 978-0-8248-3174-5.
- ^ Robinson, Michael E (2007). Korea's Twentieth-Century Odyssey. Honolulu: University of Hawaii Press. tr. 148. ISBN 978-0-8248-3174-5.
- ^ Blair, Clay, The Forgotten War: America in Korea, Naval Institute Press (2003).
- ^ Charles K. Armstrong, The North Korean Revolution, 1945-1950 (Ithaca, NY: Cornell University Press), 71-86.
- ^ Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 184.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 66. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 211, 507. ISBN 978-0-393-32702-1.
- ^ "National Reunification Prize Winners", Korean Central News Agency, ngày 7 tháng 5 năm 1998, Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2013
- ^ a b Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 67. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 60–61. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Bruce Cumings, The Origins of the Korean War, Vol. 1: Liberation and the Emergence of Separate Regimes, 1945–1947, Princeton University Press
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 72. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Compare: Martin, Bradley K. (2007). Under the Loving Care of the Fatherly Leader: North Korea and the Kim Dynasty. Macmillan. tr. 66–67. ISBN 9781429906999. In fact, as a condition for granting his approval of the invasion, Stalin insisted that Kim get Mao's backing. Kim visited Mao in May of 1950. Mao was inwardly reluctant [...] But with China's Soviet aid at stake, Mao signed on. Only then did Stalin give his final approval.
- ^ Weathersby, Kathryn (2002). ""Should We Fear This?" Stalin and the Danger of War with America". Cold War International History Project: Working Paper No. 39. tr. 10.
- ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 247–253. ISBN 978-0-393-32702-1.
- ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 260–263. ISBN 978-0-393-32702-1.
- ^ Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 112.
- ^ Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 111.
- ^ Dean, William F Dean; Worden, William L (1954). General Dean's Story. Viking Press. tr. 87.
- ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 278–281. ISBN 978-0-393-32702-1.
- ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 280. ISBN 978-0-393-32702-1.
- ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 288. ISBN 978-0-393-32702-1.
- ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 289, 296. ISBN 978-0-393-32702-1.
- ^ Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 118.
- ^ Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 115–118.
- ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 297–298. ISBN 978-0-393-32702-1.
- ^ Jager, Sheila Miyoshi (2013). Brothers at War – The Unending Conflict in Korea. London: Profile Books. tr. 237–242. ISBN 978-1-84668-067-0.
- ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 295–296. ISBN 978-0-393-32702-1.
- ^ a b Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 184.
- ^ Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 122–125.
- ^ a b Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 95. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 177.
- ^ Dae-Sook Suh, Kim Il Sung: The North Korean Leader (New York: Columbia University Press, 1988), 133–136.
- ^ Hoare, James. "Pak Heon-yeong". Modern Korean History Portal. Woodrow Wilson Center. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014.
- ^ Person, James (tháng 8 năm 2006). ""We Need Help from Outside": The North Korean Opposition Movement of 1956" (PDF). Cold War International History Project Working Paper (52). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 95–96. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 96. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Ri, Sang-jo. "Letter from Ri Sang-jo to the Central Committee of the Korean Workers Party". Woodrow Wilson Center. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014.
- ^ Pike, John. "North Korean Purges".
- ^ Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 179–180.
- ^ Oberdorfer, Don; Carlin, Robert (2014). The Two Koreas: A Contemporary History. Basic Books. tr. 18. ISBN 9780465031238.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 95–97. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Robinson, Michael E (2007). Korea's Twentieth-Century Odyssey. Honolulu: University of Hawaii Press. tr. 152. ISBN 978-0-8248-3174-5.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 95, 122. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Radchenko, Sergey. "The Soviet Union and the North Korean Seizure of the USS Pueblo: Evidence from Russian Archives" (PDF). Cold War International History Project Working Paper (47): 8. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014.
- ^ Jager, Sheila Miyoshi (2013). Brothers at War – The Unending Conflict in Korea. London: Profile Books. tr. 362–363. ISBN 978-1-84668-067-0.
- ^ Jager, Sheila Miyoshi (2013). Brothers at War – The Unending Conflict in Korea. London: Profile Books. tr. 363–364. ISBN 978-1-84668-067-0.
- ^ a b James F. Person (2008). "New Evidence on North Korea in 1956" (PDF). Cold War International History Project. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2012.
- ^ Jager, Sheila Miyoshi (2013). Brothers at War – The Unending Conflict in Korea. London: Profile Books. tr. 366. ISBN 978-1-84668-067-0.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 99. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Lerner, Mitchell (2002). The Pueblo Incident: A Spy Ship and the Failure of American Foreign Policy. Lawrence, KS: University Press of Kansas. ISBN 9780700611713.
- ^ "New Romanian Evidence on the Blue House Raid and the USS Pueblo Incident." NKIDP e-Dossier No. 5. Retrieved 3 May 2012.
- ^ Jager, Sheila Miyoshi (2013). Brothers at War – The Unending Conflict in Korea. London: Profile Books. tr. 376. ISBN 978-1-84668-067-0.
- ^ Radchenko, Sergey. "The Soviet Union and the North Korean Seizure of the USS Pueblo: Evidence from Russian Archives" (PDF). Cold War International History Project Working Paper (47): 11, 16. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014.
- ^ "Quarterly Chronicle and Documentation". The China Quarterly (30): 195–249. April–June 1967. JSTOR 651878.
- ^ Shin, Jong-Dae (ngày 30 tháng 6 năm 2012). "DPRK Perspectives on Korean Reunification after the July 4th Joint Communiqué". NKIDP e-Dossier no. 10. Woodrow Wilson Center. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014.
- ^ Hook, Brian; Wilson, Dick; Yahuda, Michael (tháng 9 năm 1975). "Quarterly Chronicle and Documentation". The China Quarterly (63): 572–610. JSTOR 652772.
- ^ Zagoria, Donald S.; Kim, Young Kun (tháng 12 năm 1975). "North Korea and the Major Powers". Asian Survey. 15 (12): 1017–1035. doi:10.2307/2643582. JSTOR 2643582.
- ^ Kim, Young C. (tháng 1 năm 1976). "The Democratic People's Republic of Korea in 1975". Asian Survey. 16 (1): 82–94. doi:10.2307/2643284. JSTOR 2643284.
- ^ a b Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 128. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Chae, Ria. "East German Documents on Kim Il Sung's April 1975 Trip to Beijing". NKIDP e-Dossier no. 7. Woodrow Wilson Center. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 129. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Armstrong, Charles (tháng 4 năm 2009). "Juche and North Korea's Global_Aspirations" (PDF). NKIDP Working Paper (1). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2014.
- ^ Charles K. Armstrong (2010). "The Destruction and Reconstruction of North Korea, 1950 – 1960". The Asia-Pacific Journal: Japan Focus. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010.
- ^ Shen, Zhihua; Yafeng Xia (tháng 5 năm 2012). "China and the Post-War Reconstruction of North Korea, 1953–1961" (PDF). NKIDP Working Paper (4). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014.
- ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 430. ISBN 978-0-393-32702-1.
- ^ a b Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 185.
- ^ Andrei Lankov. "Trouble Brewing: The North Korean Famine of 1954–1955 and Soviet Attitudes toward North Korea." Journal of Cold War Studies 22:2 (Spring 2020) pp:3–25. online
- ^ a b c Robinson, Michael E (2007). Korea's Twentieth-Century Odyssey. Honolulu: University of Hawaii Press. tr. 151. ISBN 978-0-8248-3174-5.
- ^ James F. Person (tháng 2 năm 2009). "New Evidence on North Korea's Chollima Movement and First-Five-Year Plan (1957–1961)" (PDF). North Korea International Documentation Project. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020.
- ^ Bluth, Christoph (2008). Korea. Cambridge: Polity Press. tr. 33. ISBN 978-07456-3357-2.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 98. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 98–99. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Young, Benjamin R (ngày 2 tháng 12 năm 2021). "North Korean capitalism's failure in the Third World". NK News.
- ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 404. ISBN 978-0-393-32702-1.
- ^ Demick, Barbara (2010). Nothing to Envy: Love, Life and Death in North Korea. Sydney: Fourth Estate. tr. 64. ISBN 9780732286613.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 140. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Cumings, Bruce (2005). Korea's Place in the Sun: A Modern History. New York: W. W. Norton & Company. tr. 434. ISBN 978-0-393-32702-1.
- ^ Robinson, Michael E (2007). Korea's Twentieth-Century Odyssey. Honolulu: University of Hawaii Press. tr. 153. ISBN 978-0-8248-3174-5.
- ^ Bluth, Christoph (2008). Korea. Cambridge: Polity Press. tr. 34. ISBN 978-07456-3357-2.
- ^ Hunter, Helen-Louise (1999). Kim Il-song's North Korea. Westport, Connecticut: Praeger. tr. 196. ISBN 978-0-275-96296-8.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 101. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 196.
- ^ Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 187.
- ^ Ostermann, Christian F. (2011). The Rise and Fall of Détente on the Korean Peninsula, 1970–1974. Washington, DC: Woodrow Wilson Center. tr. 18, 19, 26–33. ISBN 9781933549712.
- ^ Oberdorfer, Don; Carlin, Robert (2014). The Two Koreas: A Contemporary History. Basic Books. tr. 78. ISBN 9780465031238.
- ^ Bluth, Christoph (2008). Korea. Cambridge: Polity Press. tr. 35. ISBN 978-07456-3357-2.
- ^ Bruce Cumings, North Korea: Another Country, New Press, 2004, ISBN 1-56584-940-X
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 151–152. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 127. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 146. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 193.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 147–48. ISBN 0-415-23749-1.
- ^ "How North Korea's friendship with 'third world' countries changed". NK News. ngày 21 tháng 4 năm 2021.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 150. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Oberdorfer, Don; Carlin, Robert (2014). The Two Koreas: A Contemporary History. Basic Books. tr. 124–125. ISBN 9780465031238.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 165. ISBN 0-415-23749-1.
- ^ Bluth, Christoph (2008). Korea. Cambridge: Polity Press. tr. 46–47. ISBN 978-07456-3357-2.
- ^ Robinson, Michael E (2007). Korea's Twentieth-Century Odyssey. Honolulu: University of Hawaii Press. tr. 152, 157–158. ISBN 978-0-8248-3174-5.
- ^ Bluth, Christoph (2008). Korea. Cambridge: Polity Press. tr. 37. ISBN 978-07456-3357-2.
- ^ Lone, Stewart; McCormack, Gavan (1993). Korea since 1850. Melbourne: Longman Cheshire. tr. 189–191.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 149–151. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Oberdorfer, Don; Carlin, Robert (2014). The Two Koreas: A Contemporary History. Basic Books. tr. 181. ISBN 9780465031238.
- ^ Oberdorfer, Don; Carlin, Robert (2014). The Two Koreas: A Contemporary History. Basic Books. tr. 248–264. ISBN 9780465031238.
- ^ Lankov, Andrei (2015). The Real North Korea: Life and Politics in the Failed Stalinist Utopia. Oxford: Oxford University Press. tr. 78. ISBN 978-0-19-939003-8.
- ^ Buzo, Adrian (2002). The Making of Modern Korea. London: Routledge. tr. 175–176. ISBN 978-0-415-23749-9.
- ^ Kim Hong-min, "I'm not brave. I'm only pretending to be brave in coming here." Outsider, no. 15, September 2003. ISBN 89-90720-04-4
- ^ Ashley J. Tellis; Michael Wills (30 September 2007). Domestic Political Change and Grand Strategy. NBR. p. 128. ISBN 978-0-9713938-8-2.
- ^ Bruce Cumings, North Korea: Another Country (New York: The New Press, 2004): 102.
- ^ Alexander V. Vorontsov, 'North Korean Military-first policy: A curse or a blessing?' Brookings Institution, 26 May 2006, <http://www.brookings.edu/research/opinions/2006/05/26northkorea-vorontsov> 26 March 2007.
- ^ Naenara. "SONGUN POLITICS". Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2014.
- ^ Associated Press Lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2006 tại Wayback Machine
- ^ Minnich, James M. (2008). "National Security". Trong Worden, Robert L. (biên tập). North Korea: A Country Study . Washington: Government Printing Office. tr. 257–260. ISBN 978-0-16-088278-4. LCCN 2008028547.
- ^ Worden, Robert L., biên tập (2008). "Introduction". North Korea: A Country Study . Washington: Government Printing Office. tr. xviii, xxxv. ISBN 978-0-16-088278-4. LCCN 2008028547.
- ^ Seth, Michael J. (ngày 16 tháng 10 năm 2010). A History of Korea: From Antiquity to the Present. Rowman & Littlefield Publishers (xuất bản 2010). tr. 457. ISBN 9780742567177.
- ^ Deok-hyun Kim (ngày 24 tháng 11 năm 2010). "S. Korea to toughen rules of engagement against N. Korean attack". Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2010.
- ^ "Lee Myung Bak Group Accused of Scuttling Dialogue and Humanitarian Work". Korean Central News Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2010.
- ^ "N. Korean leader Kim dead: state TV". Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2011.
- ^ "Kim Jong Un has purged, executed more than 300 people, spy agency says". United Press International. ngày 28 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2021.
- ^ "North Korea: UN Commission documents wide-ranging and ongoing crimes against humanity, urges referral to ICC". United Nations Office of the High Commissioner for High Rights. ngày 17 tháng 2 năm 2014.
- ^ "North Korea's new time zone to break from 'imperialism'". BBC News. ngày 7 tháng 8 năm 2015.
- ^ Frank, Ruediger (ngày 20 tháng 5 năm 2016). "The 7th Party Congress in North Korea: A Return to a New Normal". 38 North.
- ^ Gray, Kevin; Lee, Jong-Woon (2021). North Korea and the Geopolitics of Development. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 186. ISBN 978-1-108-91154-2.
- ^ "North Korea tests 'new long-range missile' capable of striking anywhere in US as Donald Trump says he will 'take care of it'". The Telegraph. ngày 29 tháng 11 năm 2017.
- ^ Albert, Eleanor (ngày 3 tháng 1 năm 2018). "North Korea's Military Capabilities". Council on Foreign Relations.
- ^ Ji, Dagyum (ngày 12 tháng 2 năm 2018). "Delegation visit shows N. Korea can take "drastic" steps to improve relations: MOU". NK News.
- ^ "Kim, Moon declare end of Korean War". NHK World. ngày 27 tháng 4 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2018.
- ^ Shin, Hyonhee (ngày 30 tháng 4 năm 2018). "South Korea to remove loudspeakers along border, North Korea to align time zone with the South". Reuters.
- ^ Rosenfeld, Everett (ngày 12 tháng 6 năm 2018). "Document signed by Trump and Kim includes four main elements related to 'peace regime'". CNBC. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2018.
- ^ Cloud, David S. (ngày 12 tháng 6 năm 2018). "Trump's decision to halt military exercises with South Korea leaves Pentagon and allies nervous". Los Angeles Times. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2018.
- ^ "North Korea agrees to dismantle nuclear complex if United States takes reciprocal action, South says". ABC. ngày 19 tháng 9 năm 2019.
- ^ "North Korea's foreign minister says country seeks only partial sanctions relief, contradicting Trump". Washington Post.
- ^ "Trump takes 20 steps into North Korea". CNN.com. ngày 29 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2019.
- ^ Tanner, Jari; Lee, Matthew (ngày 5 tháng 10 năm 2019). "North Korea Says Nuclear Talks Break Down While U.S. Says They Were 'Good'". Time. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2019.
- ^ Park, Kee B.; Jong, Jessup; Jung, Youngwoo (ngày 23 tháng 4 năm 2020). "Do They or Do They Not Have COVID-19 Inside North Korea?". 38 North. The Henry L. Stimson Center. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020.
- ^ Samuel S. Han; Heeje Lee; Kee B. Park (ngày 26 tháng 9 năm 2024). "Prospects for Health Cooperation: Changing Health Priorities for the Democratic People's Republic of Korea". 38 North. The Henry L. Stimson Center. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2024.
- ^ Won-Gi Jung (ngày 10 tháng 1 năm 2021). "Kim Jong Un named general secretary — a title reserved for his late father". NK News (bằng tiếng English). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2021.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
- ^ huaxia (ngày 11 tháng 1 năm 2021). "DPRK leader Kim Jong Un elected as general secretary of ruling party". Xinhuanet (bằng tiếng English). Pyongyang: Tân Hoa Xã. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2021.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
- ^ Zwirko, Colin; Kim, Jeongmin (ngày 16 tháng 1 năm 2024). "North Korea to redefine border, purge unification language from constitution". NK News. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2024.
- ^ Zwirko, Colin (ngày 23 tháng 1 năm 2024). "North Korea demolishes symbolic unification arch, satellite imagery suggests". NK News - North Korea News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2024.
Đọc thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- O'Hanlon, Michael; Mochizuki, Mike. "Crisis on the Korean Peninsula." McGraw-Hill. 2003. ISBN 0-07-143155-1
- Cumings, Bruce, et al.. "Inventing the Axis of Evil." The New Press. 2004. ISBN 1-56584-904-3
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Speak Out About Human Rights In North Korea (a commentary from Human Rights Watch, published in The Asian Wall Street Journal, ngày 16 tháng 4 năm 2004)
- On North Korea's streets, pink and tangerine buses, Christian Science Monitor, ngày 2 tháng 6 năm 2005
- North Korea on the rebound[liên kết hỏng], Global Beat Syndicate, ngày 27 tháng 6 năm 2005
- The North Korea International Documentation Project Lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2011 tại Wayback Machine (Primary source documents concerning DPRK history)
- Time Line of North Korean History
Từ khóa » Thời Sự Bắc Triều Tiên
-
Tin Tức, Tình Hình Triều Tiên: Quân Sự, Chính Trị-xã Hội... Mới Nhất
-
Bắc Triều Tiên: Thời Sự, Podcast, Video Và Phân Tích - RFI
-
Triều Tiên - Tin Tức, Hình ảnh, Video, Bình Luận
-
Triều Tiên - Vietnamnet
-
Tin Tức Triều Tiên - 24H
-
Triều Tiên - Báo Tuổi Trẻ
-
Nga, Trung Quốc, Triều Tiên Có Thể Gây Chiến Trên đất Mỹ? - YouTube
-
Triều Tiên Bất Ngờ Lên án Mỹ 'phủ Mây đen Hạt Nhân' | FBNC
-
BẮC TRIỀU TIÊN ĐỐI MẶT TÌNH HÌNH “TỒI TỆ CHƯA TỪNG THẤY”
-
Bắc Triều Tiên - Sputnik
-
Quan Hệ Ngoại Giao Của Bắc Triều Tiên – Wikipedia Tiếng Việt
-
Mỹ: Triều Tiên Không Quan Tâm đàm Phán Và Có Thể Thử Hạt Nhân ...
-
Theo Dòng Thời Sự ㅣ Bán đảo Hàn Quốc Từ A-Z ㅣ ... - KBS WORLD
-
Nhật, Mỹ, Hàn Thảo Luận Về Bắc Triều Tiên | NHK WORLD-JAPAN ...