Livyatan Melvillei – Wikipedia Tiếng Việt
Có thể bạn quan tâm
| Livyatan melvillei | |
|---|---|
| Thời điểm hóa thạch: Late Oligocene - Early Pleistocene | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Phân giới (subregnum) | Eumetazoa |
| Liên ngành (superphylum) | Deuterostomia |
| Ngành (phylum) | Chordata |
| Phân ngành (subphylum) | Vertebrata |
| Lớp (class) | Mammalia |
| Bộ (ordo) | Cetacea |
| Họ (familia) | incertae sedis |
| Chi (genus) | LivyatanLambert et al., 2010[1] |
| Loài (species) | †L. melvillei |
| Danh pháp hai phần | |
| Livyatan melvillei Agassiz, 1843[1] | |
| Danh pháp đồng nghĩa | |
| |
Livyatan melvillei hay còn gọi là siêu cá nhà táng một thành viên đã tuyệt chủng của phân bộ cá voi có răng thời tiền sử và được xem là loài cá voi có răng to lớn nhất từng biết. Chúng có thể sống cách đây 13,5 đến 5 triệu năm.[2][3] Những chiếc răng khổng lồ và kích thước cơ thể to lớn của loài cá voi này sẽ khiến nhiều người phải kinh hãi khi gặp chúng ở đại dương. Melvillei cùng với Megalodon trở thành hai loài săn mồi đỉnh cao, là đối thủ của nhau ở đại dương thời kỳ đó. Một là loài cá ăn thịt lớn nhất (Megalodon), hai là loài thú có vú săn mồi lớn nhất (L. Melvillei).
Các nhà nghiên cứu đã đặt tên cho loài này là Livyatan Melvillei. "Livyatan" là phiên âm của Leviathan, loài thủy quái khổng lồ trong thần thoại, còn "Melvillei" là dựa theo tên của nhà văn Herman Melville - tác giả cuốn tiểu thuyết Moby Dick nổi tiếng viết về một con cá voi to lớn, hung dữ và có sức mạnh khủng khiếp, được các tàu săn cá voi xem là chúa tể của đại dương.
Kích thước của Siêu cá nhà táng có thể dài 20,7m và nặng đến 102,3 tấn. Nó sở hữu xương sọ dài 3 mét với hàm rộng và những chiếc răng nhọn hình nón dài tới 36 cm - chiếc răng lớn nhất trong tất cả những loài động vật từng được biết đến (trừ ngà voi), lực cắn của chúng có thể lên đến 10-16 tấn. Đồng thời các răng hàm trên còn có phần lõm giúp khít sát với răng hàm dưới khi khép miệng làm tăng khả năng cắt thịt.
Với kích thước to lớn và việc Livyatan melvillei cùng sống chung trong một vùng với Otodus Megalodon thì việc 2 loài này có va chạm là không thể tránh khỏi khi cả hai có cùng nguồn thức ăn và con mồi là
-Nhóm cá voi tấm sừng cổ đại(Cetotheres)
Chúng là tổ tiên của cá voi tấm sừng hiện đại nhưng kích thước nhỏ hơn (khoảng 5–10 mét), bơi chậm và không có vũ khí tự vệ đáng kể.
-Các loài cá nhà táng nhỏ (Macroraptorial Sperm Whales)
Các loài như: Brygmophyseter hay Zygophyseter(dài 6–7 mét).
-Cá voi có răng cỡ trung bình
Tổ tiên của cá voi sát thủ và cá heo: Trong kỷ Miocen, có nhiều loài cá voi có răng kích thước lớn hơn cá heo hiện đại nhưng nhỏ hơn Livyatan. Cả Megalodon và Livyatan đều săn đuổi nhóm này vì chúng cung cấp lượng calo cao.
-Hải cẩu và thú biển khổng lồ tại các vùng nước nông ven bờ, nơi cả hai loài thường xuyên lui tới:
Hải cẩu cổ đại: Những loài hải cẩu khổng lồ đã tuyệt chủng là mục tiêu dễ dàng.
Bò biển (Sirenians): Các loài tổ tiên của lợn biển và bò biển vốn di chuyển rất chậm chạp.
Những thông tin còn được tranh luận của Livyatan.
Mối quan hệ giữa Otodus Megalodon và Livyatan Melvillei đôi khi bị diễn giải đơn giản hóa như một quan hệ “kẻ săn mồi – con mồi”, trong đó Livyatan được xem là kẻ săn mồi chủ động còn Megalodon là con mồi, dựa trên sự so sánh với mối quan hệ giữa cá voi sát thủ và cá mập trắng lớn hiện đại. Tuy nhiên, cách so sánh này có thể gây hiểu nhầm do sự khác biệt đáng kể về bối cảnh tiến hóa, sinh thái và hình thái học giữa các loài liên quan. Otodus Megalodon không phải là phiên bản khổng lồ của cá mập trắng lớn(Carcharodon Carcharias). Hai loài này thuộc các nhánh tiến hóa khác nhau, với chiến lược săn mồi và hình thái học khác biệt. Cá mập trắng hiện đại được cho là tiến hóa theo hướng săn mồi dựa trên tốc độ và phục kích, trong khi Megalodon – thuộc chi Otodus – có cấu trúc răng, hàm và thân thể phù hợp với việc gây tổn thương lớn lên các con mồi có kích thước lớn, bao gồm nhiều loài cá voi thời Miocen và Pliocen.Tương tự, Livyatan Melvillei khác biệt đáng kể so với cá voi sát thủ hiện đại. Cá voi sát thủ tồn tại trong bối cảnh sinh thái ngày nay, nơi không còn sự hiện diện của các loài cá mập khổng lồ như Megalodon, và hành vi săn cá mập trắng của cá voi sát thủ chỉ được ghi nhận ở một số quần thể nhất định, có tính học hỏi và không phổ biến trên toàn loài.Do đó, việc ngoại suy trực tiếp mối quan hệ cá voi sát thủ–cá mập trắng để áp dụng cho Livyatan–Megalodon là không hoàn toàn phù hợp. Hiện không có bằng chứng hóa thạch trực tiếp chứng minh một mối quan hệ săn mồi một chiều giữa Megalodon và Livyatan; thay vào đó, hai loài được các nhà khoa học cho là các sinh vật đứng đầu chuỗi thức ăn dưới biển cạnh tranh cùng một nguồn thức ăn, phản ánh mức độ cạnh tranh của các loài sinh vật trong kỷ Miocen.
Sự khan hiếm hóa thạch của Livyatan.
Hóa thạch của Livyatan Melvillei tương đối hiếm. Mẫu vật chuẩn quan trọng nhất là một hộp sọ gần như nguyên vẹn dài khoảng 3 mét, được phát hiện tại Peru vào năm 2008. Ngoài ra, chỉ có một số chiếc răng đơn lẻ được tìm thấy ở các khu vực như Chile, Argentina, Nam Phi và Úc. Sự hạn chế về số lượng mẫu vật khiến các suy luận về sinh thái và hành vi săn mồi chủ yếu dựa trên phân tích hình thái học và so sánh với các loài cá voi có răng vẫn còn tồn tại như cá voi sát thủ và cá nhà táng. Còn việc liệu Livyatan đã chạm trán với Megalodon thì các nhà khoa học vẫn chưa thể chắc chắn, vẫn cần thêm bằng chứng hóa thạch để xác thực.
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ a b c Lambert, Olivier; Bianucci, Giovanni; Post, Klaas; de Muizon, Christian; Salas-Gismondi, Rodolfo; Urbina, Mario; Reumer, Jelle (ngày 1 tháng 7 năm 2010). "The giant bite of a new raptorial sperm whale from the Miocene epoch of Peru". Nature. Quyển 466 số 7302. tr. 105–108. doi:10.1038/nature09067. PMID 20596020. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2010.
- ^ Fang, Janet (ngày 30 tháng 6 năm 2010). "Call me Leviathan melvillei". nature news. Nature. doi:10.1038/news.2010.322.
- ^ "Paleobiology Database". Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2015.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]
Dữ liệu liên quan tới Livyatan melvillei tại Wikispecies- 'Sea monster' fossil found in Peru desert by CNN
- Ancient sperm whale's giant head uncovered from Los Angeles Times (The skull is on display in National History Museum in Lima)
- A killer sperm whale with details on sperm whale evolution
- Livyatan article on prehistoric-wildlife.com with size comparison to a human Lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2016 tại Wayback Machine
| Thẻ nhận dạng đơn vị phân loại |
|
|---|
Từ khóa » Cá Nhà Táng ăn Thịt Người
-
Cận Cảnh “quái Vật” ăn Thịt Lớn Nhất Hành Tinh - Báo Người Lao động
-
Cá Nhà Táng - Sinh Vật ăn Thịt Có Răng Lớn Nhất Trên Trái đất
-
Cá Nhà Táng Là Gì? ăn Gì, Có Phải Cá Voi Không? - IAS Links
-
CÁ NHÀ TÁNG KHỔNG LỒ - YouTube - YouTube
-
90% Chưa Biết Nếu Bị Cá Nhà Táng Nuốt Phải Lúc đang Bơi Sẽ Ra Sao
-
Cá Nhà Táng Là Cá Gì Nặng Bao Nhiêu Kg Có Nguy Hiểm Không
-
Green Biology - [ CÁ NHÀ TÁNG VÀ NHỮNG CÁI ... - Facebook
-
Cá Mập Trắng ăn Thịt Cá Nhà Táng Trước Thuyền Ngư Dân - VnExpress
-
Mối Thù Truyền Kiếp Của đại Dương: Mực Khổng Lồ "vs" Cá Nhà Táng
-
Cá Nhà Táng Là Cá Gì Nặng Bao Nhiêu Kg Có Nguy Hiểm Không ...
-
Cá Nhà Táng – Wikipedia Tiếng Việt
-
Cá Nhà Táng - Quái Vật ăn Thịt Lớn Nhất Trên Hành Tinh
-
Ca Nha Tang An Thit Nguoi - Cá Nhà Táng - .vn