Loài Zingiber Officinale (Willd.) Roscoe (Cây Gừng) | Cây Thuốc
Có thể bạn quan tâm
- Lấy lại mật khẩu
- Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta)
- Lớp Hành (Liliopsida)
- Phân Lớp Hành (Liliidae)
- Phân Lớp Thài Lài (Commelinidae)
- Bộ Gừng (Zingiberales)
- Họ Gừng (Zingiberaceae)
- Chi Amomum
- Chi Curcuma
- Chi Kaempferia
- Chi Zingiber
- Loài Zingiber officinale (Willd.) Roscoe (Cây Gừng)
- Họ Gừng (Zingiberaceae)
- Bộ Lúa (Poales)
- Bộ Gừng (Zingiberales)
- Phân lớp Ráy (Aridae)
- Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida)
- Lớp Hành (Liliopsida)
- Ngành Thông (Pinophyta)
- Danh Mục Cây Thuốc
- Liên hệ
Loài Zingiber officinale (Willd.) Roscoe (Cây Gừng)
Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) » Lớp Hành (Liliopsida) » Phân Lớp Thài Lài (Commelinidae) » Bộ Gừng (Zingiberales) » Họ Gừng (Zingiberaceae) » Chi ZingiberKhương
Tên khoa học:Zingiber officinale (Willd.) Roscoe
Họ:Gừng (Zingiberaceae)
Tên nước ngoài:Zingiber (Anh), Gingembre, Amome des Indes (Pháp)
Mẫu thu hái tại:Tuy Hòa-Phú Yên, ngày 01 tháng 06 năm 2009
Số hiệu mẫu:G 0609
Thân khí sinh là thân cỏ nhiều năm, cao khoảng 1 m. Thân rễ có khi phồng thành củ. Thân rễ (quen gọi là củ) không có hình dạng nhất định, phân nhánh trên một mặt phẳng, làm thành nhiều đốt, kích thước không đều, dài 3-7 cm, dày 0,5-1,5 cm, mặt ngoài màu trắng tro hay vàng nhạt, có vết nhăn dọc, ở đầu đốt có vết tích của thân cây đã rụng, trên các đốt có vết sẹo của các lá khô (vảy), vết bẻ màu trắng tro hoặc ngà vàng, lõi tròn rõ, mùi thơm, vị cay nóng. Lá không cuống, mọc so le thành 2 dãy, hình ngọn giáo, thắt lại ở gốc, đầu nhọn dài 15-20 cm, rộng 2 cm, mặt trên màu lục sẫm bóng, mặt dưới nhạt; gân lá song song. Bẹ nhẵn, có thể ôm vào nhau thành một thân giả. Lưỡi nhỏ dạng màng, nhẵn, chia 2 thùy cạn.
Hoa thức và Hoa đồ:Tiêu bản:
Thân rễ Biểu bì gồm một lớp tế bào hình chữ nhật, nhỏ xếp tương đối đều đặn. Dưới lớp biểu bì là mô mềm vỏ gồm 5-6 lớp tế bào hơi dẹp, vách tẩm chất gỗ. Phía dưới lớp mô mềm vỏ này có khoảng 5 lớp bần. Mô mềm vỏ khuyết, tế bào tròn, vách mỏng, có thể bị bẹp lại và nhăn nheo đối với thân rễ già. Nội bì đai Caspary, trụ bì gồm 1 lớp tế bào kích thước không đều, có xu hướng bị ép dẹp bởi các bó libe gỗ nằm gần đó. Vòng nội bì và trụ bì gần như liên tục. Mô mềm tủy là những tế bào hình tròn, to hơn tế bào mô mềm vỏ. Rất nhiều bó libe gỗ tập trung thành 1 vòng sát trụ bì và rải rác khắp mô mềm vỏ và mô mềm tuỷ. Mỗi bó có 1-6 mạch gỗ, libe chồng lên gỗ. Tế bào tiết chứa tinh dầu màu vàng tươi rất nhiều trong mô mềm vỏ và tủy. Thân khí sinh Cấu tạo từ nhiều bẹ lá ôm lấy lõi thân. - Bẹ lá: Hình lưỡi liềm. Biểu bì trên hình đa giác, có kích thước lớn hơn biểu bì dưới. Mô mềm khuyết. Các bó mạch nhỏ, gồm từ 1-6 mạch gỗ, gỗ ở trên, libe ở dưới, các tế bào xung quanh hóa mô cứng. Tại đoạn có bó mạch, mô mềm và biểu bì bị ép dẹp. Ở bẹ lá ngoài cùng rải rác có biểu bì tiết. - Thân: vi phẫu hình bầu dục. Tế bào biểu bì hình chữ nhật, nhỏ. Dưới biểu bì là mô mềm khuyết hay đạo, tế bào hình tròn, vách mỏng. Trụ bì gồm 2-3 lớp tế bào uốn lượn tạo thành 1 vòng liên tục. Bên trong và ngoài vòng trụ bì có nhiều bó mạch gỗ nhỏ gồm từ 1-6 mạch gỗ, libe chồng lên gỗ. Các bó gỗ ngoài trụ bì thường có vòng mô cứng bao xung quanh, các bó phía trong thì không có. Mô mềm tủy đạo, tế bào đa giác hoặc chữ nhật, đôi khi có chừa các khuyết lớn. Ở bẹ lá và thân đều chứa rải rác tinh thể calci oxalat hình khối nhỏ, túi tiết và tế bào tiết rải rác trong vùng mô mềm. Lá Mặt trên lõm, mặt dưới lồi, tế bào biểu bì hình đa giác, biểu bì dưới nhỏ hơn biểu bì trên, biểu bì tiết có cả ở 2 mặt. Mô mềm khuyết. Nhiều bó mạch xếp thành hàng, gỗ ở trên, libe ở dưới, vòng mô cứng nằm dưới libe. Bó gỗ ở gân giữa là lớn nhất và nhỏ dần về 2 phía. Túi tiết và tế bào tiết rải rác trong vùng mô mềm. Ở 2 bên phiến lá, dưới biểu bì trên có 1 lớp tế bào hạ bì lớn, không liên tục và 3 lớp mô mềm khá giống mô giậu, nhưng tế bào ngắn hơn. Trên biểu bì dưới cũng có 1 lớp hạ bì. Biểu bì lá: Cả 2 mặt đều có lỗ khí nhưng biểu bì dưới có nhiều hơn, lỗ khí kiểu 1 lá mầm, các tế bào bạn có dạng hình chữ nhật ngắn hay lục giác. Biểu bì trên xếp đều đặn và thẳng hàng hơn biểu bì dưới.
Đặc điểm bột dược liệu:Bột thân rễ màu nâu vàng, mùi thơm, vị cay. Gồm có các thành phần sau: mảnh bần màu vàng nâu, gồm nhiều tế bào vách hơi dày. Mảnh mô mềm gồm những tế bào hình đa giác, rải rác có chứa tế bào tiết tinh dầu màu vàng nhạt hoặc tinh bột. Tinh bột hình trứng, có vân rõ, tễ nằm gần đầu nhọn, kích thước 20-24x10-17 μm. Sợi có vách mỏng, phía trong có lỗ trao đổi. Mảnh mạch vạch, mạch vòng, mạch điểm.
Phân bố, sinh học và sinh thái:Chi Zingiber ở châu Á có khoảng 45 loài, Việt Nam có 11 loài. Gừng là loại cây gia vị cổ điển được trồng ở nhiều nước trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, từ Đông Á đến Đông Nam Á và Nam Á. Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản là những nước trồng Gừng nhiều nhất thế giới. Ở Việt Nam, cây được trồng ở khắp các địa phương, từ vùng núi cao đến đồng bằng và ngoài các hải đảo. Trong nhân dân hiện nay có nhiều loại: gừng trâu có thân to, củ to thường để làm mứt, có nhiều ở các vùng núi thấp; gừng gié có thân và củ đều nhỏ nhưng rất thơm. Cây ưa ẩm, ưa sáng. Cây trồng thường có hoa năm thứ 2. Chưa thấy cây có quả và hạt. Gừng trồng sau 1 năm nếu không thu hoạch sẽ có hiện tượng tàn lụi (phần trên mặt đất) qua đông. Thời gian sinh trưởng mạnh của cây trùng với mùa hè-thu nóng và ẩm. Gừng tái sinh dễ dàng bằng những đoạn thân rễ có nhú mầm, có thể trồng quanh năm nhưng tốt nhất vào mùa xuân. Ra hoa vào mùa hạ và mùa thu.
Bộ phận dùng:Thân rễ (Rhizoma Zingiberis) thu hái vào mùa thu đông, dùng tươi là sinh khương, phơi hoặc sấy khô là can khương. Còn dùng tiêu khương (gừng khô thái lát dày, sao sém vàng, đang nóng, vẩy vào ít nước, đậy kín, để nguội); bào khương (gừng khô đã bào chế); thán khương (gừng khô thái lát dày, sao cháy đen tồn tính). Công dụng: Bột rễ trị bệnh mắt hột tốt, làm giác mạc trở nên trong, giảm sự thẩm thấu dưới niêm mạc, tăng hoạt tính sống của mô mắt. Trị đau bụng lạnh, đầy trướng không tiêu, nôn mửa ỉa chảy, tứ chi lạnh, đàm ẩm, ho suyễn.
Thành phần hóa học:Gừng chứa 2-3% tinh dầu với thành phần chủ yếu là các hợp chất hydrocarbon sesquiterpenic: β-zingiberen (35%), ar-curcumenen (17%), β-farnesen (10%) và một lượng nhỏ các hợp chất alcol monoterpenic như geraniol, linalol, borneol. Nhựa dầu chứa 20-25% tinh dầu và 20-30% các chất cay. Thành phần chủ yếu của nhóm chất cay là zingeron, shogaol và zingerol, trong đó gingerol chiếm tỷ lệ cao nhất. Ngoài ra, trong tinh dầu Gừng còn chứa α-camphen, β-phelandren, eucalyptol và các gingerol. Cineol trong Gừng có tác dụng kích thích khi sử dụng tại chỗ và có tác dụng diệt khuẩn trên nhiều vi khuẩn.
‹ Chi Zingiber lên Bộ Lúa (Poales) ›- Bản in
Từ khóa » Gừng Là Gì
-
Gừng
-
Gừng – Wikipedia Tiếng Việt
-
Gừng Có Tác Dụng Gì đối Với Cơ Thể? | Vinmec
-
Củ Gừng Tươi Có Tác Dụng Gì Và Cách Sử Dụng Như Thế Nào?
-
GỪNG - OPC Pharma
-
Gừng: Vị Thuốc Đông Y đến Từ Gia Vị Quen Thuộc Hàng Ngày
-
Gừng Gia Vị Làm Thuốc - Y Học Cổ Truyền
-
Gừng | BvNTP - Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương
-
Gừng Có Tác Dụng Gì?
-
Tác Dụng Của Gừng - Tuổi Trẻ Online
-
Tác Dụng Của Gừng, Cách Sử Dụng Và Những Lưu ý Khi Sử Dụng Gừng
-
Sinh Khương (Gừng): Vị Thuốc Dễ Kiếm Với Nhiều Công Dụng - YouMed
-
Tác Dụng Của Trà Gừng: Tốt Nhưng đừng Uống Quá Nhiều
-
Cây Gừng Trong Tiếng Anh Là Gì: Định Nghĩa, Ví Dụ. - StudyTiengAnh