Lời Mở đầu - Tình Cảnh Giai Cấp Công Nhân Anh
Có thể bạn quan tâm
F. Engels Tình cảnh giai cấp công nhân Anh
LỜI MỞ ĐẦU
Lịch sử giai cấp c�ng nh�n Anh bắt đầu từ nửa sau thế kỷ XVIII, c�ng với việc ph�t minh ra m�y hơi nước v� những m�y l�m b�ng. Như ta đ� biết, những ph�t minh ấy l� nguồn gốc của c�ch mạng c�ng nghiệp, cuộc c�ch mạng đ� biến đổi to�n bộ x� hội c�ng d�n, m� hiện nay người ta chỉ mới bắt đầu nhận thức được � nghĩa lịch sử của n�. Anh l� nước điển h�nh về sự biến đổi ấy, n� c�ng diễn ra lặng lẽ, th� c�ng mạnh mẽ; do đ�, nước Anh cũng l� nước điển h�nh về sự ph�t triển của giai cấp v� sản, kết quả chủ yếu của sự biến đổi đ�. Chỉ ở Anh mới c� thể nghi�n cứu to�n diện giai cấp v� sản tr�n tất cả c�c mối quan hệ của n�. Ở đ�y, ch�ng ta kh�ng x�t đến lịch sử cuộc c�ch mạng ấy, cũng như kh�ng x�t đến � nghĩa to lớn của n� đối với hiện tại v� tương lai. Việc đ� phải d�nh cho một t�c phẩm lớn hơn sau n�y. Hiện nay, ta chỉ giới hạn ở mấy điểm cần thiết để l�m s�ng tỏ c�c sự kiện sau đ�y, để hiểu r� t�nh cảnh hiện tại của giai cấp v� sản Anh. Khi chưa d�ng m�y m�c, việc k�o sợi, dệt vải, đều l�m ở nh� người thợ. Vợ v� con g�i k�o sợi, người chồng đem sợi ấy dệt th�nh vải; nếu anh ta kh�ng tự dệt lấy th� đem sợi đi b�n. C�c gia đ�nh thợ dệt ấy phần đ�ng sống ở n�ng th�n, gần th�nh phố v� c� thể l�m đủ ăn v� l�c đ� về mặt nhu cầu vải th� thị trường địa phương c�n c� � nghĩa quyết định, thậm ch� hầu như l� thị trường duy nhất; c�n sức mạnh gh� gớm của cạnh tranh, sau n�y mới xuất hiện c�ng với sự x�m chiếm c�c thị trường nước ngo�i v� mở rộng bu�n b�n, bấy giờ c�n chưa ảnh hưởng mấy tới tiền c�ng. Th�m v�o đ� sự tăng l�n li�n tục của nhu cầu tr�n thị trường trong nước, song song với sự tăng l�n từ từ của d�n số, đ� đảm bảo cho mọi người c�ng nh�n đều c� việc l�m; ngo�i ra kh�ng thể c� cạnh tranh mạnh mẽ giữa họ với nhau, do điều kiện cư tr� ph�n t�n của họ ở n�ng th�n. Cho n�n những người thợ dệt thường d�nh dụm được ch�t �t v� thu� được một mảnh đất nho nhỏ để l�m trong những l�c rảnh rang - m� th� giờ muốn rảnh bao nhi�u cũng được, bởi v� anh ta muốn dệt bao nhi�u hay dệt l�c n�o l� tuỳ �. Thực ra th� về nghề n�ng anh ta cũng tồi, trồng trọt qua loa v� cũng chẳng thu lợi được mấy; nhưng �t ra th� anh ta cũng kh�ng phải l� một người v� sản; như người Anh thường n�i, anh ta đ� đ�ng cọc tr�n mảnh đất qu� hương; anh ta c� nơi ở cố định v�, trong x� hội, anh ta đứng cao hơn một bậc so với người c�ng nh�n Anh ng�y nay. Như vậy người lao động sống một cuộc sống dễ chịu v� ấm c�ng, một cuộc đời ngay thẳng, y�n b�nh, với tất cả l�ng th�nh k�nh v� t�n nghĩa; so với những người c�ng nh�n sau n�y th� t�nh cảnh sinh hoạt vật chất của họ kh� hơn nhiều. Họ chả cần g� phải l�m qu� sức; họ muốn l�m bao nhi�u th� l�m m� vẫn kiếm đủ d�ng; họ c� th� giờ rảnh để lao động bồi bổ sức khoẻ ở trong vườn hay ngo�i ruộng, bản th�n c�ng việc n�y lại l� một sự nghỉ ngơi đối với họ, ngo�i ra họ c�n c� thể tham gia những cuộc vui chơi giải tr� của h�ng x�m l�ng giềng; v� tất cả c�c tr� chơi đ�: bowling, b�ng ch�y, v.v. lại c� t�c dụng rất tốt để bảo vệ sức khoẻ v� r�n luyện th�n thể cho họ. Họ phần nhiều khoẻ mạnh, rắn chắc, thể chất của họ kh�ng kh�c mấy, thậm ch� chẳng kh�c g� thể chất của những người n�ng d�n l�ng giềng. Con c�i họ lớn l�n trong kh�ng kh� trong l�nh của n�ng th�n, v� nếu ch�ng c� gi�p đỡ cha mẹ l�m việc th� cũng chỉ thỉnh thoảng th�i, chứ đương nhi�n kh�ng phải chuyện mỗi ng�y l�m t�m hay mười hai tiếng đồng hồ.C� thể h�nh dung được những đặc trưng đạo đức v� tr� tuệ của giai cấp đ� l� g�. Họ sống t�ch rời c�c th�nh phố l� nơi họ kh�ng hề bước ch�n đến, sợi v� vải của họ được trao cho những thương nh�n lưu động để đổi lấy tiền c�ng; đến nỗi c� những người gi� ở s�t th�nh phố m� chưa hề bước ch�n đến đ�, cho đến khi m�y m�c cướp mất thu nhập của họ v� l�i cuốn họ ra th�nh phố kiếm việc l�m; về mặt đạo đức v� tr� tuệ, họ ở c�ng tr�nh độ với n�ng d�n, l� những người m� phần lớn họ c� quan hệ trực tiếp do mảnh đất nhỏ họ lĩnh canh. Họ coi squire - t�n địa chủ lớn nhất v�ng - như cấp tr�n tự nhi�n của m�nh, c� g� th� hỏi hắn, c� tranh chấp lặt vặt g� với nhau th� nhờ hắn khu xử, v� t�n k�nh hắn theo đ�ng mối quan hệ gia trưởng như thế. Họ l� những người "đ�ng t�n k�nh", những người chồng, người cha tốt, sống rất đạo đức, v� chẳng c� l� do g� m� sống thiếu đạo đức - xung quanh chẳng c� tiệm rượu cũng chẳng c� chỗ chơi bời bậy bạ; thỉnh thoảng c� đi giải kh�t t� ch�t th� chủ qu�n cũng lại l� người đ�ng k�nh trọng, thường l� một t� điền lớn, b�n rượu ngon, th�ch trật tự nghi�m ngặt v� đ�ng cửa sớm. Họ suốt ng�y giữ con c�i b�n họ trong gia đ�nh v� gi�o dục ch�ng theo tinh thần phục t�ng v� k�nh sợ Thượng đế. Quan hệ gia đ�nh gia trưởng cứ giữ nguy�n khi con c�i chưa c� vợ c� chồng. Bọn trẻ lớn l�n c�ng với b� bạn trong sự th�n thiết v� hồn nhi�n kiểu th�n d� cho tới khi lập gia đ�nh; v� nếu quan hệ t�nh dục trước khi cưới l� hiện tượng hầu như phổ biến, th� cũng l� tr�n cơ sở hai b�n đều thừa nhận việc kết h�n l� một nghĩa vụ đạo đức, v� sau đ� lễ cưới lại l�m mọi việc đ�u v�o đ�. T�m lại, người lao động c�ng nghiệp Anh bấy giờ sống v� suy nghĩ theo kiểu m� ng�y nay thỉnh thoảng c�n gặp ở một v�i nơi tr�n đất Đức, nghĩa l� sống c�ch biệt v� xa l�nh, kh�ng c� hoạt động g� về mặt tinh thần v� kh�ng c� thay đổi g� lớn trong ho�n cảnh sinh hoạt của m�nh. Rất hiếm người biết đọc, người biết viết lại c�ng hiếm; họ đi lễ nh� thờ rất đều, kh�ng b�n ch�nh trị, kh�ng hoạt động �m mưu, kh�ng trầm ng�m suy nghĩ, rất th�ch hoạt động thể dục, nghe Kinh th�nh với l�ng th�nh k�nh được truyền dạy từ thuở nhỏ, v� do nhẫn nhục kh�ng đ�i hỏi g�, họ sống rất ho� thuận với c�c giai cấp bề tr�n. Nhưng ngược lại, về mặt tinh thần, họ như người đ� chết; họ chỉ sống v� lợi �ch nhỏ mọn của bản th�n, v� c�i khung cửi, v� mảnh vườn; v� kh�ng biết g� đến phong tr�o mạnh mẽ đang l�i cuốn to�n thể lo�i người ở b�n ngo�i x�m l�ng của họ. Họ thoải m�i với cuộc sống y�n tĩnh, tầm thường của m�nh, v� nếu kh�ng c� c�ch mạng c�ng nghiệp th� họ sẽ kh�ng bao giờ rời bỏ lối sống ấy; n� thật ra l� đầy thi vị v� rất ấm c�ng nhưng lại kh�ng xứng với một con người. Thực ra, họ kh�ng phải l� những con người, m� chỉ l� những c�i m�y l�m việc, phục vụ cho một số �t nh� qu� tộc, l� những kẻ cho đến b�y giờ vẫn chi phối lịch sử. C�ch mạng c�ng nghiệp chỉ th�c đẩy t�nh trạng ấy tới kết cục tất yếu của n�, bằng c�ch ho�n to�n biến những người lao động th�nh những c�i m�y đơn thuần, v� cướp nốt c�i phần hoạt động độc lập cuối c�ng của họ; nhưng cũng ch�nh do đ� m� lại bắt họ phải suy nghĩ v� đ�i hỏi một địa vị xứng đ�ng với con người. Nếu ở Ph�p l� ch�nh trị, th� ở Anh, c�ng nghiệp v� phong tr�o của x� hội c�ng d�n n�i chung đ� l�i cuốn v�o cơn lốc lịch sử những giai cấp cuối c�ng h�y c�n hờ hững với lợi �ch chung của nh�n loại. Ph�t minh đầu ti�n l�m thay đổi s�u sắc t�nh cảnh của người lao động Anh l� m�y Jenny của anh thợ dệt James Hargreaves ở Stanhill, gần Blackburn, Bắc Lancashire (năm 1764). N� l� tiền th�n th� sơ của m�y mule sau n�y; người ta quay m�y bằng tay; nhưng c�c xa quay tay thường chỉ c� một cọc suốt, th� m�y n�y c� từ mười s�u đến mười t�m cọc suốt do một c�ng nh�n điều khiển. Nhờ vậy, c� thể sản xuất được rất nhiều sợi hơn trước; trước kia cứ một người thợ dệt th� phải ba người k�o sợi lu�n tay, m� thường kh�ng bao giờ c� đủ sợi v� người thợ dệt nhiều khi phải chờ đợi, ng�y nay th� sợi lại nhiều qu� sức l�m của số thợ dệt hiện c�. Nhu cầu về h�ng dệt, vốn đ� tăng, lại c�ng tăng l�n nữa khi gi� h�ng dệt hạ xuống do kết quả của sự giảm chi ph� sản xuất sợi nhờ c� m�y mới. Người ta cần nhiều thợ dệt hơn, v� tiền c�ng thợ dệt tăng l�n. B�y giờ v� dệt kiếm được nhiều tiền hơn, anh thợ bỏ lơ mảnh vườn con v� dốc sức v�o việc dệt vải. Thời đ�, một gia đ�nh bốn người lớn với hai đứa trẻ (l�m việc cuộn chỉ), l�m một ng�y mười tiếng, c� thể kiếm được mỗi tuần bốn Bảng, v� nhiều khi c�n được hơn nữa khi h�ng chạy v� việc nhiều; lại thường c� khi với khung cửi của m�nh, một anh thợ dệt kiếm được tới hai Bảng mỗi tuần. Giai cấp thợ dệt ki�m d�n c�y dần mất hẳn đi v� trở th�nh giai cấp thợ dệt mới, ho�n to�n sống bằng tiền c�ng, kh�ng c� ch�t t�i sản n�o, ngay cả t�i sản giả tạo dưới h�nh thức một mảnh đất đi thu�; v� như vậy họ đ� trở th�nh những người v� sản (working men). Th�m v�o đ�, mối quan hệ trước đ�y giữa người k�o sợi v� người dệt vải cũng bị xo� bỏ. Trước kia, trong chừng mực c� thể, việc k�o sợi v� dệt vải được tiến h�nh ngay trong một ng�i nh�. B�y giờ v� m�y Jenny cũng như khung cửi đ�i hỏi phải c� sức lực mới sử dụng được, n�n đ�n �ng cũng bắt đầu k�o sợi, v� cả gia đ�nh sống nhờ v�o c�ng việc ấy; ngược lại một số gia đ�nh kh�c th� bắt buộc phải vứt bỏ c�i guồng xe sợi cũ kỹ v� lỗi thời, v� nếu kh�ng c� khả năng mua một m�y Jenny th� họ bắt buộc phải sống nhờ v�o thu nhập m� c�i khung cửi đem lại. Như vậy, sự ph�n c�ng lao động, bắt đầu với việc k�o sợi v� việc dệt vải, từ đ�y đ� được ph�t triển đến v� tận trong c�ng nghiệp. C�i m�y đầu ti�n c�n chưa ho�n hảo ấy kh�ng những đ� l�m cho giai cấp vô sản công nghiệp ph�t triển m� c�n th�c đẩy giai cấp vô sản nông nghiệp ra đời. Cho đến l�c bấy giờ, người ta mới chỉ biết c� một số đ�ng tiểu điền chủ gọi l� những n�ng d�n tự canh (yeoman), họ cũng sống một c�ch thầm lặng, kh�ng hoạt động tr� �c, v� thiếu mọi sinh hoạt tinh thần như những người thợ dệt ki�m d�n c�y ở b�n cạnh họ. Họ c�y cấy tr�n mảnh đất của m�nh ho�n to�n theo lối cũ kĩ v� kh�ng hiệu quả của cha �ng, ngoan cố chống lại mọi điều mới mẻ, trải qua bao nhi�u thế hệ vẫn kh�ng thay đổi. Trong số đ� cũng c� nhiều chủ đất nhỏ, nhưng kh�ng phải t� điền theo nghĩa hiện nay; m� l� những người hoặc do một khế ước thu� đất kế thừa, hoặc do một tục lệ l�u đời n�o đ� m� được cha �ng truyền lại cho mảnh đất, họ lập nghiệp vững v�ng tr�n đất ấy như l� đất của ch�nh m�nh. Khi những c�ng nh�n c�ng nghiệp kh�ng l�m nghề n�ng nữa, th� nhiều mảnh ruộng thu� bị bỏ hoang v� một giai cấp mới gồm những tá điền lớn, gọi l� tenants-at-will, đến lập nghiệp tr�n những ruộng đất ấy; họ thu� năm chục, một trăm, hai trăm acre hay hơn nữa, c� thể tới hết năm th� ngừng thu�, v� biết tăng th�m thu nhập của đất đai đ� nhờ canh t�c tốt hơn v� sản xuất theo quy m� lớn hơn. Họ c� thể b�n sản phẩm rẻ hơn nhiều so với yeoman, người n�y cuối c�ng chỉ c�n c�ch đem b�n mảnh ruộng vườn kh�ng đủ nu�i sống m�nh nữa, v� mua một m�y Jenny hay một khung cửi; hoặc đi l�m thu� cho t� điền lớn, với tư c�ch l� người l�m c�ng nhật, người v� sản n�ng th�n. Với t�nh lạc hậu bẩm sinh v� phương ph�p l�m ruộng cẩu thả do cha �ng truyền lại, m� anh ta kh�ng thể khắc phục được, th� anh ta kh�ng c�n c� con đường n�o kh�c; một khi bị bắt buộc phải cạnh tranh với những người biết canh t�c đất đai một c�ch hợp l� hơn, v� c� mọi thuận lợi do nền kinh doanh lớn v� do bỏ vốn để cải tạo chất đất đem lại. Nhưng sự ph�t triển của c�ng nghiệp kh�ng phải chỉ dừng lại ở đ�y. Một v�i nh� tư bản bắt đầu đặt những m�y Jenny v�o những t�a nh� lớn v� d�ng sức nước cho m�y chạy, như vậy họ c� thể r�t bớt số c�ng nh�n v� b�n sợi với gi� rẻ hơn những người k�o sợi c� thể c�n phải quay m�y bằng tay. Người ta lu�n lu�n t�m c�ch cải tiến cấu tạo của m�y Jenny, đến nỗi n� l�c n�o cũng c� thể trở th�nh cổ lỗ, cần phải cải tiến hoặc thay mới; v� nếu như nh� tư bản c�n c� thể đứng vững được bằng c�ch d�ng sức nước để chạy cả những m�y cũ, th� đối với anh thợ k�o sợi c� thể, điều đ� lại kh�ng thể được. Nếu như đ� m� chế độ c�ng xưởng đặt được cơ sở th� nhờ c�i m�y sợi con do anh thợ cạo Richard Arkwright ở Preston, Bắc Lancashire ph�t minh năm 1767, chế độ ấy lại mở rộng th�m. C�i m�y n�y, m� ở Đức thường gọi l� Kettenstuhl, c�ng với m�y hơi nước l� ph�t minh về m�y m�c quan trọng nhất của thế kỷ XVIII. Ngay từ đầu, n� đ� được thiết kế để chạy với động cơ, v� dựa tr�n những nguy�n l� ho�n to�n mới. Năm 1785, Samuel Crompton ở Firwood, Lancashire đ� kết hợp những đặc điểm của m�y Jenny v� m�y sợi con để chế th�nh máy mule, v� cũng khoảng thời gian ấy, khi m� Arkwright ph�t minh được máy chải v� máy sợi thô; th� trong nghề k�o sợi, chế độ c�ng xưởng trở th�nh chế độ thống trị duy nhất. Dần dần, do một số cải biến nhỏ, người ta bắt đầu sử dụng những m�y ấy trong việc k�o sợi len, rồi sau đ� (khoảng mười năm đầu thế kỷ XIX), trong việc k�o sợi lanh, như vậy l� loại những c�ng việc l�m bằng tay ra khỏi hai ng�nh n�y. Nhưng người ta vẫn kh�ng dừng lại ở đ�y; Trong những năm cuối của thế kỷ XVIII, một mục sư n�ng th�n l� b�c sĩ Cartwright, ph�t minh ra khung cửi máy v� khoảng 1804, đ� cải tiến n� đến mức độ c� thể cạnh tranh thắng lợi được với thợ dệt tay. Máy hơi nước do James Watt ph�t minh năm 1764 v� được �p dụng từ 1785 để chạy m�y sợi, đ� khiến những m�y m�c ấy trở th�nh quan trọng bội phần. Nhờ c� những ph�t minh về sau mỗi năm một ho�n thiện ấy, lao động bằng máy móc đã thắng lao động bằng chân tay trong c�c ng�nh chủ yếu của c�ng nghiệp Anh; v�, to�n bộ lịch sử sau đ� của nền c�ng nghiệp Anh chỉ l� thuật lại t�nh h�nh người lao động thủ c�ng đ� bị m�y m�c đ�nh bật khỏi hết vị tr� n�y đến vị tr� kh�c như thế n�o. Kết quả l�: một mặt những h�ng h�a c�ng xưởng giảm gi� nhanh ch�ng, thương nghiệp v� c�ng nghiệp phồn thịnh, hầu hết c�c thị trường nước ngo�i kh�ng c� quan thuế bảo hộ bị chiếm đoạt, tư bản v� t�i sản quốc d�n tăng l�n nhanh ch�ng; mặt kh�c, giai cấp v� sản tăng l�n c�n nhanh hơn nhiều về số lượng, giai cấp c�ng nh�n mất mọi t�i sản, mất mọi niềm tin v�o c�ng ăn việc l�m, phong tục đồi bại, ch�nh trị rối ren, v� tất cả những sự kiện rất kh� chịu đối với c�c giai cấp c� của ở Anh m� ch�ng ta sẽ nghi�n cứu ở đ�y. Tr�n đ�y ta đ� thấy chỉ một c�i m�y th� sơ như m�y Jenny cũng đ� g�y bao nhi�u biến đổi trong địa vị x� hội của những giai cấp lớp dưới, cho n�n ta sẽ chẳng lấy g� l�m ngạc nhi�n về t�c dụng g�y n�n bởi cả một hệ thống m�y m�c bổ sung cho nhau v� cấu tạo tinh vi, tiếp nhận nguy�n liệu của ta để trao lại cho ta những tấm vải dệt ho�n hảo. Tuy nhi�n, ch�ng ta h�y theo d�i kỹ c�ng hơn sự ph�t triển của c�ng nghiệp Anh1* v� h�y bắt đầu bằng ng�nh chủ yếu l� công nghiệp bông. Trong những năm 1771-1775, con số trung b�nh về nhập khẩu b�ng chưa c�n h�ng năm chưa tới 5 triệu pound, m� năm 1841 con số ấy đ� l� 528 triệu, v� năm 1844 l�n tới tr�n 600 triệu. Năm 1834, nước Anh xuất khẩu 556 triệu yard vải, 76,5 triệu pound sợi b�ng v� 1.200.000 Bảng h�ng dệt kim bằng b�ng. Cũng năm ấy, c�ng nghiệp b�ng sử dụng tới hơn 8 triệu cọc sợi, 110.000 khung cửi m�y v� 250.000 khung cửi tay, kh�ng kể những m�y sợi con, v� theo thống k� của McCulloch th� trong to�n Vương quốc li�n hợp c� gần một triệu rưởi người trực tiếp hoặc gi�n tiếp sống nhờ ng�nh c�ng nghiệp ấy v� trong số n�y chỉ c� 220.000 người l�m trong c�c nh� m�y; động lực d�ng trong c�c c�ng xưởng ấy th� sức hơi nước l� 33.000 sức ngựa, v� sức nước l� 11.000 sức ngựa. Ng�y nay những con số ấy đ� bị vượt xa v� ch�ng ta c� thể kh�ng ngần ngại c�ng nhận rằng về số lượng v� c�ng suất m�y m�c, cũng như số lượng c�ng nh�n, năm 1845 đ� gấp rưỡi năm 1834. Lancashire l� trung t�m, cũng l� c�i n�i của c�ng nghiệp b�ng. C�ng nghiệp n�y đ� ho�n to�n c�ch mạng h�a, biến tỉnh ấy từ một b�i lầy �m u, rất �t khai khẩn, th�nh một địa phương n�o nhiệt hoạt động s�i nổi; trong 80 năm l�m tăng d�n số l�n gấp mười lần, v� như l� c� chiếc gậy thần, n� đ� l�m mọc l�n những th�nh phố khổng lồ như Liverpool v� Manchester, gồm đến 70 vạn d�n, v� c�c v�ng ngoại �: Bolton (6 vạn d�n), Rochdale (7 vạn rưởi d�n), Oldham (5 vạn d�n), Preston (6 vạn d�n), Ahston v� Stalybridge (4 vạn d�n), v� cả một loạt th�nh phố c�ng xưởng kh�c. Lịch sử Nam Lancashire đ� được chứng kiến những điều kỳ diệu nhất của thời hiện đại, d� người ta kh�ng th�ch n�i tới, v� những điều kỳ diệu ấy ch�nh l� do c�ng nghiệp b�ng đ� tạo n�n. Ngo�i ra, Glasgow ở Scotland l� trung t�m của khu vực b�ng thứ hai, gồm Lanarkshire v� Renfrewshire; v� ở đ�y cũng vậy, d�n số th�nh phố chủ yếu n�y, từ khi bắt đầu c� ng�nh c�ng nghiệp ấy cho đến nay, đ� tăng từ 3 vạn l�n 30 vạn. Nghề dệt kim bít tất ở Nottingham v� Derby, do việc hạ gi� sợi, cũng đ� được đẩy l�n một bước mới; v� một bước thứ hai do sự cải tiến m�y dệt kim, khiến từ nay tr�n một m�y c� thể đồng thời dệt hai chiếc tất. Nghề làm đăng-ten cũng trở th�nh một ng�nh c�ng nghiệp quan trọng từ năm 1777 l� năm ph�t minh được máy dệt tuyn; �t l�u sau, Lindley ph�t minh máy làm đăng-ten v� sau đ�, năm 1809, Heathcoat ph�t minh máy ống sợi. Việc l�m đăng-ten nhờ đ� được đơn giản h�a rất nhiều, v� do gi� hạ, sự ti�u d�ng đăng-ten tăng l�n rất nhiều đến nỗi hiện nay c� tới �t ra l� 20 vạn người sống nhờ ng�nh n�y. Những trung t�m chủ yếu của c�ng nghiệp ấy l� Nottingham, Leicester v� ở miền T�y nước Anh (Wiltshire, Devonshire, v.v.). Những ng�nh phụ thuộc v�o c�ng nghiệp b�ng, như ng�nh tẩy trắng, ng�nh nhuộm, ng�nh in hoa, cũng ph�t triển như vậy. Nhờ d�ng Clo thay cho Ôxy trong việc tẩy trắng, nhờ sự tiến bộ nhanh ch�ng của ng�nh h�a học c� ảnh hưởng đến ngành nhuộm v� in hoa, v� nhờ một loạt ph�t minh rực rỡ nhất trong lĩnh vực m�y m�c th�c đẩy sự ph�t triển của ng�nh in hoa; những ng�nh n�y đ� được sự th�c đẩy, sự th�c đẩy n�y cộng với sự mở rộng nhu cầu do sự ph�t triển của nghề sản xuất sợi b�ng g�y n�n, l�m cho những ng�nh c�ng nghiệp ấy đạt đến mức thịnh vượng chưa từng thấy. Trong nghề làm len, cũng c� hoạt động tương tự; trước kia đ� l� ng�nh chủ yếu của c�ng nghiệp Anh, nhưng sản phẩm của những năm đầu so với ng�y nay thật kh�ng đ�ng kể. Năm 1782, do thiếu c�ng nh�n, số l�ng cừu thu hoạch trong ba năm trước vẫn chưa được chế biến, v� nhất định vẫn c�n để đ� nếu kh�ng c� sự viện trợ của m�y m�c mới ph�t minh để k�o len th�nh sợi. Việc d�ng c�c m�y m�c ấy để k�o sợi len tiến h�nh c� kết quả tốt. Từ đ� ở c�c khu chế biến len cũng bắt đầu c� sự tiến triển nhảy vọt như ở c�c khu b�ng vải sợi. Năm 1738 ở khu vực phía tây Yorkshire dệt được 7 vạn rưởi tấm vải len, nhưng năm 1817 th� dệt được 49 vạn tấm; v� c�ng nghiệp len ph�t triển nhanh ch�ng đến nỗi ngay năm 1834 đ� xuất khẩu nhiều hơn năm 1825 tới 45 vạn tấn. Năm 1801, người ta l�m được 101 triệu pound (trong đ� c� 7 triệu nhập khẩu); năm 1835 th� l�m 180 triệu pound (trong đ� c� 42 triệu nhập khẩu). Trung t�m ch�nh của nền c�ng nghiệp ấy l� khu vực ph�a t�y Yorkshire; ở đ�y len d�i xơ được chế biến l�m len đan v.v., đặc biệt l� ở Bradford, c�n len ngắn xơ được chế biến l�m loại sợi săn v� để dệt dạ th� l�m ở c�c th�nh phố kh�c: Leeds, Halifax, Huddersfield, v.v., rồi đến một phần của Lancashire tiếp gi�p với Yorkshire, v�ng l�n cận Rochdale l� nơi m� ngo�i việc l�m c�c sản phẩm bằng b�ng, người ta c�n dệt nhiều h�ng nỉ mỏng, v� sau hết miền Tây nước Anh l� nơi sản xuất những h�ng dạ tinh xảo nhất. Ở đ�y, d�n số cũng tăng một c�ch rất đ�ng ch� �:| Năm 1801 | Năm 1831 | |
| Bradford | 29.000 dân | 77.000 dân |
| Halifax | 63.000 '' | 110.000 '' |
| Huddersfield | 15.000 '' | 34.000 '' |
| Leeds | 53.000 '' | 123.000 '' |
| Toàn bộ khu phía Tây Yorkshire | 564.000 '' | 980.000 '' |
Năm 1753: 14 hầm mỏ; năm 1800: 40 hầm mỏ; năm 1836: 76 hầm mỏ; và năm 1843: 130 hầm mỏ
Mặt kh�c, tất cả c�c hầm mỏ ng�y nay đều được khai th�c khẩn trương hơn trước nhiều. Việc khai th�c c�c mỏ thiếc, mỏ đồng và mỏ chì cũng ph�t triển tương tự; v� đi đ�i với sự ph�t triển sản xuất thuỷ tinh, một ng�nh c�ng nghiệp mới l� sản xuất đồ gốm cũng h�nh th�nh, ng�nh n�y khoảng năm 1763, nhờ Josiah Wedgwood m� trở n�n rất quan trọng. �ng l� người đầu ti�n đ� căn cứ v�o những nguy�n tắc khoa học để l�m đồ gốm, đ� th�c đẩy ph�t triển thẩm mỹ nghệ thuật v� đ� x�y dựng những xưởng sản xuất đồ gốm (potteries) ở Bắc Staffordshire, một khu rộng 8x8 dặ m, trước kia cằn cỗi, hoang vu, th� ng�y nay đầy c�ng xưởng v� nh� ở v� nu�i sống hơn 6 vạn người. Tất cả đều bị cuộn hẳn v�o d�ng th�c chung ấy. Nông nghiệp cũng đ� c� chuyển biến. Kh�ng phải chỉ l� sự chiếm hữu v� canh t�c đất đai đ� chuyển v�o tay người kh�c như ch�ng ta đ� thấy ở tr�n, n�ng nghiệp c�n bị ảnh hưởng về mặt kh�c nữa. C�c t� điền lớn bỏ vốn v�o việc cải tạo chất đất, ph� những r�o giậu kh�ng cần thiết, chống �ng, b�n ph�n, d�ng những c�ng cụ tốt hơn v� �p dụng chế độ lu�n canh c� hệ thống (cropping by rotation). Họ cũng nhờ v�o sự tiến bộ của khoa học; Sir Humphry Davy đ� th�nh c�ng trong việc �p dụng h�a học v�o n�ng nghiệp, c�n sự ph�t triển của kỹ thuật th� đ� mang lại cho c�c t� điền lớn rất nhiều thuận lợi. Th�m v�o đ�, do tăng d�n số, nhu cầu về n�ng phẩm cũng tăng nhanh đến nỗi mặc dầu từ 1760 đến hết 1834, c� 6.840.540 acre đất hoang đ� được khai khẩn, thế m� nước Anh trước kia vẫn xuất khẩu l�a m� b�y giờ phải nhập khẩu l�a m�. Về mặt kiến thiết c�c đường giao thông cũng c� hoạt động khẩn trương như vậy. Từ 1818 đến hết 1829, ở Anh v� Wales đ� l�m 1000 dặm đường l�t theo quy c�ch nhất định l� rộng 60 foot, v� hầu hết c�c đường l�t cũ đều được sửa chữa lại theo hệ thống McAdam. Ở Scotland, từ 1803, Bộ C�ng tr�nh C�ng cộng đ� l�m khoảng 900 dặm đường l�t v� hơn 1000 c�y cầu, nhờ đ� m� nh�n d�n miền n�i Scotland lập tức được tiếp x�c với văn minh. Trước kia d�n miền n�i phần lớn l�m nghề săn bắn trộm hoặc bu�n lậu; b�y giờ họ trở th�nh những nh� n�ng hoặc thợ thủ c�ng cần c�, v� mặc dầu người ta đ� lập ra những trường học ri�ng để bảo tồn ng�n ngữ Gael, nhưng do ảnh hưởng của văn minh Anh, phong tục v� ng�n ngữ Gael-Celt cũng nhanh ch�ng biến mất. Ở Ireland cũng vậy. Trước kia giữa c�c tỉnh Cork, Limerick v� Kerry l� một v�ng đất hoang vu, kh�ng c� đường xe đi, v� hiểm trở n�n đ� trở th�nh s�o huyệt của mọi kẻ bất lương, v� l� th�nh luỹ của d�n tộc Celt-Ireland ở miền Nam Ireland; ng�y nay người ta đ� xẻ những đường ngang dọc v� đ� mở đường cho văn minh x�m nhập v�o v�ng hoang vắng ấy. To�n Đại Britain, v� đặc biệt nước Anh, c�ch đ�y s�u mươi năm c�n c� những con đường cũng xấu như ở nước Ph�p hoặc nước Đức hồi đ�, ng�y nay đ� c� một mạng lưới đường l�t đẹp đẽ nhất; v� tất cả những con đường n�y cũng như hầu hết mọi c�i ở Anh, đều l� c�ng tr�nh của c�c nh� kinh doanh tư nh�n, bởi v� nh� nước kh�ng l�m hoặc hầu như kh�ng l�m g� để đ�ng g�p v�o đ�. Trước 1755, nước Anh hầu như kh�ng c� kênh đào. V�o năm đ�, ở Lancashire, một con k�nh được đ�o từ Sankey Brook tới St. Helen's; năm 1759, James Brindley đ�o con k�nh lớn đầu ti�n, l� k�nh Quận công Bridgewater, chạy từ Manchester v� c�c mỏ than xung quanh đến cửa s�ng Mersey, k�nh n�y đến gần Barton th� vượt qua s�ng Irwell bằng một cầu dẫn nước. Từ đ� hệ thống k�nh đ�o của nước Anh bắt đầu được kiến thiết, m� Brindley l� người đầu ti�n đ� n�u l�n tầm quan trọng của n�. Từ đấy người ta đ�o nhiều k�nh khắp mọi hướng v� đ� nạo v�t c�c s�ng để chạy t�u. Ri�ng ở Anh c� 2200 dặm k�nh, v� 1800 dặm đường s�ng t�u chạy được. Ở Scotland c� con k�nh Caledonia cắt ngang qua xứ n�y, ở Ireland cũng đ�o nhiều k�nh. Những c�ng tr�nh n�y cũng như c�c đường sắt v� đường bộ lớn hầu hết l� do tư nh�n hoặc c�c c�ng ty của tư nh�n đứng ra l�m. Đường sắt th� chỉ mới x�y dựng trong thời gian gần đ�y. Con đường sắt lớn đầu ti�n l� từ Liverpool đến Manchester (năm 1830); từ đ�, c�c th�nh phố lớn đều c� đường sắt nối liền nhau. London nối với Southampton, Brighton, Dover, Colchester, Cambridge, Exeter (qua Bristol) v� Birmingham; Birmingham nối với Gloucester, Liverpool, Lancaster (qua Newton v� Wigan, hay l� qua Manchester v� Bolton) v� Leeds (qua Manchester v� Halifax, hay l� qua Leicester, Derby v� Sheffield); Leeds nối với Hull v� Newcastle (qua York). Từ đ� c�n c� rất nhiều đường nh�nh dự định sẽ l�m hoặc đang x�y dựng, do đ� kh�ng bao l�u nữa sẽ c� thể đi từ Edinburgh đến London chỉ trong một ng�y. Hơi nước kh�ng những đ� c�ch mạng h�a c�c phương tiện giao th�ng đường bộ, m� cũng l�m cho giao th�ng đường thủy thay đổi hẳn. T�u chạy bằng hơi nước đầu ti�n được hạ thủy tr�n s�ng Hudson ở Bắc Mĩ năm 1807, c�n ở Đại Britain chiếc đầu ti�n được hạ thủy tr�n s�ng Clyde năm 1811. Từ đ�, ở Anh đ� đ�ng hơn 600 t�u chạy bằng hơi nước v� năm 1836, hơn 500 chiếc đậu ở c�c cảng của Anh. Đấy l� t�m tắt lịch sử c�ng nghiệp Anh trong s�u mươi năm gần đ�y, một thi�n lịch sử chưa từng thấy trong sử s�ch của lo�i người. C�ch đ�y 60-80 năm, Anh l� một nước như mọi nước kh�c, với những th�nh phố nhỏ b�, c�ng nghiệp �t ỏi v� k�m ph�t triển, d�n cư thưa thớt m� chủ yếu l� nh�n khẩu n�ng nghiệp. Ng�y nay Anh l� nước c� một kh�ng hai, với thủ đ� gồm hai triệu rưởi d�n, với nhiều th�nh phố c�ng xưởng khổng lồ, với một nền c�ng nghiệp cung cấp h�ng ho� cho to�n thế giới, v� chế tạo hầu hết mọi thứ bằng những m�y m�c phức tạp nhất; với những người d�n cần c� y�u lao động, th�ng minh v� ở rất tập trung, trong số n�y, nh�n khẩu c�ng nghiệp3 chiếm đến hai phần ba, v� bao gồm c�c giai cấp kh�c hẳn, hơn thế nữa lại l� một d�n tộc kh�c hẳn, c� những phong tục kh�c trước. Cuộc c�ch mạng c�ng nghiệp đối với Anh c� � nghĩa quan trọng ngang với cuộc c�ch mạng ch�nh trị đối với Ph�p v� cuộc c�ch mạng triết học đối với Đức. V� từ nước Anh năm 1760 đến nước Anh năm 1844 c� một khoảng c�ch �t ra cũng lớn bằng khoảng c�ch giữa nước Ph�p của ancien r�gine4 v� nước Ph�p của C�ch mạng th�ng Bẩy. Nhưng sản phẩm quan trọng nhất của cuộc c�ch mạng c�ng nghiệp ấy l� giai cấp v� sản Anh. Ch�ng ta thấy việc sử dụng m�y m�c đ� dẫn đến sự ra đời của giai cấp v� sản như thế n�o. C�ng nghiệp mở mang nhanh ch�ng đ�i hỏi phải c� b�n tay c�ng nh�n; tiền lương tăng l�n v� do đ� từng đ�m lao động từ c�c khu n�ng nghiệp lũ lượt k�o ra th�nh thị. D�n số tăng l�n nhanh ch�ng lạ thường, v� hầu hết số d�n tăng đ� l� thuộc về giai cấp c�ng nh�n. Mặt kh�c, ở Ireland, m�i đến đầu thế kỷ XVIII t�nh h�nh mới được y�n tĩnh; ở đ�y d�n số đ� giảm mất tr�n một phần mười do bị người Anh t�n s�t một c�ch d� man trong c�c cuộc nổi dậy trước kia, ng�y nay cũng tăng l�n nhanh, đặc biệt l� từ khi sự ph�t triển của c�ng nghiệp bắt đầu thu h�t rất nhiều người Ireland sang Anh. Những th�nh phố c�ng xưởng v� thương nghiệp lớn của Đại Britain đ� mọc l�n như thế, trong đ� �t ra cũng c� 3/4 d�n số l� thuộc giai cấp c�ng nh�n, c�n giai cấp tiểu tư sản chỉ gồm những người tiểu thương v� một số rất �t thợ thủ c�ng. Nhưng, nền c�ng nghiệp mới ra đời c� thể lớn mạnh nhanh ch�ng như vậy, chỉ l� v� n� đ� thay c�ng cụ bằng m�y m�c, thay xưởng thợ thủ c�ng bằng nh� m�y, v� do đ� đ� biến những người lao động trong giai cấp trung gian th�nh giai cấp v� sản lao động v� bọn l�i bu�n lớn trước kia th�nh chủ xưởng; n� đ� loại trừ giai cấp tiểu tư sản v� khiến cho trong d�n cư chỉ c�n sự đối lập giữa c�ng nh�n v� nh� tư bản. V� ngo�i phạm vi c�ng nghiệp theo nghĩa hẹp, trong ng�nh thủ c�ng nghiệp v� ngay cả trong thương nghiệp, hiện tượng tương tự cũng đ� xảy ra. Thay thế những thợ cả v� thợ bạn trước kia, một mặt l� những nh� đại tư bản, v� mặt kh�c l� những c�ng nh�n kh�ng c� ch�t triển vọng n�o vươn l�n khỏi địa vị giai cấp của m�nh; nghề thủ c�ng biến th�nh sản xuất trong c�ng xưởng, việc ph�n c�ng lao động được thực hiện hết sức chặt chẽ; v� c�c thợ cả loại nhỏ, v� kh�ng cạnh tranh được với c�c x� nghiệp lớn, cũng bị đẩy v�o h�ng ngũ giai cấp v� sản. Đồng thời, với sự ti�u diệt sản xuất thủ c�ng nghiệp trước kia, với sự biến mất của giai cấp tiểu tư sản, người lao động cũng mất hết mọi khả năng trở th�nh nh� tư sản. Trước đ�, họ lu�n c� hi vọng lập được cho m�nh một xưởng thợ v� sau đ� c� thể thu� v�i thợ bạn; nhưng b�y giờ, khi m� ch�nh c�c thợ cả đ� bị c�c chủ xưởng loại trừ, khi m� muốn mở một x� nghiệp độc lập th� phải c� vốn lớn, th� giai cấp c�ng nh�n mới thật sự trở n�n trọn vẹn v� cố định trong nh�n d�n, c�n trước kia th� địa vị của người lao động thường chỉ l� giai đoạn qu� độ để tiến l�n địa vị anh tư sản. B�y giờ ai đ� sinh ra l� người lao động th� kh�ng c� triển vọng n�o kh�c l� suốt đời l�m người lao động. Cũng v� thế m� chỉ từ nay giai cấp v� sản mới c� thể tiến h�nh những phong tr�o độc lập của m�nh. Quần ch�ng lao động hết sức đ�ng đảo hiện tr�n ngập cả nước Đại Britain ng�y nay đ� nảy sinh như vậy, địa vị x� hội của họ ng�y c�ng bắt buộc thế giới văn minh phải ch� � đến. T�nh cảnh của giai cấp c�ng nh�n cũng tức l� t�nh cảnh của tuyệt đại đa số nh�n d�n Anh. Đ� l� vấn đề số phận của h�ng triệu người kh�ng t�i sản ấy như thế n�o, những người l�m ng�y n�o x�o ng�y ấy, những người m� tr� s�ng tạo v� b�n tay lao động đ� l�m n�n sự vĩ đại của nước Anh, những người ng�y c�ng c� � thức về sức mạnh của m�nh v� ng�y c�ng đ�i hỏi cấp thiết hơn phần quyền lợi của họ trong t�i sản x� hội; vấn đề ấy, từ ng�y c� Dự luật Cải c�ch, đ� trở th�nh vấn đề của to�n d�n tộc. Mọi cuộc tranh luận �t nhiều quan trọng của Nghị viện đều c� thể qui v�o vấn đề n�y, v� mặc d� giai cấp tư sản Anh cho đến nay vẫn kh�ng muốn thừa nhận điều ấy, mặc d� họ t�m c�ch trốn tr�nh lờ tịt vấn đề lớn ấy v� đưa lợi �ch của bản th�n họ l�n th�nh lợi �ch ch�n ch�nh của d�n tộc, những thủ đoạn ấy cũng chẳng gi�p �ch g� cho họ. Với mỗi kỳ họp Nghị viện, vấn đề giai cấp c�ng nh�n c�ng th�m quan trọng, c�n lợi �ch của giai cấp tư sản lại tụt xuống địa vị thứ yếu; v� tuy trong Nghị viện, giai cấp tư sản l� lực lượng chủ yếu, thậm ch� l� lực lượng duy nhất nữa, nhưng kỳ họp gần đ�y nhất v�o năm 1844, vẫn l� một cuộc thảo luận li�n tục về vấn đề người lao động (dự luật về người ngh�o, dự luật về c�ng xưởng, dự luật về quan hệ giữa chủ v� tớ). Thomas Duncombe, người đại diện cho giai cấp c�ng nh�n ở hạ nghị viện, l� nh�n vật trung t�m của kỳ họp ấy; trong khi đ� giai cấp tư sản tự do với y�u s�ch đ�i b�i bỏ đạo luật về ngũ cốc, v� giai cấp tư sản cấp tiến với đề nghị bỏ thuế, đ� đ�ng một vai tr� rất thảm hại. Ngay cả c�c cuộc tranh luận về Ireland, về thực chất cũng chỉ l� tranh luận về t�nh cảnh của giai cấp v� sản Ireland v� về c�c biện ph�p nhằm gi�p đỡ họ. Nhưng cũng đ� đến l�c giai cấp tư sản Anh cần phải nhượng bộ những người lao động l� những người kh�ng cầu xin nhưng đe dọa v� y�u s�ch; v� kh�ng l�u nữa sẽ c� thể l� qu� muộn rồi. Tuy vậy, giai cấp tư sản Anh, v� nhất l� bọn chủ xưởng l� những kẻ trực tiếp l�m gi�u tr�n sự bần c�ng của người lao động, lại kh�ng muốn biết g� về sự bần c�ng ấy. Tự cho m�nh l� giai cấp mạnh nhất, l� giai cấp đại diện của d�n tộc, giai cấp tư sản lấy l�m xấu hổ kh�ng d�m vạch trần trước thế giới c�i mụn lở ấy của nước Anh; họ kh�ng muốn th� nhận rằng những người lao động rất c�ng cực, bởi v� chính họ, giai cấp c� của, giai cấp của c�c nh� c�ng nghiệp, phải chịu tr�ch nhiệm tinh thần về t�nh cảnh ngh�o khổ ấy. Do đ� m� những người Anh c� học vấn - v� tr�n lục địa, người ta chỉ biết c� bọn n�y, - tức l� giai cấp tư sản, thường cười mỉa mai khi người ta n�i với họ về t�nh cảnh của người lao động, do đ� m� to�n thể giai cấp tư sản đều c� một đặc điểm l� ho�n to�n kh�ng hiểu g� về người lao động; do đ� m� họ mắc phải những điều lầm lẫn đ�ng buồn cười, ở trong cũng như ở ngo�i Nghị viện, mỗi khi n�i đến t�nh cảnh của giai cấp v� sản; do đ�, họ vẫn tươi cười v� tư m� sống tr�n một miếng đất l�n dần ngay dưới ch�n họ v� bất cứ l�c n�o cũng c� thể sụp đổ - một ng�y gần đ�y một tai họa như thế tất nhi�n sẽ xảy ra cũng như l� t�c dụng của một định luật to�n học hay cơ học; do đ� m� c� t�nh trạng lạ l�ng l� người Anh chưa hề c� một quyển s�ch ho�n hảo n�o n�i về t�nh cảnh của c�ng nh�n nước họ, mặc d� l� họ đ� "nghi�n cứu" v� "cải thiện" t�nh cảnh ấy kh�ng biết bao nhi�u năm rồi. Nhưng cũng do đ� m� sinh l�ng phẫn nộ s�u sắc của to�n thể giai cấp c�ng nh�n, từ Glasgow đến London, đối với những kẻ gi�u c� đ� b�c lột c� hệ thống những người lao động, rồi sau đ� lại nhẫn t�m bỏ mặc th�y họ. L�ng phẫn nộ ấy chẳng bao l�u nữa (người ta hầu như c� thể t�nh trước được) sẽ b�ng nổ th�nh một cuộc c�ch mạng, m� nếu đem so s�nh với cuộc c�ch mạng đ� th� cuộc c�ch mạng Ph�p đầu ti�n v� năm 1794 chỉ l� một tr� chơi trẻ con.Chú thích
1* Theo cuốn sách: Porter: "Progress of the Nation". London, 1836- I vol., 1838 - II vol., 1843 - III vol. (Porter. "Sự tiến bộ của dân tộc". London, tập I, 1836; Tập II, 1838, tập III, 1843) (theo những tài liệu chính thức) và theo nhiều nguồn tư liệu khác phần lớn cũng chính thức như vậy. (Năm 1892). Ở đây khái luận lịch sử về cách mạng công nghiệp có một vài chi tiết chưa được chính xác, nhưng trong những năm 1843-1844 chưa có những nguồn tư liệu tốt hơn (Chú thích của Engels cho lần xuất bản bằng tiếng Đức năm 1892).
2 Tấn của Anh bằng 2240 pound, gần 1000 kg (Chú thích của người dịch).
3 Trong các bản tiếng Anh xuất bản năm 1887 và năm 1892, sau chữ "công nghiệp" có chữ "và thương nghiệp" (Chú thích của người dịch).
4 "chế độ cũ" (Chú thích của người dịch).
[Chương trước] [Mục lục] [Chương sau]Thư viện | K. Marx - F. Engels
Từ khóa » Nửa Nước Anh
-
Anh – Wikipedia Tiếng Việt
-
Địa Lý Vương Quốc Liên Hiệp Anh – Wikipedia Tiếng Việt
-
Tổng Quan Về Nước Anh - Du Học Anh
-
1 Nửa Diện Tích Của Nước Anh, Địa Lý Vương Quốc Liên Hiệp Anh
-
Nước Anh (England) - Vương Quốc Anh
-
Địa Lý Tự Nhiên Vương Quốc Anh
-
Khám Phá Nước Anh: Tìm Hiểu Về Khối Liên Hiệp Anh - Du Học INDEC
-
Vương Quốc Liên Hiệp Anh Và Bắc Ireland - Wikivoyage
-
Tổng Quan Về Vương Quốc Anh
-
Anh (United Kingdom) | Hồ Sơ - Sự Kiện - Nhân Chứng
-
Diện Tích Nước Anh Và địa điểm Du Lịch Nổi Tiếng - Du Học TMS
-
United Kingdom - OEA-Oxford English Academy Vietnam
-
Vương Quốc Anh - Mimir Bách Khoa Toàn Thư
-
Một Nửa Diện Tích Nước Anh Là Bao Nhiều