Lôt Tam đầu | Diễn Đàn Hát Văn Việt Nam

Đăng nhập

Diễn Đàn Hát Văn Việt Nam Trang chủ Diễn đàn > Tín ngưỡng Tứ phủ > Giải đáp thắc mắc > Lôt tam đầu

Thảo luận trong 'Giải đáp thắc mắc' bắt đầu bởi conchudangyeu, 17/6/11.

Lượt xem: 10,129

Trang 1 của 2 trang 1 2 Tiếp >
  1. conchudangyeu

    conchudangyeu Thành viên Bị cấm

    kính thỉnh chư vị đồng quan linh thanh , em nghiên cứu đạo mẫu cũng khá khá lâu rồi . Nhưng mà trong cả quá trình nghiêm cứu của em , em cũng chưa hiểu ý nghĩ của tam đầu cửu vĩ , và các hình lốt 4 phủ có ý nghĩa ntn Cúi xin chư vị giải đáp giúp
    Bài viết mới Văn chúa bà Hưng Ninh - Biển Quốc Đoan Trang Văn chúa bà Hưng Ninh - Biển Quốc Đoan Trang bởi Nguyễn Ngọc Tú, 31/1/25 lúc 11:52 Meet Women Looking for Fun in Your Town Meet Women Looking for Fun in Your Town bởi ducdienls, 1/1/25 lúc 09:51 conchudangyeu, 17/6/11 #1

    Bình Luận Bằng Facebook

  2. damquangvinh

    damquangvinh New Member

    Bài này vinh dành tặng riêng cho diễn đàn của anh dưa hấu . Vì vậy mọi trích dẫn phải ghi rõ nguồn : dưa hấu . com à quên phongthuyhoingo.com . Cám ơn . Tiêu đề : Bàn về ý nghĩa của tam đầu cửu vĩ ( ông lốt ) trong đạo Mẫu . Xem xét qua một vài diễn đàn của Đạo mẫu ( đạo thánh ) , vinh thấy một số bạn có thắc mắc : Không hiểu ý nghĩa của các ông Lốt ( tam đầu cửu vĩ ) trong đạo Thánh là gì ? nguồn gốc , vai trò và vị trí của các vị này trong đạo Mẫu là gì ? Vậy vinh xin có bài viết bàn về vấn đề này như sau : Trước hết chúng ta cùng xem qua một số phần trong nghi lễ tứ phủ , các bản văn hầu .........để thấy được vai trò đặc biệt quan trọng của các vị này trong Đạo Mẫu như thế nào : Xin mời : Văn quan Đệ Ngũ Tuần Tranh . Quan Đệ Ngũ Tuần Chanh Ra oai lẫm liệt tung hoành Trừ tà sát quỉ Quan tuần chanh toàn tài Cảnh thiên Thai quan tuần ngự giá Các bộ Tiên nàng náo nức vào dâng hoa Ninh Giang chính quán quê nhà Dấu thiêng ghi để ngã ba sông Kì Cùng Đấng anh hùng cổ kim lừng lẫy Quan lớn tuần đã dậy thần cơ Muôn dân đâu đáy phụng thờ Lạng Sơn lại nổi ngôi đền thờ Quan Lớn Tuần Chanh Cảnh Thanh nhiều nơi lịch sự Vốn đặt bầy tự cổ truyền lai Có phen xuất nhập trang đài Đào lan quế huệ tiệc bầy xướng ca Trên bát ngát long chầu hổ phục Dưới tam đầu cửu vĩ chầu lên Lâu đờn điệu múa đôi bên Quan Tuần trắc giáng ngự trên sập công đồng ĐÀN MÃ ĐẦY ĐỦ CHO MỘT LỄ MỞ PHỦ TRÌNH ĐỒNG Để chuẩn bị được một buổi hầu đồng thì trước đó một tuần, các thợ mã chuyên nghiệp đã phải tập kết nguyên vật liệu để làm một đàn đại mã, có tên Long Tu Phượng Mã. Long Tu Phượng Mã có đủ voi, ngựa: đỏ, vàng và trắng. Mỗi con đều to hơn những chú ngựa vẫn chạy trong rạp xiếc. Một voi xám với tỉ lệ 1/1 so với những chú voi thật, ngoài ra còn có một thuyền rồng dài 3,5m rộng 0,8m được trang trí cầu kỳ. Tất cả những thứ trên được đặt ở sân đền vì chúng quá to để có thể đưa được vào bên trong hậu điện. Trong Đền là nơi ngự trị của 4 toà sơn trang với khoảng 60 hình nhân cao từ 1,2 - 1,6m có bốn màu: đỏ, xanh, vàng, trắng, tượng trưng cho bốn hướng. BÀY TRÊN BAN THỜ tỨ PHỦ -Trên cùng bày mũ Vua cha, mũ quan tả hữu, mũ bình thiên, mũ các quan công đồng. -Dưới một chút thì bày 4000 vàng hoa bốn màu tượng trưng cho bốn phủ kèm theo 4000 vàng cô cũng bốn màu bày cùng với bốn mâm lễ (trứng, lược, quạt, thuốc lá, khăn mặt, khăn phủ...) -Sáu bài vị 6 màu, gồm 5 màu đỏ, xanh, trắng, vàng, tím dành cho 5 quan lớn (ngũ vị tôn ông) còn một bài vị màu hồng là bản mệnh. -Lúc phát tấu thì bày mũ hia và ngựa nhỏ của 5 quan lớn dưới bàn hầu BÀY XUNG QUANH SẬP CÔNG ĐỒNG -Một ngựa đỏ thiên phủ,một voi vàng địa phủ, một thuyền rồng trắng thuỷ phủ -Bốn toà sơn trang bốn màu (xanh, đỏ, trắng, vàng), mỗi toà gồm một hình chúa bà ngồi trên bệ, hai hình chầu cầm quạt chầu vào,12 hình cô, một thuyền nhỏ, một bè nhỏ, một thoi nhỏ, một núi giùm,1000 vàng đại,1000 vàng cô, 12 bộ hài sảo. Ngoài ra có thể có thêm mỗi toà một voi và một ngựa cùng màu. -Rắn đỏ, rắn xanh, rắn vàng hoặc có thể thay rắn bằng hinh con nghê, hình người 3 đầu màu trắng (còn gọi là Tam đầu cửu vĩ) để tiến bốn phủ Dâng về thoải phủ : gồm có long chu phượng mã, lốt tam đầu cửu vĩ…: tất cả đều màu trắng chú giải : màu trắng là màu của thoải phủ ( nước ) Văn Quan Đệ Bát Đồng Bằng Sông Diêm Chốn Long Đài mây tuôn năm vẻ Cung Quảng Hàn bóng xế thềm loan Trước làn gió thoảng đưa nhang Ngai vàng lồ lộ long nhan lầu lầu Đệ tử tôi khấu đầu tự sự Tâu Động Đình hoàng tử long nhan Khâm thừa thượng đế gia ban Thỉnh mời đệ Bát tôn ông nhiệm màu Khi lên chầu Ngọc Hoàng thượng đế\ Lúc ra về Thủy Tế Long Cung Có phen biến hóa thần thông Lốt vàng chìm nổi Bể Đông dư nghìn Lên Thượng Thiên cưỡi mây ngăn gió Ngọn cờ đào thẳng trỏ đường tiên Có phen chơi cảnh lê viên Làu làu thu nguyệt soi bên giang hà Khi thong thả bàn trà điểm nước Họp bạn tiên tửu thuốc thi ngâm Dập dìu hầu hạ dư trăm Kẻ dâng khăn ngự người dâng xuyến ngà Khi trắc giáng sa hà biến hóa Ngự vân long sa mã trì khu Vân cù cưỡi hạc ngao du Biển Hồ đôi lúc non vu đôi lần Bao thế giới mặc lòng thong thả Cảnh giang hồ chi sá trần ai Phiêu diêu tử phủ đan đài Ba ngàn, chín vạn cõi ngoài tràng sinh Lên thiên đình khâm thừa ngọc ấn Chuyển uy hùng lĩnh ấn binh nhung Tả ban văn tướng anh hùng Hữu ban vũ tướng hội đồng dưới trên Phó kim liên hiện hình biến tướng Giá ngự đồng ngọc trước long nhan Triều thần văn vũ bá quan Thủy binh cơ đội lưỡng ban về chầu Quân sắp hầu lưng đeo kiếm sắc Tùy lệnh hành cờ phất trống rung Có phen nổi trận đùng đùng Ba đào dợn sóng mênh mông hải hà Khi hiện ra tam đầu cửu vĩ Dưới Thủy Tề nước rẽ làm đôi Tự nhiên nổi trận phong lôi Thấy trên mặt nước hiện đôi bạch xà Lệnh truyền ra bất tuân thời khắc Thét tiếng vang chớp dật mưa sa Ngự thôi về chốn Diêm La Vào chầu Bát Hải Vua Cha Động Đình Trước long đình khoan thai lễ nhạc Mão kim cương đai bạc xênh xang Vào chầu Vương Phụ nghiêm trang Vũ ban nhất phẩm văn ban tin dùng Lệnh Cửu Trùng quyền trao chức sự Giáng ngự về cứu tử độ sinh Đêm ngày chầu chực thiên đình Sổ son sổ mực đã tinh làu làu Phút nam lâu lại chơi bắc điện Phép thần thông biến hiện vô biên Thảnh thơi kim mã ngọc đường Nguy nguy tái thượng dương dương tại đền Giáng ngự lên cứu sinh độ thế Nương oai trời sửa trị quân sinh Muôn năm thanh thả miếu đình Có quan Đệ Bát Sông Diêm nhiệm màu Tiếng oai linh dạy vang từ đấy Ai kẻ còn dám lấy làm kinh Cứu cho trần thế sinh linh Hàng ma phục quái độ sinh nhiệm màu Giáng bản đàn trừ tà trị bệnh Phép anh linh hiển hách cứu nhân Ra uy chí chính chí nhân Soi gương khúc trực cầm cân công bình Tấm lòng thành tùy tâm sở nguyện Giáng phúc lành ứng hiện hà sa Một nguyện phúc lộc đề đa Trừ tai hạn ách tống ra hải ngoài Thứ hai nguyện đinh tài hậu phát Độ đồng gia kinh ngạc tranh vanh Ba nguyện phú quý khang ninh Cứu dân hộ quốc muôn đình thọ xuân Lời bàn : Tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ cổ xưa đã bao hàm: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người. Con người cần sinh sôi, mùa màng cần tươi tốt để duy trì và phát triển sự sống, nên đã nảy sinh tín ngưỡng phồn thực. Ở Việt Nam, tín ngưỡng đó tồn tại lâu dài, dưới hai dạng biểu hiện: thờ sinh thực khí nam và nữ (khác với ấn Độ chỉ thờ sinh thực khí nam) và thờ cả hành vi giao phối (người và thú, ngay ở Đông Nam Á cũng ít có dân tộc thờ việc này). Dấu tích trên còn để lại ở nhiều di vật tượng và chân cột đá, trong trang trí các nhà mồ Tây Nguyên, trong một số phong tục và điệu múa, rõ nhất là ở hình dáng và hoa văn các trống đồng cổ. Nông nghiệp trồng lúa nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố tự nhiên đã đưa đến tín ngưỡng sùng bái tự nhiên. Ở Việt Nam, đó là tín ngưỡng đa thần và coi trọng nữ thần, lại thờ cả động vật và thực vật. Một cuốn sách nghiên cứu (xuất bản năm 1984) đã liệt kê được 75 nữ thần, chủ yếu là các bà mẹ, các Mẫu (không những có Ông Trời, mà còn có Bà Trời tức Mẫu Cửu Trùng, ngoài ra là Mẫu Thượng Ngàn, Bà chúa Sông v.v...). Về thực vật được tôn sùng nhất là Cây lúa, sau đó tới Cây đa, Cây cau, Cây dâu, quả Bầu. Về động vật, thiên về thờ thú hiền như hươu, nai, cóc, không thờ thú dữ như văn hóa du mục, đặc biệt là thờ các loài vật phổ biến ở vùng sông nước như chim nước, rắn, cá sấu. Người Việt tự nhận là thuộc về họ Hồng Bàng, giống Tiên Rồng (Hồng Bàng là tên một loài chim nước lớn, Tiên là sự trừu tượng hóa một giống chim đẻ trứng, Rồng sự trừu tượng hóa từ rắn, cá sấu). Rồng sinh ra từ nước bay lên trời là biểu trưng độc đáo đầy ý nghĩa của dân tộc Việt Nam.Loài vật đã đi vào đời sống văn hóa của nhân loại bằng nhiều cách thức và sự biểu hiện khác nhau. Mỗi loài đều mang những ý nghĩa biểu trưng nhất định và tiêu biểu cho văn hóa, tín ngưỡng, tập tục, lối sống hay đặc tính của một dân tộc, vùng miền. Nhưng, có lẽ, không có loài vật nào mà ý nghĩa biểu trưng phong phú như loài rắn. Hình tượng rắn không chỉ xuất hiện trong hầu hết các nền văn hóa mà còn mang nhiều ý nghĩa khác nhau, đôi khi đối lập nhau. Rắn biểu trưng cho cả giới tính nam và nữ; là một vị thần sáng thế, biểu trưng cho vũ trụ thời hỗn mang nhưng đôi khi lại là một thành viên hay vị thần bảo hộ của gia đình, là nguồn nước và cũng là lửa, là vị phúc thần và ác thần, điều tốt và cái xấu, tượng trưng cho sự sống bất tử và cái chết, dương thế và âm ty, sự hủy diệt và tái sinh, tình yêu, nhục dục và tội lỗi...Trong văn hóa dân gian Việt Nam, rắn là một hình tượng phổ biến và có sức ám ảnh mạnh mẽ, phổ biến nhất của người Việt ở đồng bằng sông Hồng. Có thể thấy tục thờ rắn ở các đền dọc theo sông Hồng, sông Cầu, sông Đuống... và qua các di tích, lễ hội..Tục thờ rắn với tư cách là thủy thần không chỉ phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ mà còn có ở miền Trung, Tây Nguyên và cả miền Tây Nam Bộ. Người Mường ở Thanh Hóa cũng có tục thờ rắn. Ngôi đền thờ thần rắn được biết đến hiện nay ở thôn Lương Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy. Tại đây có một dòng suối rất nhiều cá. Tương truyền, cá ở đây do một thần rắn bảo hộ, che chở. Người dân tin rằng, ai làm hại tới những con cá sống ở đây thì sẽ chuốc lấy những hậu quả khôn lường. Đình làng Phú Bài, xã Thủy Phù, Hương Thủy, Thừa Thiên Huế cũng lập bài vị thờ ông dài, ông cụt. Theo truyền thuyết, đây là hai con rắn, một dài một cụt vốn là con của thần gió từng hiển linh giúp đỡ dân làng, đem lại mưa thuận gió hòa, nên được dân làng tưởng nhớ, tôn xưng là thủy thần. Với người dân miền Tây Nam Bộ, cùng với hổ, cá sấu... thì rắn cũng là đối tượng phải dè chừng, đối phó và chinh phục. Có lẽ vì thế mà ngày nay vẫn lưu truyền nhiều câu chuyện, giai thoại về rắn. Người ta sợ rắn, muốn cầu thân với rắn và do thế, thờ rắn. Tại xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày, Bến Tre có một ngôi đình rắn, tại đây vẫn lưu truyền về đôi rắn thần khổng lồ, hiền lành. Nhìn chung, tục thờ rắn là một trong những tín ngưỡng nguyên thủy của người Việt cổ. Xuất phát từ môi trường tự nhiên gắn với điều kiện sông nước, đầm lầy, hình tượng rắn đã được đồng hóa với nước, thủy thần và đi vào tâm thức dân gian từ rất sớm và thường gắn với tục thờ các vị thần tự nhiên. Trong quá trình phát triển của lịch sử, tín ngưỡng thờ Rắn đã được khoác thêm nhiều lớp văn hóa muộn hơn và ít nhiều có biến đổi cho phù hợp với từng điều kiện mới. Do vậy, “Thủy Tinh với tư cách là một đối thủ của Sơn Tinh không có mặt trong các thành hoàng có sắc phong cũng như các thần có thần tích; chỉ gặp trong những thần sắc ghi chung chung là thủy thần thời Hùng Vương”(14). Không chỉ thờ rắn với tư cách là thủy thần, người Việt còn xem rắn là vật tổ. Tục thờ vật tổ là một hình thức tín ngưỡng nguyên thủy, tồn tại trong các thị tộc. Người ta thờ cúng các động vật, thực vật với niềm tin về một mối liên hệ của những người cùng chung sống trong một cộng đồng. Dấu vết về tục thờ vật tổ rắn của người Việt cổ cũng được ghi lại trong các văn bản xưa. Sách Thuyết văn giải tự chép: người Việt (Mân Việt) ở miền đông nam cùng với người Man hay Nam Man đều thuộc dòng giống rắn (tức coi rắn như vật tổ của mình); hay Lĩnh Nam tạp ký của Ngô Chấn Phương miêu tả cảnh tế thần rắn của người Việt ở vùng Triều Châu thuộc tỉnh Quảng Đông ngày nay . Ninh Viết Giao khi sưu tầm, nghiên cứu về văn học dân gian xứ Nghệ đã nói đến motip con rắn xanh cũng được kể ở khá nhiều nơi: “Rắn xanh được thờ ở nhiều nơi và được đưa thành một motip trong truyện kể, bởi rắn được tượng trưng cho thần nước trước khi là rồng” Cũng chính rắn đã trở thành vật tổ của họ Ngân (ở vùng núi Nghệ An) khi giúp họ Ngân tìm ra nước giải hạn trong lúc họ chạy nạn. Trong nội dung thần thoại Lạc Việt, Đinh Gia Khánh cũng đề cập đến vấn đề thờ vật tổ của người Việt: “Lạc Long Quân thuộc nòi rồng. Chi tiết này phản ánh việc thờ giao long làm vật tổ... Do việc xăm mình theo hình giao long, lâu dần tổ tiên ta tự cho mình là con cháu giao long”. Phan Đăng Nhật qua phân tích hình tượng rắn trong mối quan hệ giữa rắn và con người, cũng đưa ra nhận định là giữa rắn và người có mối quan hệ thân thiết ruột thịt, thậm chí cùng chung một dòng máu. Tác giả khái quát biểu tượng rắn trong quan hệ với người thành ba dạng: rắn là con nuôi của người, mẹ người +...= rắn; hôn nhân người - rắn; mẹ người + bố rắn = trứng. Cuối cùng tác giả mô hình quá sự chuyển biến và kết hợp giữa huyền thoại chim tổ và huyền thoại rắn bố để trở thành mẹ tiên Âu - bố rồng Lạc sinh ra bọc trứng . tôi cho rằng, việc thờ vật tổ của thị tộc người Việt cổ là rất phổ biến, trong đó, thị tộc thờ rắn là một trong những thị tộc mạnh thời bấy giờ. Cùng với thời gian và sự phát triển về ý thức, tín ngưỡng thờ vật tổ là cơ sở quan trọng của việc hình thành biểu tượng quốc gia sau này. Nói chi tiết hơn về Đạo Mẫu ( hay đạo thánh ) đất Việt thì : Cũng không nằm ngoài sự vận động phát triển của vòng quay văn hóa , tín ngưỡng dân tộc , Đạo Mẫu trong quá trình hình thành và phát triển của mình đã chia trời đất làm 4 phủ đó là : thiên , thoải , nhạc , địa . Cùng với sự phân chia trời đất ra làm 4 miền như trên , dưới sự cai quản của 4 vị Thánh Mẫu nương nương thì luôn có các vị Thánh , thần , nhân giúp sức . và 1 trong những thành phần không thể thiếu , là cánh tay đắc lực giúp cho các vị Mẫu cái quan tốt công việc của mình : đó là các vị thần vật . Những vị thần vật này có sức mạnh và vị trí uy quyền tối cao trong nhóm loài của mình . Muôn loài bách thú trên trời , dưới nước đều phải quy ngưỡng trước sự thống trị của chúng .( theo quan niệm dân gian ) Cụ thể hơn : Thiên phủ ( trên trời ) : long , phụng Nhạc phủ ( miền rừng núi ) : hổ , báo . Thoải phủ ( dưới nước ) : rắn . Cũng bởi trong nền văn minh lúa nước của Việt nam đặc biệt là ở vùng đồng bằng sông hồng thì sự chi phối của các yếu tố mưa gió , nước... ..là quá lớn . Mà cũng chính vì vậy trong đời sống tâm linh đạo Mẫu thì hình tượng thần vật - vị chúa tể miền sống nước : rắn luôn được nhân dân ta dành một vị trí đặc biệt ưu ái . Khi thâm nhập vào trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở bắc bộ , con rắn đã trở thành những Ông Lốt , rồi tam đầu cửu vĩ hay là những Thanh xà , bạch xà . Những con vật này đã được hình tượng hóa và chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong tín ngưỡng của dân tộc . trở thành những vị thần , vị Thánh , vị quan quyền phép . uy danh . Qua nội dung bài viết hi vọng hòng làm sang tỏ một phần câu hỏi : vì sao có tục thờ ông Lốt , và vị trí , vai trò của các ông Lốt trong đạo Thánh đất Việt . . Cảm ơn các bạn Vinh đàm kính bút !
    damquangvinh, 20/6/11 #2
  3. DinhManh

    DinhManh Guest

    Từ trước đến giờ mình cứ hiểu rằng lốt tam đầu cửu vĩ là con rắn có 3 đầu và chín cái đuôi.
    DinhManh, 20/6/11 #3
  4. Thanh Tùng

    Thanh Tùng Thành viên Bị cấm

    Thực thế, lốt tam đầu cửu vĩ trong tín ngỡng thờ mẫu chiếm một vị trí quan trọng. Xét về lễ nghi tâm linh thì ko đàn phủ nào thiếu mã lốt tam đầu cửu vĩ. Rất cảm ơn tác giả về bài viết này. Có điều mình vẫn thắc mắc là, Trong tín ngưỡng thờ mẫu, thì thần lốt ( Thanh xà, bạch xà, hoàng xà ) luôn đặt ở vị trí hạ ban ( cùng các quan ngũ tướng ), và trong đàn lệ thì mã lốt là mã riêng. Như bài viết của bạn thì mình đã hiểu phần nào về tục thờ thủy thần dưới hình tượng rắn ( mà thực chất thì các vị thủy thần được thờ phụng trong tín ngưỡng Việt Nam hầu như đều có tích là rắn. Như đức thánh Linh Lang Đại Vương, Đức Uy Đô Vương Trần Linh Lang, Đức thành hoàng Làng Văn Xá - Lý Nhân, hay đức thành hoàng làng An Mông - Duy Tiên. Rồi còn rất nhiều các vị được tôn thờ ở ven sông Hồng, sông Đuống, Sông Thái Bình như ở vùng Kẻ Diễm, Kẻ Chóa, Bác Noãn ). Ngay trong chính tín ngưỡng bốn phủ thì các vị thần có tích là rắn không hiếm. Nhưng mình vẫn chưa hiểu rõ về lốt tam đầu? Bởi trong tín ngưỡng bốn phủ thì thần Lốt và Lốt Tam Đầu là khác nhau. Bạn có thể giải thích rõ hơn luận điểm này được không :). Hoặc giả lốt tam đầu có thể đặt giả thuyết tạm như là sự thay đổi về hình thức và vị trí từ các thần lốt ( thanh, hoàng, bạch xà ) hay ko? Cảm ơn bạn rất nhiều. :)
    Thanh Tùng, 20/6/11 #4
  5. hoang.bao198x

    hoang.bao198x Super Moderator

    Cám ơn bạn damquanvinh đã có những lý giải hết sức thú vị. Mình đồng tình với cách lí giải của bạn về nguồn gốc tục lệ thờ ông lốt cũng như ý nghĩa việc thờ ông lốt. Nhưng có một vài thắc mắc mong bạn có thể giải đáp. Đó là Lốt tam đầu cửu vĩ trong tứ phủ có ý nghĩa như nào. Và sao lại là tam đầu cửu vĩ, mà không phải là những con số khác.
    hoang.bao198x, 20/6/11 #5
  6. damquangvinh

    damquangvinh New Member

    hì hì 2 bạn cứ suy nghẫm đi nha mai mốt vinh trả lời thắc mắc của 2 bạn nhé .
    damquangvinh, 20/6/11 #6
  7. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    haianh1995 nói: ↑
    kính thỉnh chư vị đồng quan linh thanh , em nghiên cứu đạo mẫu cũng khá khá lâu rồi . Nhưng mà trong cả quá trình nghiêm cứu của em , em cũng chưa hiểu ý nghĩ của tam đầu cửu vĩ , và các hình lốt 4 phủ có ý nghĩa ntn Cúi xin chư vị giải đáp giúpClick to expand...
    :)) damquangvinh nói: ↑
    Bài này vinh dành tặng riêng cho diễn đàn của anh dưa hấu . Vì vậy mọi trích dẫn phải ghi rõ nguồn : dưa hấu . com à quên phongthuyhoingo.com . Cám ơn . Tiêu đề : Bàn về ý nghĩa của tam đầu cửu vĩ ( ông lốt ) trong đạo Mẫu . Xem xét qua một vài diễn đàn của Đạo mẫu ( đạo thánh ) , vinh thấy một số bạn có thắc mắc : Không hiểu ý nghĩa của các ông Lốt ( tam đầu cửu vĩ ) trong đạo Thánh là gì ? nguồn gốc , vai trò và vị trí của các vị này trong đạo Mẫu là gì ? Vậy vinh xin có bài viết bàn về vấn đề này như sau : Trước hết chúng ta cùng xem qua một số phần trong nghi lễ tứ phủ , các bản văn hầu .........để thấy được vai trò đặc biệt quan trọng của các vị này trong Đạo Mẫu như thế nào : Xin mời : Văn quan Đệ Ngũ Tuần Tranh . Quan Đệ Ngũ Tuần Chanh Ra oai lẫm liệt tung hoành Trừ tà sát quỉ Quan tuần chanh toàn tài Cảnh thiên Thai quan tuần ngự giá Các bộ Tiên nàng náo nức vào dâng hoa Ninh Giang chính quán quê nhà Dấu thiêng ghi để ngã ba sông Kì Cùng Đấng anh hùng cổ kim lừng lẫy Quan lớn tuần đã dậy thần cơ Muôn dân đâu đáy phụng thờ Lạng Sơn lại nổi ngôi đền thờ Quan Lớn Tuần Chanh Cảnh Thanh nhiều nơi lịch sự Vốn đặt bầy tự cổ truyền lai Có phen xuất nhập trang đài Đào lan quế huệ tiệc bầy xướng ca Trên bát ngát long chầu hổ phục Dưới tam đầu cửu vĩ chầu lên Lâu đờn điệu múa đôi bên Quan Tuần trắc giáng ngự trên sập công đồng ĐÀN MÃ ĐẦY ĐỦ CHO MỘT LỄ MỞ PHỦ TRÌNH ĐỒNG Để chuẩn bị được một buổi hầu đồng thì trước đó một tuần, các thợ mã chuyên nghiệp đã phải tập kết nguyên vật liệu để làm một đàn đại mã, có tên Long Tu Phượng Mã. Long Tu Phượng Mã có đủ voi, ngựa: đỏ, vàng và trắng. Mỗi con đều to hơn những chú ngựa vẫn chạy trong rạp xiếc. Một voi xám với tỉ lệ 1/1 so với những chú voi thật, ngoài ra còn có một thuyền rồng dài 3,5m rộng 0,8m được trang trí cầu kỳ. Tất cả những thứ trên được đặt ở sân đền vì chúng quá to để có thể đưa được vào bên trong hậu điện. Trong Đền là nơi ngự trị của 4 toà sơn trang với khoảng 60 hình nhân cao từ 1,2 - 1,6m có bốn màu: đỏ, xanh, vàng, trắng, tượng trưng cho bốn hướng. BÀY TRÊN BAN THỜ tỨ PHỦ -Trên cùng bày mũ Vua cha, mũ quan tả hữu, mũ bình thiên, mũ các quan công đồng. -Dưới một chút thì bày 4000 vàng hoa bốn màu tượng trưng cho bốn phủ kèm theo 4000 vàng cô cũng bốn màu bày cùng với bốn mâm lễ (trứng, lược, quạt, thuốc lá, khăn mặt, khăn phủ...) -Sáu bài vị 6 màu, gồm 5 màu đỏ, xanh, trắng, vàng, tím dành cho 5 quan lớn (ngũ vị tôn ông) còn một bài vị màu hồng là bản mệnh. -Lúc phát tấu thì bày mũ hia và ngựa nhỏ của 5 quan lớn dưới bàn hầu BÀY XUNG QUANH SẬP CÔNG ĐỒNG -Một ngựa đỏ thiên phủ,một voi vàng địa phủ, một thuyền rồng trắng thuỷ phủ -Bốn toà sơn trang bốn màu (xanh, đỏ, trắng, vàng), mỗi toà gồm một hình chúa bà ngồi trên bệ, hai hình chầu cầm quạt chầu vào,12 hình cô, một thuyền nhỏ, một bè nhỏ, một thoi nhỏ, một núi giùm,1000 vàng đại,1000 vàng cô, 12 bộ hài sảo. Ngoài ra có thể có thêm mỗi toà một voi và một ngựa cùng màu. -Rắn đỏ, rắn xanh, rắn vàng hoặc có thể thay rắn bằng hinh con nghê, hình người 3 đầu màu trắng (còn gọi là Tam đầu cửu vĩ) để tiến bốn phủ Dâng về thoải phủ : gồm có long chu phượng mã, lốt tam đầu cửu vĩ…: tất cả đều màu trắng chú giải : màu trắng là màu của thoải phủ ( nước ) Văn Quan Đệ Bát Đồng Bằng Sông Diêm Chốn Long Đài mây tuôn năm vẻ Cung Quảng Hàn bóng xế thềm loan Trước làn gió thoảng đưa nhang Ngai vàng lồ lộ long nhan lầu lầu Đệ tử tôi khấu đầu tự sự Tâu Động Đình hoàng tử long nhan Khâm thừa thượng đế gia ban Thỉnh mời đệ Bát tôn ông nhiệm màu Khi lên chầu Ngọc Hoàng thượng đế\ Lúc ra về Thủy Tế Long Cung Có phen biến hóa thần thông Lốt vàng chìm nổi Bể Đông dư nghìn Lên Thượng Thiên cưỡi mây ngăn gió Ngọn cờ đào thẳng trỏ đường tiên Có phen chơi cảnh lê viên Làu làu thu nguyệt soi bên giang hà Khi thong thả bàn trà điểm nước Họp bạn tiên tửu thuốc thi ngâm Dập dìu hầu hạ dư trăm Kẻ dâng khăn ngự người dâng xuyến ngà Khi trắc giáng sa hà biến hóa Ngự vân long sa mã trì khu Vân cù cưỡi hạc ngao du Biển Hồ đôi lúc non vu đôi lần Bao thế giới mặc lòng thong thả Cảnh giang hồ chi sá trần ai Phiêu diêu tử phủ đan đài Ba ngàn, chín vạn cõi ngoài tràng sinh Lên thiên đình khâm thừa ngọc ấn Chuyển uy hùng lĩnh ấn binh nhung Tả ban văn tướng anh hùng Hữu ban vũ tướng hội đồng dưới trên Phó kim liên hiện hình biến tướng Giá ngự đồng ngọc trước long nhan Triều thần văn vũ bá quan Thủy binh cơ đội lưỡng ban về chầu Quân sắp hầu lưng đeo kiếm sắc Tùy lệnh hành cờ phất trống rung Có phen nổi trận đùng đùng Ba đào dợn sóng mênh mông hải hà Khi hiện ra tam đầu cửu vĩ Dưới Thủy Tề nước rẽ làm đôi Tự nhiên nổi trận phong lôi Thấy trên mặt nước hiện đôi bạch xà Lệnh truyền ra bất tuân thời khắc Thét tiếng vang chớp dật mưa sa Ngự thôi về chốn Diêm La Vào chầu Bát Hải Vua Cha Động Đình Trước long đình khoan thai lễ nhạc Mão kim cương đai bạc xênh xang Vào chầu Vương Phụ nghiêm trang Vũ ban nhất phẩm văn ban tin dùng Lệnh Cửu Trùng quyền trao chức sự Giáng ngự về cứu tử độ sinh Đêm ngày chầu chực thiên đình Sổ son sổ mực đã tinh làu làu Phút nam lâu lại chơi bắc điện Phép thần thông biến hiện vô biên Thảnh thơi kim mã ngọc đường Nguy nguy tái thượng dương dương tại đền Giáng ngự lên cứu sinh độ thế Nương oai trời sửa trị quân sinh Muôn năm thanh thả miếu đình Có quan Đệ Bát Sông Diêm nhiệm màu Tiếng oai linh dạy vang từ đấy Ai kẻ còn dám lấy làm kinh Cứu cho trần thế sinh linh Hàng ma phục quái độ sinh nhiệm màu Giáng bản đàn trừ tà trị bệnh Phép anh linh hiển hách cứu nhân Ra uy chí chính chí nhân Soi gương khúc trực cầm cân công bình Tấm lòng thành tùy tâm sở nguyện Giáng phúc lành ứng hiện hà sa Một nguyện phúc lộc đề đa Trừ tai hạn ách tống ra hải ngoài Thứ hai nguyện đinh tài hậu phát Độ đồng gia kinh ngạc tranh vanh Ba nguyện phú quý khang ninh Cứu dân hộ quốc muôn đình thọ xuân Lời bàn : Tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ cổ xưa đã bao hàm: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người. Con người cần sinh sôi, mùa màng cần tươi tốt để duy trì và phát triển sự sống, nên đã nảy sinh tín ngưỡng phồn thực. Ở Việt Nam, tín ngưỡng đó tồn tại lâu dài, dưới hai dạng biểu hiện: thờ sinh thực khí nam và nữ (khác với ấn Độ chỉ thờ sinh thực khí nam) và thờ cả hành vi giao phối (người và thú, ngay ở Đông Nam Á cũng ít có dân tộc thờ việc này). Dấu tích trên còn để lại ở nhiều di vật tượng và chân cột đá, trong trang trí các nhà mồ Tây Nguyên, trong một số phong tục và điệu múa, rõ nhất là ở hình dáng và hoa văn các trống đồng cổ. Nông nghiệp trồng lúa nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố tự nhiên đã đưa đến tín ngưỡng sùng bái tự nhiên. Ở Việt Nam, đó là tín ngưỡng đa thần và coi trọng nữ thần, lại thờ cả động vật và thực vật. Một cuốn sách nghiên cứu (xuất bản năm 1984) đã liệt kê được 75 nữ thần, chủ yếu là các bà mẹ, các Mẫu (không những có Ông Trời, mà còn có Bà Trời tức Mẫu Cửu Trùng, ngoài ra là Mẫu Thượng Ngàn, Bà chúa Sông v.v...). Về thực vật được tôn sùng nhất là Cây lúa, sau đó tới Cây đa, Cây cau, Cây dâu, quả Bầu. Về động vật, thiên về thờ thú hiền như hươu, nai, cóc, không thờ thú dữ như văn hóa du mục, đặc biệt là thờ các loài vật phổ biến ở vùng sông nước như chim nước, rắn, cá sấu. Người Việt tự nhận là thuộc về họ Hồng Bàng, giống Tiên Rồng (Hồng Bàng là tên một loài chim nước lớn, Tiên là sự trừu tượng hóa một giống chim đẻ trứng, Rồng sự trừu tượng hóa từ rắn, cá sấu). Rồng sinh ra từ nước bay lên trời là biểu trưng độc đáo đầy ý nghĩa của dân tộc Việt Nam.Loài vật đã đi vào đời sống văn hóa của nhân loại bằng nhiều cách thức và sự biểu hiện khác nhau. Mỗi loài đều mang những ý nghĩa biểu trưng nhất định và tiêu biểu cho văn hóa, tín ngưỡng, tập tục, lối sống hay đặc tính của một dân tộc, vùng miền. Nhưng, có lẽ, không có loài vật nào mà ý nghĩa biểu trưng phong phú như loài rắn. Hình tượng rắn không chỉ xuất hiện trong hầu hết các nền văn hóa mà còn mang nhiều ý nghĩa khác nhau, đôi khi đối lập nhau. Rắn biểu trưng cho cả giới tính nam và nữ; là một vị thần sáng thế, biểu trưng cho vũ trụ thời hỗn mang nhưng đôi khi lại là một thành viên hay vị thần bảo hộ của gia đình, là nguồn nước và cũng là lửa, là vị phúc thần và ác thần, điều tốt và cái xấu, tượng trưng cho sự sống bất tử và cái chết, dương thế và âm ty, sự hủy diệt và tái sinh, tình yêu, nhục dục và tội lỗi...Trong văn hóa dân gian Việt Nam, rắn là một hình tượng phổ biến và có sức ám ảnh mạnh mẽ, phổ biến nhất của người Việt ở đồng bằng sông Hồng. Có thể thấy tục thờ rắn ở các đền dọc theo sông Hồng, sông Cầu, sông Đuống... và qua các di tích, lễ hội..Tục thờ rắn với tư cách là thủy thần không chỉ phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ mà còn có ở miền Trung, Tây Nguyên và cả miền Tây Nam Bộ. Người Mường ở Thanh Hóa cũng có tục thờ rắn. Ngôi đền thờ thần rắn được biết đến hiện nay ở thôn Lương Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy. Tại đây có một dòng suối rất nhiều cá. Tương truyền, cá ở đây do một thần rắn bảo hộ, che chở. Người dân tin rằng, ai làm hại tới những con cá sống ở đây thì sẽ chuốc lấy những hậu quả khôn lường. Đình làng Phú Bài, xã Thủy Phù, Hương Thủy, Thừa Thiên Huế cũng lập bài vị thờ ông dài, ông cụt. Theo truyền thuyết, đây là hai con rắn, một dài một cụt vốn là con của thần gió từng hiển linh giúp đỡ dân làng, đem lại mưa thuận gió hòa, nên được dân làng tưởng nhớ, tôn xưng là thủy thần. Với người dân miền Tây Nam Bộ, cùng với hổ, cá sấu... thì rắn cũng là đối tượng phải dè chừng, đối phó và chinh phục. Có lẽ vì thế mà ngày nay vẫn lưu truyền nhiều câu chuyện, giai thoại về rắn. Người ta sợ rắn, muốn cầu thân với rắn và do thế, thờ rắn. Tại xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày, Bến Tre có một ngôi đình rắn, tại đây vẫn lưu truyền về đôi rắn thần khổng lồ, hiền lành. Nhìn chung, tục thờ rắn là một trong những tín ngưỡng nguyên thủy của người Việt cổ. Xuất phát từ môi trường tự nhiên gắn với điều kiện sông nước, đầm lầy, hình tượng rắn đã được đồng hóa với nước, thủy thần và đi vào tâm thức dân gian từ rất sớm và thường gắn với tục thờ các vị thần tự nhiên. Trong quá trình phát triển của lịch sử, tín ngưỡng thờ Rắn đã được khoác thêm nhiều lớp văn hóa muộn hơn và ít nhiều có biến đổi cho phù hợp với từng điều kiện mới. Do vậy, “Thủy Tinh với tư cách là một đối thủ của Sơn Tinh không có mặt trong các thành hoàng có sắc phong cũng như các thần có thần tích; chỉ gặp trong những thần sắc ghi chung chung là thủy thần thời Hùng Vương”(14). Không chỉ thờ rắn với tư cách là thủy thần, người Việt còn xem rắn là vật tổ. Tục thờ vật tổ là một hình thức tín ngưỡng nguyên thủy, tồn tại trong các thị tộc. Người ta thờ cúng các động vật, thực vật với niềm tin về một mối liên hệ của những người cùng chung sống trong một cộng đồng. Dấu vết về tục thờ vật tổ rắn của người Việt cổ cũng được ghi lại trong các văn bản xưa. Sách Thuyết văn giải tự chép: người Việt (Mân Việt) ở miền đông nam cùng với người Man hay Nam Man đều thuộc dòng giống rắn (tức coi rắn như vật tổ của mình); hay Lĩnh Nam tạp ký của Ngô Chấn Phương miêu tả cảnh tế thần rắn của người Việt ở vùng Triều Châu thuộc tỉnh Quảng Đông ngày nay . Ninh Viết Giao khi sưu tầm, nghiên cứu về văn học dân gian xứ Nghệ đã nói đến motip con rắn xanh cũng được kể ở khá nhiều nơi: “Rắn xanh được thờ ở nhiều nơi và được đưa thành một motip trong truyện kể, bởi rắn được tượng trưng cho thần nước trước khi là rồng” Cũng chính rắn đã trở thành vật tổ của họ Ngân (ở vùng núi Nghệ An) khi giúp họ Ngân tìm ra nước giải hạn trong lúc họ chạy nạn. Trong nội dung thần thoại Lạc Việt, Đinh Gia Khánh cũng đề cập đến vấn đề thờ vật tổ của người Việt: “Lạc Long Quân thuộc nòi rồng. Chi tiết này phản ánh việc thờ giao long làm vật tổ... Do việc xăm mình theo hình giao long, lâu dần tổ tiên ta tự cho mình là con cháu giao long”. Phan Đăng Nhật qua phân tích hình tượng rắn trong mối quan hệ giữa rắn và con người, cũng đưa ra nhận định là giữa rắn và người có mối quan hệ thân thiết ruột thịt, thậm chí cùng chung một dòng máu. Tác giả khái quát biểu tượng rắn trong quan hệ với người thành ba dạng: rắn là con nuôi của người, mẹ người +...= rắn; hôn nhân người - rắn; mẹ người + bố rắn = trứng. Cuối cùng tác giả mô hình quá sự chuyển biến và kết hợp giữa huyền thoại chim tổ và huyền thoại rắn bố để trở thành mẹ tiên Âu - bố rồng Lạc sinh ra bọc trứng . tôi cho rằng, việc thờ vật tổ của thị tộc người Việt cổ là rất phổ biến, trong đó, thị tộc thờ rắn là một trong những thị tộc mạnh thời bấy giờ. Cùng với thời gian và sự phát triển về ý thức, tín ngưỡng thờ vật tổ là cơ sở quan trọng của việc hình thành biểu tượng quốc gia sau này. Nói chi tiết hơn về Đạo Mẫu ( hay đạo thánh ) đất Việt thì : Cũng không nằm ngoài sự vận động phát triển của vòng quay văn hóa , tín ngưỡng dân tộc , Đạo Mẫu trong quá trình hình thành và phát triển của mình đã chia trời đất làm 4 phủ đó là : thiên , thoải , nhạc , địa . Cùng với sự phân chia trời đất ra làm 4 miền như trên , dưới sự cai quản của 4 vị Thánh Mẫu nương nương thì luôn có các vị Thánh , thần , nhân giúp sức . và 1 trong những thành phần không thể thiếu , là cánh tay đắc lực giúp cho các vị Mẫu cái quan tốt công việc của mình : đó là các vị thần vật . Những vị thần vật này có sức mạnh và vị trí uy quyền tối cao trong nhóm loài của mình . Muôn loài bách thú trên trời , dưới nước đều phải quy ngưỡng trước sự thống trị của chúng .( theo quan niệm dân gian ) Cụ thể hơn : Thiên phủ ( trên trời ) : long , phụng Nhạc phủ ( miền rừng núi ) : hổ , báo . Thoải phủ ( dưới nước ) : rắn . Cũng bởi trong nền văn minh lúa nước của Việt nam đặc biệt là ở vùng đồng bằng sông hồng thì sự chi phối của các yếu tố mưa gió , nước... ..là quá lớn . Mà cũng chính vì vậy trong đời sống tâm linh đạo Mẫu thì hình tượng thần vật - vị chúa tể miền sống nước : rắn luôn được nhân dân ta dành một vị trí đặc biệt ưu ái . Khi thâm nhập vào trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở bắc bộ , con rắn đã trở thành những Ông Lốt , rồi tam đầu cửu vĩ hay là những Thanh xà , bạch xà . Những con vật này đã được hình tượng hóa và chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong tín ngưỡng của dân tộc . trở thành những vị thần , vị Thánh , vị quan quyền phép . uy danh . Qua nội dung bài viết hi vọng hòng làm sang tỏ một phần câu hỏi : vì sao có tục thờ ông Lốt , và vị trí , vai trò của các ông Lốt trong đạo Thánh đất Việt . . Cảm ơn các bạn Vinh đàm kính bút !Click to expand...
    cũng là ý kiến rất cảm ơn chia sẻ cua anh:D
    nam sơn đạo nhân, 21/6/11 #7
  8. conchudangyeu

    conchudangyeu Thành viên Bị cấm

    kinh bạch chư vị là thế thì tam đầu cửu vĩ là hiện thân của ai , tượng trương cho vị thánh gì , mà vì sao lại có tục dâng lốt ( tam cửu vĩ , lốt xanh đỏ vàng ) nhần có ý nghĩa gì , ... ?
    conchudangyeu, 22/6/11 #8
  9. damquangvinh

    damquangvinh New Member

    trả lời chung cho mọi người . Thần lốt và lốt tam đầu . tuy tên gọi khác nhau nhưng cũng đều nhằm chỉ chung 1 nhóm đối tượng đó là con rắn , mà đã được nhân gian suy tôn lên làm Thần rắn hay ông Lốt . sở dĩ có sự khác nhau trong cách gọi như vậy cũng có thể hiểu là do sự phân cấp tiến hóa trong chính nhóm đối tượng này . Ví như trong cộng đồng các loài rắn nước( ông Lốt ) thì Lốt tam đầu ( 3 đầu ) được coi là vị vua của loài . Đó là 1 cách hiểu khá đơn thuần của người phàm về sự sai khác trong hình tướng của cộng đòng các ông Lốt này . Nhưng về mặt siêu hình hay tín ngưỡng thì đây lại thể hiện 1 sự tiến hóa cao cấp trong nhóm đối tượng . Hình tượng những vị thần 3 đầu 6 tay , hay phật bà nghìn mắt nghìn tay luôn hàm ẩn 1 sự hi vọng , 1 sự ngưỡng mộ về sự thần thông với pháp lực siêu phàm của những hình tượng này . Nếu như với hình dáng 2 tay 1 đầu 2 chân của người phàm đã trở thành 1 điều hết sức bình thường và tự nhiên của loài người , thì hình tượng nhiều tay nhiều đầu đã ản chứa 1 sự huyền linh cao siêu trong nó . hay trong chính tâm tưởng của con người khi xây dựng nên nó . Nói về hình tướng nhiều đầu nhiều tay của các vị đặc biệt này nhiều bạn thắc mắc sao lại có 1 sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa các tôn giáo khác nhau về con số : số đầu , số tay ....và các con số hay được chọn là 1 , 3 , 9 , 108 , .................. Nếu nói về mặt hữu hình thì các con số này có thể là kết quả của những cuộc giao thoa tôn giáo , tín ngưỡng mà có sự ảnh hưởng lẫn nhau . Nếu nói về mặt vô hình thi người đây là những con số tâm linh , thần kì . Và câu hỏi vì sao đó lại là những con số thần kì thì khi cơ duyên nở hoa sẽ cho ta hiểu . Nói về tên gọi tam đầu cửu vĩ thì trong sự hiểu biết của người viết thì đây là 1 cách gọi sai . Đây là kết quả của sự ảnh hưởng của tôn giáo trung hoa nên tư tưởng người Việt . Nếu như ban đầu sự xuất hiện của các lốt Chùa với quyền hành thống trị của các hàng linh thú miền thoải cung là : thân người với 3 cái đầu rắn . Thì sau khi bị pha trộn với tư tưởng trung hoa với hình tượng : cửu vĩ hò ( hồ ly chín đuôi ) – cũng là vị chúa của loài hồ ly . Kết quả tạo ra là 1 thần Lốt tam đàu cửu vĩ ( 3 cái đầu – chín cái đuôi ) Đây là 1 hình tượng hết sức sai lầm được tạo ra bởi tư duy và sự hiểu biết của con người . Vị Thần Lốt tam đầu với hình dáng thân người và 3 cái đầu rắn ( tượng trưng cho thiên – nhân – địa ) là vị chúa tể của các linh thú dưới nước hay với cách gọi của đạo mẫu đó là miền thoải cung . Vị đã cùng với các vị Thần tiên dưới nước khác đã giúp mẫu Thoải ( theo đạo mẫu ) cai quản miền thoải cung . Và để có 1 cái nhìn đúng đắn và toàn cục về vô hình giới mọi người cần biết cái thế giới này có rất nhiều cung cõi khác nhau , trong các cung cõi này lại chứa đựng rất nhiều các sinh linh với rất nhiều cấp độ tiến hóa cũng như hình tướng khác nhau . Đó có thể là những con thú mang hình người , những hình thù kì quái .........nhưng ẩn đằng sau nó là cả 1 sự huyền linh , 1 cấp độ tiến hóa siêu phàm ngoài sức tưởng tượng của con người . Riêng về vấn đề dâng lốt mà haianh đã hỏi , anh xin trả lời thêm bản thân anh luôn không đồng tình trong việc sử dụng vàng mã làm tiến vât dâng lên phật thánh . Xin nhắc lại vàng mã chỉ nhằm thỏa mãn những vọng tượng thần thức phàm tục của những sinh linh có cấp độ tiến hóa thấp . Về việc dâng Lốt vì sao đã trở thành 1 phần của các nghi lễ tứ phủ . Bạn hãy hiểu rằng đây là kết quả của sự mê tín của loài người , là sự ảnh hưởng của quá trình giao thoa văn hóa Việt với tư tưởng đạo giáo Trung Hoa . từ tư tưởng về việc sử dụng vàng mã cho thế giới âm cho đến tư tưởng sử dụng màu sắc ngũ hành trong cách sử dụng . và đây , việc sử dụng vàng mã hoàn toàn là 1 sự mê tín dân gian . Đi ngược với lí đạo của trời đất . Cảm ơn ! Kí tên : vinh đàm .
    damquangvinh, 29/6/11 #9 1 person likes this.
  10. Thanh Tùng

    Thanh Tùng Thành viên Bị cấm

    hơ, chung chung vậy thôi à???? Vả lại xin lỗi là bài viết của bạn damquangvinh như trên thì có bị mang nặng cách luận giải và tư duy của cá nhân bạn không?????
    Thanh Tùng, 29/6/11 #10
  11. hoang.bao198x

    hoang.bao198x Super Moderator

    chưa đi vào trọng tâm lắm nhưng dù sao cung cám ơn bạn
    hoang.bao198x, 29/6/11 #11
  12. hoidongcacchua

    hoidongcacchua New Member

    hay nhỉ mở rộng tầm quan sát
    hoidongcacchua, 29/6/11 #12
  13. DinhManh

    DinhManh Guest

    @ damquangvinh Bài viết rất tuyệt, giúp mình hiểu thêm rất nhiều về hình tượng Lốt tam đầu. Cá nhân mình cũng đồng tình với việc dâng vàng mã lên các bậc thanh nhân là không thỏa đáng. Bản thân nhà mình cũng rất ít khi sử dụng vàng mã để cúng tế.
    DinhManh, 29/6/11 #13
  14. Trí Minh

    Trí Minh Active Member

    Về truyện này thì mình không biết rõ chỉ xin kể một câu chuyện có vẻ như có liên quan mình nghe được truyền miệng ở vùng Bạch Hạc. Từ thời Hùng vương sau trân chiến với Tản Viên bị thua Thủy tinh để lại một viên thủy thần trấn giữ ngã ba Bạch hạc để hàng năm cùng dâng nước đánh Sơn Tinh. Năm nào vị thần này cũng dâng nước làm vỡ đê và lụt lội chết chóc. Còn hiện làm Mãng xà để bắt trộm trâu bò chăn thả bên sông của nhân dân. Dân khổ cực mới kêu cầu đức Long Quân cứu giúp, Long Quân phái thần Bạch Hạc bây giờ về để giệt trừ thủy quái, cả 2 thi thố pháp thuật bên sông làm trời long đất lở. Sau thần Bạch Hạc hiện thành người khổng lồ bước qua sông Lô để lại 2 vết chân khổng lồ gần thành phố Việt Trì. Thì thủy thần mới chịu thua và bỏ miếu thờ xuôi về Hạ Lưu sông Hồng. Miếu thờ đó ngày nay là đền Bạch Hạc. Lại nói thủy thần xuôi về hạ lưu sông Hồng ngang qua Lảnh Giang mới quấy nhiễu và định chiếm đền Lảnh Giang mới giao chiến cới quan Lớn Đệ Tam. Mỗi lần Ngài rút kiếm chém đầu thì Mãng xà lại mọc thêm một đầu nữa sau 2 lần chém mãng xã mọc thành 3 đầu chín đuôi. Sau Quan Đệ Tam mới hiện làm con Bạch Long khổng lồ hút sạch nước một đoạn sông Lảnh Giang, rồi sai các loài thủy tộc bắt trói Tam đầu lại đem về đền Lảnh Giang trị tội. Nghe chuyện tam đầu bị mất miếu thờ ngài răn dạy và tha tội cho làm bộ hạ hầu cận trong đền đồng thời làm vật cưỡi của quan lớn Tam Phủ.
    Trí Minh, 29/6/11 #14
  15. conchudangyeu

    conchudangyeu Thành viên Bị cấm

    hihihii , cám ơn anh nhé nhưng có người lại bảo lốt tam đầu là biết trưng của tam bành lục tặc có người bảo đó là 1 binh tướng của quan đệ tam có người lại bảo đó là hiện thân của quan đệ tam nhưng mà lại có điều là vì sao trong đàn tam phủ thục mệnh là phải dăng lốt
    conchudangyeu, 29/6/11 #15
  16. Trí Minh

    Trí Minh Active Member

    Anh mới chỉ nghe câu chuyện này, chứ đã kiểm chứng nó sát thực đến đâu đâu. Định kiểm chứng rõ ràng thì post nhưng chưa kịp thì thấy vấn đềày nóng quá nên post bừa.
    Trí Minh, 29/6/11 #16
  17. damquangvinh

    damquangvinh New Member

    trả lời hải anh trong nghi lễ tam phủ thục mệnh : vị thánh được coi là đòng thày của các đồng thày : quan bơ phủ . mà muốn '' nịnh ' quan bơ phủ thì theo ngừoi phàm phải nịnh ngài ''con ngựa nước '' cho ngài đi '' chấm đòng ''
    damquangvinh, 29/6/11 #17
  18. conchudangyeu

    conchudangyeu Thành viên Bị cấm

    thế vậy sao trong khi cúng tam phủ thục mênh lại cần đến tam đầu cửu vĩ . Trong khoa này cũng chả thỉnh đến ông đệ tam
    conchudangyeu, 29/6/11 #18
  19. damquangvinh

    damquangvinh New Member

    thế vậy sao trong khi cúng tam phủ thục mênh lại cần đến tam đầu cửu vĩ . trong nghi lễ tam phủ thục mệnh : vị thánh được coi là đòng thày của các đồng thày : quan bơ phủ . mà muốn '' nịnh ' quan bơ phủ thì theo ngừoi phàm phải nịnh ngài ''con ngựa nước '' cho ngài đi '' chấm đòng '' Trong khoa này cũng chả thỉnh đến ông đệ tam bạn trích dẫn khóa lễ lến đây
    damquangvinh, 29/6/11 #19
  20. hoang.bao198x

    hoang.bao198x Super Moderator

    haianh1995 nói: ↑
    bạn kinh nhỉ đi mà đọc , biết thì hẵn kêu to , k biết thì tựa cột mà nghe . Thích tự đi mà nghiên cưu , bạn chưa phải là bố tôi nhéClick to expand...
    Em bớt nóng đi một chút, chỗ đông người, ý tứ một chút
    hoang.bao198x, 29/6/11 #20
(Bạn phải Đăng nhập hoặc Đăng ký để trả lời bài viết.) Show Ignored Content Trang 1 của 2 trang 1 2 Tiếp >

Chia sẻ trang này

  • Facebook
  • Twitter
  • Google+
  • Tumblr
  • Reddit
  • Email
  • Login with Facebook
Tên tài khoản hoặc địa chỉ Email: Bạn đã có tài khoản rồi?
  • Tích vào đây để đăng ký
  • Vâng, Mật khẩu của tôi là:
  • Bạn đã quên mật khẩu?
Duy trì đăng nhập Đăng ký!
  • Thành viên trực tuyến

    Tổng: 151 (Thành viên: 0, Khách: 140, Robots: 11)

    Thống kê diễn đàn

    Đề tài thảo luận: 7,005 Bài viết: 61,753 Thành viên: 28,763 Thành viên mới nhất: thienphuc nb
  • Diễn Đàn Hát Văn Việt Nam Trang chủ Diễn đàn > Tín ngưỡng Tứ phủ > Giải đáp thắc mắc >

    Từ khóa » Sự Tích ông Lốt