Lữ đoàn 125 Hải Quân Nhân Dân Việt Nam - Wikipedia

Lữ đoàn 125
Hải quân nhân dân Việt Nam
Quân kỳPhù hiệu
Quốc gia Việt Nam
Thành lập23 tháng 10 năm 1961; 64 năm trước (1961-10-23)
Quân chủngHải quân
Phân cấpLữ đoàn
Nhiệm vụBảo vệ các điểm khai thác dầu khí; vận chuyển hàng chi viện cho Trường Sa
Bộ phận củaVùng 2 Hải quân, Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam
Bộ chỉ huyCảng Cát Lái, Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Vinh danhAnh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ×2 Huân chương Quân công Huân chương Quân công hạng Nhất Huân chương Bảo vệ Tổ quốc Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất Huân chương Bảo vệ Tổ quốc Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì
  • x
  • t
  • s

Lữ đoàn 125 Hải quân là một đơn vị vận tải biển chủ lực của Hải quân Nhân dân Việt Nam, tiền thân là Đoàn 759.

Lịch sử hình thành

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Ngày 23 tháng 10 năm 1961, thành lập Đoàn 759.[1]
  • Ngày 29 tháng 1 năm 1964, Đoàn 759 đổi tên thành Lữ đoàn 125 (tương đương cấp Trung đoàn)[2]

Nhiệm vụ

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Nhiệm vụ chính của đơn vị khi mới thành lập là bí mật vận tải vũ khí, cán bộ bằng đường biển (Đường Hồ Chí Minh trên biển) từ miền Bắc vào miền Nam chi viện cho Quân Giải phóng miền Nam chiến đấu trong Chiến tranh Việt Nam. Thời kỳ đó, căn cứ của lữ đoàn là bến Bính (số hiệu là K20) ở Hải Phòng. Đơn vị sử dụng các tàu vận tải cỡ nhỏ thâm nhập miền Nam tại các căn cứ ở bến Sông Gianh (Quảng Bình), Sa Kỳ (Quảng Ngãi), Vũng Rô (Phú Yên), Lộc An (Bà Rịa - Vũng Tàu), Thạnh Phong (Bến Tre) và Vàm Lũng (Cà Mau).
  • Đồng thời, đoàn đã trực tiếp tham gia rà phá thủy lôi ở vùng biển Đông Bắc; tham gia giải phóng các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa Lớn thuộc quần đảo Trường Sa, Cù Lao Thu thuộc tỉnh Ninh Thuận và đón các tù nhân cộng sản từ Côn Đảo trở về đất liền.
  • Sau sự kiện Giải phóng miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975, lữ đoàn lại được chỉ huy quân chủng giao nhiệm vụ chặn, chốt, gác tại các điểm khai thác dầu khí; vận chuyển những chuyến hàng chi viện cho Trường Sa; vận chuyển hàng hóa - phát triển kinh tế biển.

Bến tàu không số K15

[sửa | sửa mã nguồn]

Bến tàu không số K15 nằm dưới chân đồi Nghinh Phong, nơi xuất phát của những đoàn tàu không số vận tải hàng hóa chi viện cho miền Nam của quân đội nhân dân Việt Nam trong chiến tranh kháng chiến chống Mỹ; di tích lịch sử quốc gia, một trong những thắng cảnh của khu du lịch Đồ Sơn, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

Ngày 8 tháng 4 năm 1962, chuyến tàu gỗ trinh sát không số đầu tiên chở 30 tấn vũ khí và mang chỉ thị của Trung ương về mở đường vận tải chiến lược trên biển do đồng chí Bông Văn Dĩa lãnh đạo xuất bến. Ngày 16 tháng 10 cùng năm, khi tàu không số đầu tiên cập bến Thành Tự tại Vàm Lũng, Cà Mau đã khai sinh ra đường Hồ Chí Minh trên biển, một huyết mạch giao thông vô cùng quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Trong suốt cuộc Chiến tranh Việt Nam, đã có gần 100 chiếc thuyền không số với 168 chuyến hành trình vượt sóng vận chuyển được hơn 150.000 tấn vũ khí, trang thiết bị, hàng chục ngàn lượt cán bộ từ Miền Bắc Việt Nam vào chiến trường Miền Nam Việt Nam; phá hủy hơn 4.000 quả thủy lôi, đánh trả hơn 30 lần tàu địch bao vây và hơn 1.200 lần máy bay tập kích, bắn rơi 5 chiếc máy bay, bắn cháy nhiều tàu chiến của địch.

Hiện nay, tại khu di tích còn một số nền móng kho hàng, bể nước.

Để tưởng nhớ những chiến công và sự hy sinh của những thủy thủ tàu không số, thành phố Hải Phòng xây dựng Tượng đài kỷ niệm đường Hồ Chí Minh trên biển ngay cạnh di tích Bến tàu K15.

Đoàn tàu Không số

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Chiến tranh Việt Nam, đơn vị đã sử dụng các tàu vận tải cỡ nhỏ để thâm nhập vào miền Nam. Mặc dù có số hiệu đầy đủ, song để giữ bí mật, các tàu này không sơn số hiệu lên thân tàu. Vì thế, những con tàu này được biết đến với tên gọi chung là Đoàn tàu Không số.

Tàu 43

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: C-43A và C-43B

Tàu 43 là một trong bốn con tàu vận chuyển vũ khí quân nhu vào Đức Phổ (43; 56; 165 và 235) tiếp tế cho chiến trường miền Nam trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Bốn tàu ra đi nhưng chỉ có Tàu 56 trở về. Ba chiếc còn lại đều đụng độ với tàu tuần duyên của Hải quân Việt Nam Cộng hòa và phải phá hủy tàu.

Tàu 54

[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu 54 thuộc Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 125. Vào tháng 9 năm 1970, tàu chở 70 tấn vũ khí, xuất phát tại Cảng K35 Hải Phòng đi Rạch Gốc, Cà Mau. Chỉ huy của tàu bao gồm Thuyền trưởng Hai Đặng, Chính trị viên Hai Hiệu và hai phó thuyền trưởng là Chử Thái Bình và Đồng Xuân Chế. Tuy nhiều lần rơi vào tình thế nguy hiểm, tàu 54 an toàn trở về sau hơn một tháng hành trình.

Tàu 56

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Chiến tranh Việt Nam, Đoàn 125 HQ đã tổ chức 3 chuyến tàu cặp bến thành công, vận chuyển 109 tấn vũ khí, kịp thời trang bị cho quân dân các tỉnh miền Đông, Khu 6 tham gia các chiến dịch, chiến thắng ở trận Bình Giã, Đồng Xoài, Dầu Tiếng, Bầu Bàng

Tàu 69

[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu 69 là tàu sắt trọng tải 100 tấn, do Thuyền trưởng Nguyễn Hữu Phước chỉ huy. Trước tháng 4 năm 1966, tàu đã đi được 7 chuyến vận chuyển thành công vũ khí vào Nam. Chuyến thứ tám khởi hành ngày 21 tháng 4 năm 1966 tại Đồ Sơn, chở 61 tấn hàng. Đến đêm 28 tháng 4, tàu đã cập bến Vàm Lũng và giao hàng xong. Trước khi tàu trở lại miền Bắc, phải kiểm tra mọi yếu tố về kỹ thuật, thì chân vịt của tàu bị hỏng nặng. Sau 1 tuần lễ, tàu được sửa xong và hạ thủy chuẩn bị ra Bắc. Nhưng lúc này lại xảy ra một vụ việc: Tàu 100 chuẩn bị vào bến thì bị lộ, bị phong tỏa, tàu buộc phải cho nổ để phi tang. Vụ đó làm cho tàu Hải quân Việt Nam Cộng hòa tập trung quanh bến để theo dõi. Tàu 69 phải nằm 6 tháng trong rừng đước, đến ngày 30 tháng 6 năm 1966 mới có thể rời bến. 9 giờ tối ngày 31 tháng 12, tàu bị một tàu Việt Nam Cộng hòa phát hiện. Tàu đó tiến thẳng về phía Tàu 69. Đến 9 giờ 30 phút tối, thấy không thể lẩn trốn, Thuyền trưởng Nguyễn Hữu Phước quyết định chiến đấu. Hai bên bắn nhau dữ dội. 0 giờ 20 phút ngày 1 tháng 1 năm 1967, khi tàu vào đến cửa Vàm Lũng thì 5 tàu Việt Nam Cộng hòa đã rút lui. Tàu 69 cập bến với 121 lỗ thủng trên thành tàu. 6 giờ sáng ngày 1 tháng 1, đài phát thanh Việt Nam Cộng hòa thông báo vào lúc 23 giờ ngày hôm trước đã bắn chìm một tàu chở vũ khí của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tàu 69 nằm lại trong rừng đước Cà Mau cho đến ngày kết thúc chiến tranh.[3]

Tàu 100

[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu 100 với 17 thủy thủ, do Thuyền trưởng Lê Minh Sơn và Chính trị viên Nguyễn Hữu Tương chỉ huy, rời bến Bính Động đêm 24 tháng 4 năm 1966, chở theo 62,605 tấn vũ khí tới Cà Mau. Sau 6 ngày đi suôn sẻ, ngày thứ bảy tàu gặp một máy bay khu trục của Mỹ và bị đeo bám. Sau một tuần vòng vo trên hải phận quốc tế, đến ngày 9 tháng 5 tàu quyết định đột phá vào bờ thì bị phát hiện. Tàu USCGC Point Grey của Mỹ ập tới. Hai bên giao tranh dữ dội. Trận đánh kéo dài đến ngày 11 tháng 5, quân miền Nam cho máy bay giội bom thẳng vào Tàu 100 khiến tàu phát nổ.[3]

Tàu 176

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: C-176

Tàu 187

[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu 187 gồm 18 thủy thủ, do Thuyền trưởng Phan Văn Xá và Chính trị viên Hồ Đức Thắng chỉ huy, rời bến ngày 11 tháng 6 năm 1966. Ngày 19 tháng 6, trên lộ trình ngoài hải phận quốc tế, tàu đã bị máy bay trinh sát của Mỹ phát hiện. Hải quân Hoa Kỳ điều đến 3 tàu USS John A. Bole (DD-755), USS Haverfield (DE-393), USS Tortuga (LSD-26). Hải quân Việt Nam Cộng hòa điều 4 tàu là HQ-225, HQ-227, HQ-231, HQ-238 thuộc Duyên đoàn 35 và Giang đoàn 23. Tàu 187 lao nhanh về phía bờ biển Trà Vinh, nhưng cách bờ chừng 300 m thì bị mắc cạn. Thuyền trưởng ra lệnh cho toàn bộ thủy thủ đoàn gấp rút rời tàu lên bờ, sau đó ra lệnh hủy tàu. Nhưng bộc phá không nổ. Tàu quân miền Nam tràn tới bắt sống được tàu 187 và toàn bộ 62,6 tấn hàng. 1 thủy thủ của tàu bị thương và bị bắt, 17 người còn lại chạy thoát vào rừng và gia nhập Đoàn 962 (trong đó có 2 thuỷ thủ của ta bị thương nặng và hi sinh tại Duyên Hải sau này mộ phần được quy tập về nghĩa trang Thạnh Hải thuộc huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre).[3]

Tàu 198

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: C-198

Tàu 145

[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu 235

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Nguyễn Phan Vinh

Tàu là con tàu chở vũ khí cho chiến dịch xuân mậu thân năm 1968, tàu xuất phát vào đêm 27 tháng 2 năm 1968 tiếp tế cho vùng Hòn Hèo (Khánh Hòa). Lúc đó có 4 tàu nhận nhiệm vụ chở vũ khí là tàu 165, 235, 56 và 43. Chỉ có tàu 56 đi về được.

Trên tàu có 20 thành viên: thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh, chính trị viên Nguyễn Tương, thuyền phó là Đoàn Văn Nhi và Võ Tá Từ, máy trưởng Ngô Văn Thứ, máy hai Trần Lộc, thợ máy Vũ Long An và Nguyễn Minh Hải, thợ điện Lê Duy Mai, báo vụ Phạm Trường An và Doãn Quang Ruyện, ra đa Trần Thọ Thuyết, thủy thủ Nguyễn văn Phong, Đào Quang Ty, Hà Minh Thật, cơ yếu: Nguyễn Văn Dũng, y tá Hoàng Văn Hòa, lái tàu Mai Văn Khung, Lâm Quang Tuyến.

Tàu đi đến đêm 29 tháng 2, khi vào hải phận Khánh Hòa thì bị 3 tàu chiến bao vây là tàu Ngọc Hồi, tàu HQ12, tàu HQ617 bao vây, muốn bắt sống tàu 235. Tàu 235 cố gắng thoát khỏi vòng vây nhưng thất bại. Thuyền trưởng Vinh cho nổ tàu với 100 kg thuốc nổ.

Khoảng 2 giờ 30 phút ngày 1 tháng 3, một cột lửa bùng lên chia tàu thành làm 2 phần, 1 phần chìm, còn 1 phần văng lên núi.

9 thủy thủ sống sót lên bờ trong đó Thuyền trưởng Vinh và thợ máy Thứ chiến đấu cầm chân để đồng đội rút lui và cuối cùng hi sinh. 7 người còn lại gồm có Nhi, Mai, Thật, Phong, Khung, Tuyến và An dìu nhau đi vào khu vực Hòn Hèo. Khi đi tìm nguồn nước, Khung không may bị bắt (đến năm 1975 mới được trả tự do) trong khi Thuyền phó Nhi hi sinh. 5 người còn lại chờ đến ngày thứ 13 thì gặp được du kích địa phương, và tới tháng 6 năm 1968, họ hành quân vượt Trường Sơn trở về Bắc.

Tàu 649

[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu 673

[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu 675

[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu 143

[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu 41 (Tàu 671)

[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu vận tải quân sự HQ-671 vốn là tàu C-41, hay tàu 641 có trọng tải 50 tấn, do Trung Quốc sản xuất năm 1962, viện trợ cho Việt Nam năm 1964. Tàu được biên chế về Đoàn 125 (trước là Đoàn 759) với nhiệm vụ vận chuyển hàng chi viện cho chiến trường miền Nam bằng đường biển. Tàu có chiều dài 31,5m, rộng 5,8m, chiều cao từ đáy đến đỉnh cột cờ 11,7m.

Tàu đã từng tham gia chiến dịch vận tải VT5 (1968 - 1969) với hàng chục chuyến, góp phần chuyển hàng nghìn tấn vũ khí hàng hóa từ cảng Hải Phòng vào cảng Gianh (Quảng Bình) để Đoàn 559 tiếp tục vận chuyển theo đường Trường Sơn chi viện chiến trường miền Nam.

Từ tháng 2/1970 đến tháng 7/1971, tàu chờ 4 chuyến hàng vào chiến trường Nam Bộ. nhưng 3 chuyến phải hủy, quay lại giữa chừng do đối phương ngăn chặn, đeo bám. Chỉ có chuyến ngày 30/4/1970 là thành công, tàu được ngụy trang với số hiệu RS-05 đi theo tuyến mới, đưa được 58 tấn vũ khí, hàng hóa vào cập Hang Hố (Cà Mau) an toàn.

Tháng 7/1971, Tàu C-41 đổi số hiệu thành 671. Từ cuối năm 1971-1974, tàu làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, hàng hóa và bộ đội vào cảng Đồng Hới (Quảng Bình) và cảng Cửa Việt (Quảng Trị) để chuyển tiếp vào chiến trường miền Nam phục vụ cho Chiến dịch Xuân - Hè 1972.

Trong cuộc Tổng tiến công công và nổi dậy Xuân 1975, Tàu làm nhiệm vụ chở người, vũ khí, hàng hóa tăng cường cho chiến dịch Huế - Đà Nẵng, giải phóng các tỉnh ven biển miền Trung. Đặc biệt, Tàu được giao nhiệm vụ cùng với Tàu 673 chở lực lượng của Đoàn 126 Đặc công Hải quân ra tiến công giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tàu làm nhiệm vụ vận tải chi viện cho các đơn vị đóng quân ở quần đảo Trường Sa. Tháng 10/1978, Tàu nhận lệnh đi tìm kiếm 7 cán bộ chiến sĩ của đảo Phan Vinh bị sóng nước làm trôi dạt trong khi đang làm nhiệm vụ. Sau 8 ngày đêm kiên trì “cày đi xới lại” trên một vùng biển rộng lớn, vượt qua sóng to, gió lớn, tàu đã tìm được cả 7 đồng chí và đưa về đơn vị an toàn.

Năm 1980, Tàu 641 được mang số hiệu HQ-671 và năm 1982, được biên chế về Hải đội 413 Vùng 4 Hải quân, làm nhiệm vụ trực sẵn sàng chiến đấu và vận chuyển hậu cần phục vụ các đơn vị trong Quân chủng Hải quân.

Đầu năm 1988, Tàu làm nhiệm vụ trực bảo vệ đảo Đá Lớn. Cán bộ chiến sĩ Tàu HQ-671 không quản ngại hy sinh, bình tĩnh, dũng cảm, vững vàng vượt qua những khó khăn, gian khổ, sóng gió và sự bao vây khiêu khích của các tàu chiến Trung Quốc, cho tàu lao thẳng vào sát mép đảo, sẵn sàng làm bia chủ quyền, góp phần cùng đơn vị giữ vững đảo Đá Lớn. Sau đó, Tàu tiếp tục thực hiện nhiệm vụ vận chuyển chi viện cho xây dựng và bảo vệ quần đảo Trường Sa.

Ngay sau sự kiện Trung Quốc bắn cháy và làm chìm 3 tàu vận tải của ta ở khu vực các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao (ngày 14/3/1988), mặc dù bị tàu của đối phương ngăn chặn, uy hiếp, song cán bộ chiến sĩ Tàu HQ-671 vẫn kiên quyết, kiên trì và dũng cảm, không sợ hy sinh, kịp thời có mặt ở khu vực xảy ra chiến sự để làm nhiệm vụ tìm kiếm, cấp cứu các cán bộ, chiến sĩ của ta bị nạn đưa về nơi an toàn. Sau hai ngày tìm kiếm, Tàu đã cứu được 41 đồng chí và 3 liệt sĩ đưa về đất liền.

Năm 2002, Tàu HQ-671 được biên chế về Hải đội 384 Cục Hậu cần Hải quân. Ngày 20/9/2011, nhân kỷ niệm 50 năm đường Hồ Chí Minh trên biển, Tàu HQ-671 được đưa từ Hải đội 384 về trưng bày tại Bảo tàng Hải quân. Năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định công nhận Tàu HQ-671 là bảo vật quốc gia.[4]

Thành tích

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Đơn vị đã hai lần được Nhà nước Việt Nam thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.
  • Huân chương quân công hạng nhất.[5]
  • Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất,[6] nhì.[7]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Theo Quyết định số 97/QP của Bộ Quốc phòng (ký ngày 23/10/1961)
  2. ^ Theo Quyết định 30/QP-QĐ của Bộ Quốc phòng (ngày 19/1/1964)
  3. ^ a b c 5 đường mòn Hồ Chí Minh, Đặng Phong, Nhà xuất bản Tri Thức
  4. ^ Hải Hà (ngày 26 tháng 11 năm 2019). "Bảo vật quốc gia về Đường Hồ Chí Minh trên biển". Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2021.
  5. ^ Đ.N (ngày 24 tháng 10 năm 2011). "Lữ đoàn 125 kỷ niệm 50 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển". Nhân Dân.
  6. ^ Bảo Minh; Minh Thắng (ngày 23 tháng 10 năm 2021). "Lữ đoàn 125, Vùng 2 Hải quân và dấu ấn về Đoàn tàu không số". Quân đội nhân dân.
  7. ^ Hùng Khoa (ngày 22 tháng 10 năm 2016). "Lữ đoàn 125 Hải quân đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhì". Quân đội nhân dân.
  • x
  • t
  • s
Quân đội nhân dân Việt Nam – Bộ Quốc phòng Việt Nam
Tổng quan
Lịch sử
  • Quân đội
  • Bộ Quốc phòng
  • Dân quân tự vệ
Vũ khí
  • Súng ngắn
  • Súng trường
  • Súng tiểu liên
  • Súng bắn tỉa
  • Súng phóng lựu
  • Súng máy
  • Pháo
  • Tên lửa
Trang bị
  • Trang bị
  • Lục quân
  • Hải quân
  • Không quân
  • Biên phòng
  • Cảnh sát biển
Cấp bậcQuân hàm
  • Đại tướng
  • Thượng tướng–Đô đốc
  • Trung tướng–Phó Đô đốc
  • Thiếu tướng–Chuẩn Đô đốcĐại tá
  • Thượng tá
  • Trung tá
  • Thiếu táĐại úy
  • Thượng úy
  • Trung úy
  • Thiếu úyThượng sĩ
  • Trung sĩ
  • Hạ sĩ
  • Binh nhất
  • Binh nhì
Khác
  • Quân kỳ
  • Quân hiệu
  • Cấp hiệu
  • Phù hiệu
  • Quân phục
  • Mười lời thề danh dựTổ chức
  • Chức vụ
  • Tướng lĩnh
  • Tiền lươngNgân sách Quốc phòng
  • Sách trắng về quốc phòng
Tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam
ĐảngQuân ủy Trung ương
Nhà nướcHội đồng quốc phòng và an ninh
Quốc hộiỦy ban Quốc phòng và An ninh
Chính phủBộ Quốc phòng
Cơ quan tư pháp
  • Tòa án Quân sự Trung ương
  • Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương
Chính trị-đoàn thểHội Cựu chiến binh
Khối cơ quan
  • Tổng cục
  • Bộ Tham mưu
  • Cục Chính trị
  • Cục Hậu cần
  • Cục Kỹ thuật
  • Cục–Vụ–Sở-Phòng–Ban
  • Học viện–Nhà trường
  • Viện Nghiên cứu
Khối cơ sở
  • Quân chủng
  • Quân khu
  • Binh chủng
  • Bộ Tư lệnh
  • Quân đoàn
  • Sư đoàn
  • Lữ đoàn
  • Trung đoàn
  • Tiểu đoàn
  • Đại đội
  • Trung đội
  • Tiểu đội
  • Dân quân Tự vệ
  • Bộ Chỉ huy quân sự (Thành phố  • Tỉnh)
  • Ban Chỉ huy quân sự (Quận  • Huyện)
  • Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng (Thành phố  • Tỉnh)
  • Hải đội Biên phòng
Các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng (Việt Nam)
Lãnh đạo (6)
  • Bộ trưởng
  • Tổng Tham mưu trưởng
  • Chủ nhiệm Tổng cục Chính trịThứ trưởng
  • Phó Tổng Tham mưu trưởng
  • Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị
Tổng cục (6)
  • Bộ Tổng Tham mưu
  • Tổng cục Chính trịTổng cục Hậu cần
  • Tổng cục Kỹ thuật
  • Tổng cục Tình báo
  • Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng
Quân chủng (4)
  • Hải quân
  • Phòng không – Không quân
  • Bộ đội Biên phòng
  • Cảnh sát biển
Binh chủng (5)
  • Đặc công
  • Công binh
  • Tăng – Thiết giáp
  • Hóa học
  • Thông tin Liên lạc
Quân khu (7)
  • Quân khu 1
  • Quân khu 2
  • Quân khu 3
  • Quân khu 4
  • Quân khu 5
  • Quân khu 7
  • Quân khu 9
Quân đoàn (2)
  • Quân đoàn 12
  • Quân đoàn 34
Bộ Tư lệnh (4)
  • Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
  • Bộ Tư lệnh Thủ đô
  • Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng
  • Bộ Tư lệnh Pháo binh – Tên lửa
Học viện (6)Trường Sĩ quan (3)
  • Học viện Quốc phòng
  • Học viện Chính trị
  • Học viện Lục quân
  • Học viện Kỹ thuật Quân sự
  • Học viện Quân Y
  • Học viện Hậu cần
  • Đại học Trần Quốc Tuấn
  • Đại học Nguyễn Huệ
  • Đại học Chính trị
Cục và tương đươngtrực thuộc Bộ (14)
  • Văn phòng Bộ
  • Thanh tra Bộ
  • Ban Cơ yếu Chính phủ
  • Cục Tài chính
  • Cục Kế hoạch và Đầu tư
  • Cục Kinh tế
  • Cục Khoa học Quân sự
  • Cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng
  • Cục Đối ngoại
  • Cục Điều tra Hình sự
  • Cục Thi hành án
  • Vụ Pháp chế
  • Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam
  • Bảo hiểm Xã hội Bộ Quốc phòng
Bệnh viện (3)
  • Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Bệnh viện Trung ương Quân đội 175
  • Viện Y học cổ truyền Quân đội
Viện nghiên cứu (5)
  • Viện Chiến lược Quốc phòng
  • Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự
  • Viện Lịch sử Quân sự
  • Viện Quan hệ Quốc tế về Quốc phòng
  • Viện Thiết kế
Trung tâm (2)
  • Trung tâm Thông tin Khoa học Quân sự
  • Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga
Doanh nghiệp (14)
  • Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội
  • Tổng công ty Trực thăng Việt Nam
  • Tổng Công ty Xây dựng Trường Sơn
  • Tổng Công ty Thành An
  • Tổng Công ty 15
  • Tổng Công ty 16
  • Tổng Công ty Đông Bắc
  • Tổng Công ty Xuất nhập khẩu Tổng hợp Vạn Xuân
  • Tổng Công ty Xây dựng Lũng Lô
  • Tổng Công ty Thái Sơn
  • Tổng Công ty 319
  • Tổng Công ty 36
  • Tổng Công ty Đầu tư Phát triển nhà và Đô thị
  • Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội
Tổ chức chi tiết của Bộ Quốc phòng Việt Nam
Bộ Tổng Tham mưu
  • Văn phòng
  • Cục Chính trị
  • Cục Tác chiến
  • Cục Quân lực
  • Cục Tác chiến Điện tử
  • Cục Quân huấn
  • Cục Bản đồ
  • Cục Cơ yếu
  • Cục Nhà trường
  • Cục Dân quân Tự vệ
  • Cục Cứu hộ Cứu nạn
  • Cục Hậu cần
  • Lữ đoàn 144
  • Đoàn Nghi lễ Quân đội
Tổng cục Chính trị
  • Văn phòng
  • Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương
  • Cục Chính trị
  • Cục Tổ chức
  • Cục Cán bộ
  • Cục Tuyên huấn
  • Cục Bảo vệ An ninh Quân đội
  • Cục Chính sách
  • Cục Dân vận
  • Cục Hậu cần
  • Ban Công đoàn Quốc phòng
  • Ban Thanh niên Quân đội
  • Ban Phụ nữ Quân đội
  • Tòa án Quân sự Trung ương
  • Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương
  • Trường Đại học Văn hóa - Nghệ thuật Quân đội
  • Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
  • Điện ảnh Quân đội nhân dân
  • Báo Quân đội nhân dân
  • Tạp chí Quốc phòng Toàn dân
  • Tạp chí Văn nghệ Quân đội
  • Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
  • Trung tâm Phát thanh Truyền hình Quân đội
  • Đoàn 871
Tổng cục Kỹ thuật
  • Bộ Tham mưu
  • Cục Chính trị
  • Cục Hậu cần
  • Cục Quân khí
  • Cục Xe-Máy
  • Cục Kỹ thuật Binh chủng
  • Trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự
  • Trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ôtô
  • Viện Kỹ thuật Cơ giới Quân sự
  • Xí nghiệp Liên hợp Z751
Tổng cục Hậu cần
  • Bộ Tham mưu
  • Cục Chính trị
  • Cục Hậu cần
  • Cục Doanh trại
  • Cục Quân nhu
  • Cục Xăng dầu
  • Cục Vận tải
  • Cục Quân y
  • Bệnh viện 354
  • Bệnh viện 105
  • Bệnh viện 87
  • Nhà hát Chèo Quân đội
  • Tổng Công ty 28
  • Trường Cao đẳng nghề số 13
Tổng cục Tình báo
  • Bộ Tham mưu
  • Cục Chính trị
  • Cục Hậu cần
  • Cục Kỹ thuật
  • Học viện Khoa học Quân sự
  • Cục 11
  • Cục 12
  • Cục 16
  • Cục 25
  • Cục 71
  • Cục 72
  • Cục 80
  • Viện 26
  • Viện 70
  • Viện 78
  • Viện Cơ cấu chiến lược
  • Trung tâm 72
  • Trung tâm 75
  • Trung tâm 501
  • Lữ đoàn 74
  • Lữ đoàn 94
  • Đoàn K3
Tổng cục CNQP
  • Bộ Tham mưu
  • Cục Chính trị
  • Cục Hậu cần
  • Cục Kỹ thuật
  • Cục Quản lý Công nghệ
  • Viện Công nghệ Quốc phòng
  • Viện Vũ khí
  • Viện Thiết kế tàu quân sự
  • Viện Thuốc phóng-Thuốc nổ
  • Trường Cao đẳng Công nghiệp Quốc phòng
  • Tổng Công ty Ba Son
  • Tổng Công ty Sông Thu
  • Tổng Công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng
  • Tổng Công ty Bảo hiểm Quân đội
Quân chủng Hải quân
  • Bộ Tham mưu
  • Cục Chính trị
  • Cục Hậu cần
  • Cục Kỹ thuật
  • Vùng 1
  • Vùng 2
  • Vùng 3
  • Vùng 4
  • Vùng 5
  • Học viện Hải quân
  • Lữ đoàn 954
  • Lữ đoàn 126
  • Lữ đoàn 189
  • Trường Cao đẳng Kỹ thuật Hải quân
  • Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn
  • Viện Kỹ thuật Hải quân
  • Viện Y học Hải quân
Quân chủng PK-KQ
  • Bộ Tham mưu
  • Cục Chính trị
  • Cục Hậu cần
  • Cục Kỹ thuật
  • Cục Phòng không Lục quân
  • Học viện Phòng không - Không quân
  • Trường Sĩ quan không quân
  • Sư đoàn 361
  • Sư đoàn 363
  • Sư đoàn 365
  • Sư đoàn 367
  • Sư đoàn 370
  • Sư đoàn 371
  • Sư đoàn 372
  • Sư đoàn 375
  • Sư đoàn 377
  • Lữ đoàn 918
  • Lữ đoàn 28
  • Lữ đoàn 18
  • Viện Kỹ thuật PK-KQ
  • Viện Y học PK-KQ
  • Tổng Công ty Xây dựng Công trình Hàng không
Bộ đội Biên phòng
  • Bộ Tham mưu
  • Cục Chính trị
  • Cục Hậu cần
  • Cục Kỹ thuật
  • Cục Trinh sát
  • Cục Phòng chống Tội phạm Ma túy
  • Cục Cửa khẩu
  • Học viện Biên phòng
  • Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố
  • Lữ đoàn 21
  • Hải đoàn 18
  • Hải đoàn 28
  • Hải đoàn 38
  • Hải đoàn 48
Cảnh sát biển
  • Bộ Tham mưu
  • Cục Chính trị
  • Cục Hậu cần
  • Cục Kỹ thuật
  • Cục Nghiệp vụ và pháp luật
  • Vùng 1
  • Vùng 2
  • Vùng 3
  • Vùng 4
Học viện Quốc phòng
  • Cục Chính trị
  • Cục Hậu cần-Kỹ thuật
  • Cục Huấn luyện Đào tạo
  • Tạp chí Nghệ thuật Quân sự
  • Viện Khoa học Nghệ thuật Quân sự
  • Các Khoa (Chiến lược, Chiến dịch, CTĐ-CTCT, Lý luận Mác-Lê nin)
Học viện Chính trị
  • Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự
  • Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự
Học viện Kỹ thuật QS
  • Viện Kỹ thuật Công trình đặc biệt
  • Viện Đào tạo và Nghiên cứu Việt-Nga
Học viện Quân y
  • Bệnh viện 103
  • Viện bỏng Quốc gia
  • Các Khoa và Bộ môn
Ban Cơ yếu Chính phủ
  • Cục Chính trị-Tổ chức
  • Cục Chứng thực số và Bảo mật Thông tin
  • Cục Cơ yếu 893
  • Cục Quản lý kỹ thuật nghiệp vụ mật mã
  • Cục Quản lý Mật mã Dân sự và Kiểm định Sản phẩm Mật mã
  • Học viện Kỹ thuật Mật mã
  • Viện Khoa học Công nghệ Mật mã

Từ khóa » Số điện Thoại Lữ đoàn 125