Luận Bàn Về Hạnh Phúc - 123doc

Bài viết điểm qua các quan niệm hạnh phúc tiêu biểu đã từng biết ở cả trời Đông và trời Tây, từ cổ đến kim, ngõ hầu tìm ra điểm chung nhất để nhân loại phấn đấu, vươn tới đạt đến hạnh phúc ngay trên mặt đất này.

Trang 1

Luận bàn về hạnh phúc

Discussion of happiness

TS Trần Hồng Lưu, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng

Tran Hong Luu, Ph.D., Danang University of Economics

Tóm tắt

Hạnh phúc là một trong những mục đích mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muốn hướng tới Hạnh phúc không phải là vấn đề mơ hồ như người ta thường nói về ước mơ cháy bỏng mà trở thành vấn đề triết học, cần có sự nghiên cứu một cách nghiêm túc Không ít những nhà tư tưởng từ xưa đến nay cố công gắng sức bàn luận, song để tìm ra một tiêu chí chung ở một số nét cơ bản thì không phải dễ dàng Chính vì thế, hạnh phúc vẫn là chủ đề tiếp tục được bàn luận Bài viết điểm qua các quan niệm hạnh phúc tiểu biểu đã từng biết ở cả trời Đông và trời Tây, từ cổ đến kim, ngõ hầu tìm ra điểm chung nhất để nhân loại phấn đấu, vươn tới đạt đến hạnh phúc ngay trên mặt đất này

Từ khóa: hạnh phúc, hiện thực, mục đích, toàn mỹ

Abstract

Happiness is one of the aims which the Socialist Republic of Vietnam want to achieve Happiness is not

a vague matter like burning dreams about which people often talk, but a philosophical issue that needs

to be seriously studied Many thinkers throughout history have strived to promote strenuous debate, but

to find a common criterion in some basic definitions is not an easy task Therefore, happiness is still the topic to be continually discussed This article reviews primary concepts of happiness previously known

in both the Eastern and the Western areas, from the ancient times to the present, so as to find out the most common that human beings have attempted to achieve in this real world

Keywords: happy, reality, goals, perfection

1 Đặt vấn đề

Hạnh phúc là gì? Câu hỏi đơn giản,

tưởng như đã được giải quyết từ lâu Hạnh

phúc là no cơm, ấm áo - tiến tới là ăn ngon,

mặc đẹp; là ước mơ một ngày bình an của

người dân trong chiến tranh; là phút thả

lỏng mình trong thiên nhiên của cư dân

trong xã hội sống gấp để được sống chậm

trong tự nhiên như nhiên; là ước mơ một

giấc ngủ ngon của con người trong cuộc

sống số và mạng Giải quyết xong vấn đề

vật chất, cơm áo gạo tiền tưởng như đã là hạnh phúc Song vấn đề không đơn giản

như thế Tại sao vẫn còn vô số những nhà

giàu vẫn khóc trong nhà lầu, xe hơi đầy đủ

Như thế, sự đủ đầy về vật chất chưa phải là cứu cánh đưa con người đến hạnh phúc mà phải chăng đó còn là cái gì lớn hơn nữa, cao hơn nữa như nhu cầu tinh thần phải được thỏa mãn một cách tương ứng Chính

vì thế, hạnh phúc vẫn là chủ đề tiếp tục được bàn luận, do hạnh phúc có vai trò to

Trang 2

lớn trong việc hướng tới đời sống đạo đức,

đời sống tinh thần của con người, là động

lực, cứu cánh để con người vươn lên và đạt

đến ngay trên thế giới thực này

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Quan niệm về hạnh phúc trong

triết học Trung Hoa

Tại mảnh đất đông dân nhất thế giới

này có hai khuynh hướng triết học, dường

như bề ngoài đối lập nhau trong con đường

nhập thế và xuất thế Đó là Đạo gia và

Nho gia

Với Nho gia, mục tiêu lớn nhất của xã

hội phong kiến Trung Hoa là đào tạo ra

người quân tử, với nhiều phẩm chất cao

quý: nhân - trí - dũng, có tài kinh bang tế

thế để đảm đương được công việc xã hội

Đó là con người: chính tâm, tu thân, tề gia,

trị quốc, bình thiên hạ Theo đó hạnh phúc

của người quân tử là hiến dâng cho xã hội,

lập nhiều công danh Ông tổ của Nho gia là

Khổng Tử đã không tiếc sức mình suốt đời

cổ súy cho tinh thần vị tha, hy sinh lợi ích

riêng cho lợi ích chung Ông chủ trương,

người quân tử phải có lòng bác ái với dân,

xả thân cứu giúp mọi người Là con người

giàu sang không thể quyến rũ, uy vũ không

thể khuất phục, nghèo nàn không thay đổi

ý chí, trước nghĩa và lợi thì chọn nghĩa,

luôn vì lý tưởng chung, không sợ khó

khăn, chết chóc Không được làm giàu

bằng con đường bất nhân, bất nghĩa Điều

đó được Khổng Tử vạch rõ dứt khoát:

“Giàu và sang thì ai chẳng muốn Nhưng

nếu chẳng phải đạo mà đạt được thì không

được làm Nghèo và hèn thì ai chảng ghét

Nhưng nếu tìm cách thoát nghèo mà trái

dạo thì không được làm” (Luận ngữ, Lý

nhân, 5) Theo ông: “Đối với người nhân

đức, nếu muốn muốn lập thân thì hãy giúp

người lập thân, mình muốn thành đạt thì

hãy giúp người thành đạt” (Luận ngữ, Ung

dã, 28) Đó là người luôn coi mọi người

“trong bốn biển đều là anh em” (Luận ngữ, Nhan uyên) Quân tử là người tuyệt vời với phẩm cách: “Điều gì mình không muốn làm cho mình thì đừng làm cho người khác” (Luận ngữ, Vệ Linh Công, 23) Có thể thấy quan niệm Nho gia về hạnh phúc nói trên có nhiều điểm khá hợp lý cần có

sự kế thừa chọn lọc trong thời điểm hiện nay [4]

Trái lại, phái Đạo gia do Lão Tử

sáng lập, Trang Tử phát triển lên lại chủ trương xa lánh cuộc đời trần, coi cuộc sống vô vi, nhàn hạ hợp với tự nhiên là hạnh phúc Người hạnh phúc là biết sống

thanh nhã, biết đủ, biết dừng đúng lúc,

không tranh đấu

Có thể thấy, hai quan niệm trên, về cơ bản là đối lập nhau trong con đường mưu cầu hạnh phúc, song nếu xem xét kĩ lưỡng vẫn có những điểm giống nhau: coi thường

và phản đối lối sống chạy theo lợi ích vật chất ích kỷ cá nhân, gắn hạnh phúc với đạo đức thanh cao, phản đối việc đạt đến hạnh phúc bằng con đường bất chính

2.2 Quan niệm hạnh phúc trong triết học Ấn Độ

Tại xứ sở của các tôn giáo này, nói chung họ quan niệm hạnh phúc là không tồn tại nơi trần thế mà may ra chỉ có ở thế giới mai sau Chính vì thế, hầu hết các tôn giáo đều kêu gọi con người sống khổ hạnh trên đời tạm, nhẫn nhục chịu đựng, rèn luyện đày ải thân xác để được hưởng sung sướng ở cõi cực lại bên kia hay kiếp sau

Đa số các tôn giáo Ấn Độ đều coi trọng việc tu ép xác, kiêng cữ tối đa các nhu cầu vật chất để tâm hồn được hoàn thiện hơn

Vì thế cũng không có gì lạ khi chúng ta nghe thấy lý luận của phái Jaina: sự hoàn thiện của tâm hồn- tinh thần con người tỷ lệ nghịch với thân xác của họ Nên người nào

Trang 3

càng to béo thì càng ít đạo dức Để có nhiều

đạo đức và qua đó hoàn thiện tinh thần, họ

chủ trương tu khổ hạnh, tu ép xác để cơ thể

càng gầy thì càng nhiều đạo đức? Hầu hết

các tôn giáo Ấn Độ đều lên án các nhu cầu

vật chất và đề cao tinh thần Do đó, không

ngạc nhiên khi phái Lokayata - phái duy vật

vô thần triệt để nhất trong các trường phái

triết học cổ Ấn Độ bị coi là phái tầm

thường, ham ăn uống hay thậm chí bị miệt

thị là phái con chó (Charvaka) Hơn thế

kinh Veda coi mọi bất hạnh của con người

đều từ dục vọng cá nhân mà ra, dục vọng

trấn giữ linh hồn cá nhân gắn với xác phàm

trong vòng luân hồi bất tận, là cái nghiệp để

gây ra đau khổ ở các kiếp sau

Từ quan niệm đó, các tôn giáo đều lên

án các nhu cầu thân thể, vật chất từ ăn

uống và cả tính dục đều bị coi là dơ bẩn,

không trong sạch Tất cả đều với mục đích

tìm hạnh phúc vĩnh viễn cho linh hồn cá

nhân tu hành ở thế giới bên kia Xét kỹ hơn

ta thấy, mục đích đó là ảo vọng, mang tính

chủ quan và ít có cơ hội để kiểm chứng

Tuy vậy, quan niệm hạnh phúc của các tôn

giáo Ấn Độ, trong đó có Phật giáo vẫn có

những yếu tố đáng ghi nhận Đó là việc coi

khinh các ham muốn vật chất, đề cao các

giá trị nhân bản, chống lại các qun niệm

thô thiển về hạnh phúc, coi hạnh phúc ứng

với việc thỏa mãn tính dục, dạ dày, chạy

theo lối sống đồi trụy, hưởng lạc gấp hết

sức thô lậu Tính nhân đạo trong cứu nhân

độ thế của nhân loại có tác dụng trong việc

phê phán lối sống cá nhân, ích kỷ; Một

điểm lóe sáng khác biệt trong số các trường

phái trên là sự đối lập chủ nghĩa khổ hạnh

của Phái Lokayata Trường phái này đại

diện cho tiếng nói của người dân lao động

Ấn Độ, kịch liệt phản đối lối sống khổ

hạnh, ép xác, thẳng thừng bác bỏ hạnh

phúc ở các kiếp mai sau bằng lý luận khá

chặt chẽ Con người hãy sống hạnh phúc với các nhu cầu ngay trên trần thế, không

có gì phải kiêng cữ Về có bản quan niệm này là đúng nhưng còn thô sơ nên bị các phái khác liệt vào chủ nghĩa khoái lạc

2.3 Quan niệm về hạnh phúc trong triết học phương Tây

Tại xứ sở Tây phương này, cũng giống như Đông phương vẫn có sự đối lập giữa

hai trường phái khổ hạnh và khoái lạc

Phái khổ hạnh Hy Lạp, tuy không có hơi hướng tôn giáo song lại gắn với triết lý phủ nhận mọi giá trị văn hóa, văn minh, coi đó là nguồn gốc của bất hạnh và kêu gọi mọi người quay về với đời sống nguyên thủy hoang sơ Đó là cách sống của phái Xinich do Antixten (khoảng

445-365 TCN), một môn đồ của Xocrat tập ra

và được Điôgien ở Xinop (khoảng 404-323TCN) phát triển Trường phái này chủ trương từ bỏ và coi khinh các thành tựu của văn minh, văn hóa quay lại lối sống lang thang, rách rưới, bẩn thỉu như súc vật Vì: “họ tin rằng, văn minh trong chính bản chất của nó là đồi bại, các phong tục chỉ là đạo đức giả, sự giàu có vật chất làm con người ta suy yếu và văn minh đã làm cho

cá nhân bị hư hỏng” [2, tr.125] Đây là quan niệm hết sức cực đoan, phủ nhận tất

cả những thảnh quả cao đẹp mà con ngườiđạt được Quan niệm này về sau được chủ nghĩa hiện sinh hồi phục sau chiến tranh thế giới thứ hai

Một cải biên khác của trường phái này

là chủ nghĩa khắc kỷ do Denon ở Xiti (khoảng 334-262 TCN) sáng lập và được Epictetu (khoảng 55-135 TCN) phát triển

Họ cho rằng, vũ trụ được điều khiển bằng

lý trí (logos), nên người có lý trí cần hành động theo quy luật tự nhiên Để có hạnh phúc, phái này coi sống có đạo đức, có lý trí và cần coi khinh tất cả các nhu cầu vật

Trang 4

chất Để có hạnh phúc chỉ cần chế ngự

được các ham muốn và cảm xúc từ bên

ngoài sẽ đạt đến sự an bình trong tâm hồn

Các triết gia Hy Lạp thấy được mối liên hệ

giữa đạo đức và hạnh phúc, còn “với phái

Khắc kỷ, mối liên hệ đó có tính tất yếu:

con người đức hạnh là con người hạnh

phúc”[2, tr.199].

Hạn chế của phái Khắc kỷ là còn tin

vào may rủi của số phận, dẫn đến thủ tiêu

sự phấn đấu Điểm hợp lý của họ là khuyến

khích cuộc sống đạm bạc để tìm thấy hạnh

phúc

Quan niệm của chủ nghĩa khoái lạc về

hạnh phúc:

Phái Xiranait, còn gọi là phái khoái lạc

vị kỉ, do một đồ đệ khác của Xocrat là

Arixtippot (khoảng 430-350TCN) sáng lập,

chủ trương một sự thỏa mãn dục vọng trực

tiếpcho cá nhân mà không cần quan tâm

đến người khác Đặc biệt họ đề cao khoái

cảm của xác thịt hơn những niềm vui trí tuệ

hư ảo Arixtippot coi “khoái lạc là động lực

cơ bản của cuộc sống và khoái lạc luôn là

tốt dù xuất phát từ nguồn gốc nào” và

“khoái lạc vật chất cao hơn tất cả các loại

khoái lạc khác Chỉ có khoái lạc vật chất

mới làm cho cuộc sống hứng thú, năng

động, đáng sống” [2, tr.130] Phái này thừa

nhận vai trò của khoái cảm trong hạnh phúc

song lại tuyệt đối hóa khoái cảm vật chất,

phủ nhận vai trò của khoái cảm tinh thần

Ngược lại với phái khoái lạc vị kỉ, chủ

nghĩa khoái lạc Epiquya (341-271 TCN) lại

thiên về khoái lạc lý tính Khoái lạc lớn

nhất theo họ là cuộc sống bình dị, điều độ

và tiêu dao với bè bạn và cùng đàm đạo

triết học với nhau Epiquya viết: “Khi

chúng tôi nói khoái lạc là cứu cánh và mục

đích, chúng tôi không muốn nói đến khoái

lạc của kẻ trác tráng hay nhục dục mà

chúng tôi muốn nói đến khoái lạc không có

đau đớn về thể xác và phiền muộn trong tâm hồn Đó không phải là những chầu nhậu nhẹt và những cuộc chè chén say sưa liên tục, không phải là sự thỏa mãn dâm dục, sự hưởng thụ món cá và các món cao lương mỹ vị trên bàn tiệc sang trọng mà

nó là lý trí tỉnh táo tìm kiếm cơ sở cho mỗi

sự lựa chọn và sự lẩn tránh” [2, tr.208] Có thể thấy, chủ nghĩa khoái lạc Epiquya là thứ khoái lạc tinh tế khắc phục được sự thô thiển của phái khoái lạc vị kỉ, kể trên Xocrat (469-399TCN), người thầy của Platon cũng là người quan tâm nhiều đến đức hạnh Ông đồng nhất cái thiện với tri thức khi cho rằng: cái thiện duy nhất là tri thức Cái ác duy nhất là sự dốt nát Hơn thế ông còn cho rằng: “đức hạnh không do tiền bạc mang lại, nhưng nhờ có đức hạnh mà người ta làm ra tiền bạc và mọi điều tôt đẹp khác của con người” [2, tr.97]

Platon - Triết gia duy tâm khách quan (427-347TCN) nổi danh thời cổ đại cũng bàn nhiều đến hạnh phúc Theo ông người hạnh phúc nhất là người đứng đắn, không

có một điều tiếng xấu xa nào trong tâm hồn Mục đích của nhà nước lý tưởng không chỉ đem lại hạnh phúc cho một giai cấp mà cho mọi công dân trong thành bang Nên: một quân vương triết học công bằng chính trực sẽ có hạnh phúc gấp 729 lần một bạo chúa [7, tr.647]

Không dừng ở đó, Platon coi hạnh phúc dưới hình thức thuần khiết và lý tưởng là trạng thái bình yên, vui vẻ, mãn nguyện nhờ có một linh hồn cân đối, hài hòa… hơn thế, ông còn coi đạo đức là nguyên nhân tất yếu của hạnh phúc Người hạnh phúc là người đứng đắn, đúng mực Ông không chỉ gắn hạnh phúc với đạo đức

mà hơn thế, còn gắn hạnh phúc với tri thức như người thầy của mình Ông nói: “trong các loại vui sướng, vui sướng thú vị nhất là

Trang 5

vui sướn thuộc về bên trong tâm trí, phần

đem lại cho ngô bối (ngô bối dịch là tôi -

tác giả: THL) hiểu biết, khi phần đó kiểm

soát, thúc đẩy, đời con người trở nên vui

sướng gấp bội” [8, tr.633-634] Platon so

sánh ba hạng người: yêu hiểu biết, yêu tiền

bạc và yêu thắng lợi và kết luận rằng chỉ có

yêu hiểu biết là người hạnh phúc nhất, hơn

thế là hạnh phúc lâu dài và thực sự, Vì:

“Người yêu hiểu biết tất nhiên cần nếm

mùi và từng trải cả hai loại vui sướng ngay

từ thiếu thời Vậy người yêu hiểu biết có

lợi điểm hơn người yêu tiền của về kinh

nghiệm cả hai thứ vui sướng trong ba

người, người yêu hiểu biết ở vị thế tốt đẹp

hơn hết để nhận định” [7, tr.632-633]

Thế kỷ XVII_XIX các triết gia Anh

như Gierơmi Bentham (1748-1832) và

Giôn Xtuat Minlơ (1806-1873) đã đưa ra

chủ nghĩa khoái lạc phổ quát - (hay chủ

nghĩa công lợi), trong đó nguyên lý được

biết đến là “hạnh phúc lớn nhất cho số

đông người nhất” hay nguyên lý hạnh phúc

tối đa Sau đó Giôn Xtuat Minlơ đã có sự

phân biệt sự khác nhau về chất giữa các

loại khoái cảm Ông cũng coi khoái cảm

tinh thần và đạo đức cao hơn khoái cảm vật

chất Và hơn thế, ở ông còn có sự khác

nhau giữa hạnh phúc và sự mãn nguyện

Theo J.S.Mill: “Thà làm một Xocrat không

thoả mãn tốt hơn là trở thành kẻ ngu dốt

thỏa mãn” [3, tr.849]

J.S.Mill còn phân biệt các trình độ cao

thấp của hạnh phúc, theo đó người ít học

hay chạy theo các khoái cảm tầm thường,

chỉ có trí thức mới biết được giá trị khoái

cảm tinh thần ở trình độ cao Có thể nói

chủ nghĩa khoái lạc và thuyết công lợi của

J.S.Mill được nhiều triết gia sau này tán

dương, vì nó đã nâng chủ nghĩa khoái lạc

lên trình độ cao trong việc đề cao giá trị

tinh thần, sự vị tha, khắc phục được chủ

nghĩa khoái lạc tầm thường, vị kỷ, gắn khoái cảm cá nhân với việc đem lại hạnh phúc cho xã hội

2.4 Quan niệm của triết học Mác về hạnh phúc

Trước hết, triết học Mác phê phán các quan niệm hạnh phúc mang tính ảo tưởng, cực đoan C Mác coi, mục đích của sự phê

phán tôn giáo là: “xóa bỏ hạnh phúc ảo tưởng của nhân dân, là yêu cầu thực hiện hạnh phúc thực sự của nhân dân”; là “vứt

bỏ khỏi những xiềng xích các bông hoa giả và giơ tay hái lấy những bông hoa thật” [5, tr.570]

Triết học Mac chủ trương xây dựng hạnh phúc ngay trên trần gian này mà không phải chờ đợi ở ở kiếp sau nào khác

Đó là tính thiết thực và triệt để của nó Điều này được khẳng định một cách đanh thép không chỉ một lần trong trước tác của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác

Thứ hai, triết học Mác-Lênin khẳng định, nguồn gốc của hạnh phúc là do chính hoạt động thực tiễn của con người tạo ra chứ không phải viện cầu dựa dẫm vào một đấng sáng thế hay thần linh bí ẩn nào khác Hạnh phúc hay bất hạnh là do chính

con người tạo nghiệp, phấn đấu ngay trên mặt đất này, cuộc sống thực này Thành quả hay hậu quả của con người là do chính con người phấn đấu, học hỏi và thực hành, đừng trông chờ vào may rủi, số phận

Thứ ba, triết học Mác- Lênin chỉ rõ, hạnh phúc nằm trong mối quan hệ cá nhân với xã hội Theo Mác và Ăngghen: “Chỉ có

trong cộng đồng cá nhân mới có được những phương tiện để có thể phát triển toàn diện những năng khiếu của mình và

do đó, chỉ có trong cộng đồng mới có thể

có tự do cá nhân” [5, tr.108]

Điều này được hiểu là, hạnh phúc đó

sẽ đến với tất cả mọi cá nhân trong cộng

Trang 6

đồng chứ không phải cho thiểu số cá nhân

giàu có, siêu việt nào đó Trong quan hệ

này lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội cần

phải được chú ý phát triển một cách hài

hòa, chứ không được nhấn mạnh một lợi

ích nào sẽ dẫn đến sai lầm như đã từng xảy

ra trong lịch sử Tự do cá nhân phải không

được xâm phạm lợi ích của xã hội Ngược

lại lợi ích xã hội không được bóp ngẹt lợi

ích cá nhân Niềm vui, sự sung mãn hạnh

phúc của cá nhân phải được người khác

công nhận và sẻ chia Quan điểm này được

nhiều nhà khoa học công nhận A Anxtanh

coi mục tiêu cuộc sống của mỗi chúng ta là

vì người khác: “trước hết vì những người

mà hạnh phúc của riêng ta phụ thuộc hoàn

toàn vào nụ cười và sự âu yên ấm của họ,

kế đến là vì bao nhiêu người không quen

mà số phận của họ nới với ta bằng sợi dây

của lòng cảm thông” [1, tr.15]

Thứ tư, hạnh phúc phải đặt trong mối

quan hệ toàn diện và trong bối cảnh lịch sử

cụ thể Xem xét hạnh phúc phải đặt trong

tầm nhìn toàn diện Đã có nhiều phán xét

và bình phẩm về vấn đề này Song tỉnh táo

và thông tuệ hơn, có thể thấy các nhu cầu

vật chất nếu thỏa mãn không điều độ có thể

gây ra bất hạnh sau khi no nê, thừa thãi

Trong khi nhu cầu về tinh thần có thể coi

như nguồn cảm hứng vô tận và có thể

khám phá mãi mà không rơi vào trạng thái

quá đà Nó được coi như động lực để con

người có thể tiếp tục khám phá, thưỡng

lãm và được mọi người trầm trồ, thán phục

Điều này có thể thấy trong đời thực, người

ta có thể ngưỡng mộ và pha lẫn sự kính nể

trước thành quả vĩ đại của một con người

có trí tuệ hơn là sự hoảng sợ, rùng rợn

trước sức mạnh tiền bạc của những tên

trọc phú

Trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể,

Hạnh phúc chính là đấu tranh Trước họa

xâm lăng, bóc lột của các thế lực phi nghĩa, tất yếu phải đấu tranh để chống cái ác, cái xấu ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng Không được bịt tai, che mắt trước cái

ác, cái xấu, cái phi nhân tính Đương nhiên không được tuyệt đối hóa đấu tranh trong bất cứ hoàn cảnh nào và cũng không được

bó hẹp trong đấu tranh bạo lực mà có thể bằng các hình thức mềm dẻo khác Hạnh phúc là đấu tranh như cách nói của Mác phải được hiểu như thế Và điều đó đã được Hồ Chí Minh ứng xử linh hoạt ngay

cả với kẻ thù xâm lược đất nước, khiến cho chúng không những kính phục mà còn kính

nể Người Hồ Chí Minh luôn coi việc đấu

tranh với cái ác, cái xấu, cái cũ kỹ hư hỏng

bất nhân nhằm mang lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân là mục đích duy

nhất, là ham muốn tột bậc của cả đời mình

[6, tr.161, 240]

Thứ năm, hạnh phúc tiến triển trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập không ngừng xảy ra Do sự vật trên thế

giới luôn chứa đựng các mặt đối lậ và mâu thuẫn là động lực của sự phát triển như quan điểm macxit từng nêu, vì thể bất hạnh luôn là mặt đối lập của hạnh phúc Và trong sự tiến triển của sự vật phải luôn chú

ý đến mâu thuẫn thường xuyên này để giải quyết kịp thời đúng lúc, đúng chỗ để mở đường cho hạnh phúc Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà một thi sỹ nổi tiếng của thế

giới là Hai nơ đã phải thốt lên:

“Hạnh phúc, khổ đau như đôi đũa lệch Thiếu một chiếc tay người không gắp được Nên suốt đời so đũa trước mâm cơm”

Khổ đau và hạnh phúc là hai mặt của một thực tại sống Phải nếm trải khổ đau mới thấm nhuần hạnh phúc Một con người không trải qua khó nhọc thì làm sao thấy được giá trị của no ấm Một kẻ không lao động lớn lên được kế thừa một tài sản kếch

Trang 7

xù liệu làm sao có thể cảm nhận được hạnh

phúc từ việc chắt chiu từng đồng tiền, bát

gạo làm viên gạch nền tạo ra sự nguy nga

đó Do vậy, không lạ gì cảnh các cô chiêu,

cậu ấm lớn lên, không chịu học tập, lao

động, phấn đấu, nếm trải qua đắng cay,

bỗng dưng được thừa kế một tài sản sáng

lòa sẽ không tiếc sức phá nát tài sản đó một

cách không thương tiếc Đức Phật thật chí

lý khi tuyên bố: Chỉ có thể nhận diện khổ

đau, mỉm cười với nó ngay đó ta có an vui

hạnh phúc Đau khổ chính là mặt đối sánh

để con người nhìn nhận để vượt qua, chứ

không phải là né tránh, quay mặt với nó

Chỉ có thể nếm trải hạnh phúc thông qua

vô vàn đấu tránh với cái khổ, cái ác, cái bất

hạnh Chỉ khi thấm nhuần được như thế thì

cuộc đời sẽ không phải là kiếp nạn nữa mà,

cuộc đời sẽ mỉm cười với họ

Thứ sáu, hạnh phúc là quá trình trăn

trở tìm kiếm trong một quá trình không

phải một lúc có thể tìm ra Sự vật của thế

giới luôn trong quá trình vận động, phát

triển Do vậy, hạnh phúc cũng trong tiến

trình đó, không phải định hình một lần,

một lúc là xong xuôi mà nó luôn là vấn đề

mới mẻ tùy thuộcvào ttinh hình cụ thể, bối

cảnh lịch sử khi xem xét Vấn đề hạnh

phúc luôn phụ thuộc vào trình độ phát triển

của lực lượng sản xuất và trình độ nhận

thức quản lý xã hội

Nếu trước đây hạnh phúc chỉ được

hiểu một cách sơ lược, đơn giản thì ngày

nay, nội hàm của nó phải được hiểu ở mức

độ sâu sắc đa dạng hơn Chỉ khi thấu hiểu

được quá trình con người đặt ra mục đích,

vạch ra phương hướng, tìm ra phương tiện

phấn đấu để đạt mục đích đó, chúng ta mới

thấy được, đường đến với hạnh phúc không

đơn giản, bằng phẳng mà là một quá trình

đòi hỏi sự kiên định, bền bỉ, khổ công, kiên

trì với nghị lực sống cao mới có thể đạt

được Hơn thế, khi thấm nhuần được con đường đó thì chúng ta mới cảm nhận được hạnh phúc có thể đạt được ngay trong quá trình thực hiện từng phần mục tiêu chứ không phải đợi đến khi mục tiêu đã đạt được hoàn hảo Mỗi người có thể đạt đến hạnh phúc ngay trong lĩnh vực mình hứng thú, say mê, không nên cầu toàn Không có

gì lạ khi Anxtanh đã tìm thấy thiên đường hạnh phúc của mình trong khoa học Ông nói: “Tôi không bao giờ tìm kiếm sự nhàn

hạ và sự sung sướng như là mục đích tự thân – tôi coi cơ sở đáng phê phán của nó

là lý tưởng của một đàn lợn” Và hơn thế, theo ông: “Không có tình cảm đồng loại, không có công việc bận rộn với thế giới khách quan với những nỗ lực không bao giờ đạt được hoàn toàn trong lĩnh vực nghệ thuật và khoa học thì cuộc sống đối với tôi

sẽ hình như vô nghĩa”[1, tr.17]

Ngoài ra để hiểu biết sâu hơn quan niệm hạnh phúc macxit cần phải hiểu sâu thêm ở nhiều khía cạnh cụ thể và toàn diện như là: Hạnh phúc trong đấu tranh, trong tình yêu, trong tình bạn, trong nghề nghiệp

Có như vậy chúng ta mới có thể có một cái nhìn chỉnh thể về quan niệm hạnh phúc mà triết học Mác-Lênin nêu ra có sức cuốn hút thế nào, khi quan niệm đó có sự thâu thái, tổng hợp chọn lọc tinh hoa loài người về một trong những khía cạnh đạo đức nhân văn nhân loại- khía cạnh hạnh phúc

3 Kết luận

Có thể nói, hạnh phúc là phạm trù đạo đức học đã được bàn luận đến từ khi con người có lịch sử thành văn- tức khi con người đã có sự phân biệt mình với con vật vấn đề đã được bàn luận từ lâu song dường như vẫn chưa có hồi kết Thế giới vật chất đang không ngừng vận động phát triển vì thế một quan niệm hạnh phúc về thế giới con người cũng không cố định, đứng yên

Trang 8

Cần phải nhìn nhận hạnh phúc trong tầm

nhìn toàn diện và lịch sử cụ thể, không

được đề cao, tuyệt đối hóa làm nghèo nàn

vấn đề đó mà phải thấy nó trong dòng chảy

của sự phát triển Quan niệm hạnh phúc

trước đây đơn giản, sơ lược chỉ coi trọng

nhu cầu vật chất thì đến nay phải để tâm

đến cả nhu cầu tinh thần vì đây là điểm

nhấn phân biệt tính tự nhiên và tính xã hôi,

tính người và tính động vật Nhấn mạnh

một yếu tố sẽ sa vào siêu hình trong cách

nhìn nhận Quan điểm macxit về hạnh

phúc chính là sự thâu thái, tổng hợp chọn

lọc các tinh hoa của nhân loại đã có trong

lịch sử Trong quan niệm đó, đời sống vật

chất chính là cơ sở cho đời sống tinh thần

nảy nở, song khi con người đã có đủ nhu

cầu về vật chất thì cần phải có sự anh minh

để nhận ra rằng, sự thỏa mãn về nhu cầu

tinh thần là cao hơn nhiều so với nhu cầu

vật chất

Nhu cầu vật chất khi thiếu hiểu biết để

điều tiết nó trong giới hạn ĐỘ của nó sẽ

dẫn đến thứ chủ nghĩa khoái lạc vị kỷ tầm

thường, dẫn đến no nê, chán chường thô

tục của con vật hay của các gã trọc phú mà

ít văn hóa Trong khi khoái lạc, hạnh phúc

về tinh thần là nhu cầu ở trình độ cao mà

chỉ người có học vấn, văn hóa cao mới có

thể lĩnh hội đầy đủ, thấu đáo Trong tương lai, đời sống vật chất của nhân loại ngày càng tiến triển, một tầm nhìn nhân bản hơn

là đề cao khoái lạc về tinh thần như là động lực kích hoạt cho hạnh phúc nhân loại tiếp tục phát triến, có lẽ là xu thế mà nhân loại đang hướng tới đón nhận Sau những no đủ

về vật chất, con người sẽ tiến tới một tinh thần sảng khoái trên cơ sở hiểu biết để thưởng lãm vẻ đẹp của tinh thần

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Anbe Anxtanh, Đinh Bá Anh, Nguyễn Vũ

Hảo (dịch 2007), Thế giới như tôi thấy, Nxb

Tri thức, Hà Nội

2 Nguyễn Tấn Hùng (2012), Lịch sử triêt học phương Tây từ triết học cổ đại Hy Lạp đến triết học cổ điển Đức, Nxb Chinh trị quốc gia,

Hà Nội

3 Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh (2013), Triết học đại cương, Nxb Thời đại, Hà Nội

4 Nguyễn Hiến Lê chú dịch và giới thiệu

(1995), Luận ngữ, Nxb Văn học Hà Nội

5 C Mac – Ph Angghen (2004), Toàn tập, tập

1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

6 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 4, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội

7 Platon (Đỗ Khánh Hoan dịch, 2013), Cộng hòa, Nxb Thế giới, Hà Nội

Ngày nhận bài: 22/02/2016 Biên tập xong: 15/8/2017 Duyệt đăng: 20/8/2017

Từ khóa » Bài Tiểu Luận Về Hạnh Phúc