Luận Thuyết Khinh Trọng – Phần IX – CSCI INDOCHINA - Caphesach

Siêu lý thuyết

Khái niệm siêu lý thuyết

Quan hệ giữa lý thuyết (theory) và siêu lý thuyết (metatheory) có hai ý nghĩa. Siêu lý thuyết là lý thuyết chung, trừu tượng; còn lý thuyết là lý thuyết riêng, cụ thể về cùng một đối tượng. Chẳng hạn như trong chủ thuyết marxist thì chủ thuyết duy vật biện chứng là siêu lý thuyết của chủ thuyết duy vật lịch sử; đến lượt nó, chủ thuyết duy vật lịch sử đóng vai trò siêu lý thuyết đối với lý thuyết hình thái kinh tế – xã hội và lý thuyết hình thái kinh tế – xã hội tổng quát là siêu lý thuyết đối với lý thuyết hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa,… Bên cạnh đó, siêu lý thuyết là nghiên cứu đặt cơ sở lý thuyết; chẳng hạn như đặt cơ sở lý thuyết triết học cho các lý thuyết khoa học xã hội hay đặt cơ sở lý thuyết toán học cho các lý thuyết khoa học tự nhiên; ngoài ra, còn là nghiên cứu đánh giá lý thuyết theo các tiêu chuẩn như chân thực/giả tạo, đúng đắn/sai lầm, phù hợp/ không phù hợp, khả dụng/không khả dụng…

Theo ý nghĩa này, mọi nghiên cứu về lý thuyết đều là nghiên cứu siêu lý thuyết (metatheoretical studies). Siêu lý thuyết (metatheory) là một loại lý thuyết đặc biệt, nó thuộc phạm vi nhận thức luận, phương pháp luận và giá trị luận (triết học).

Các loại hình nghiên cứu siêu lý thuyết

George Ritzer (1992) cho rằng có 3 phương thức nghiên cứu siêu lý thuyết, bao gồm:

+ Nghiên cứu nhằm thấu hiểu một lý thuyết đã có sẵn, ký hiệu là Mu (M là ký hiệu của chữ metatheory = Siêu lý thuyết, còn u là ký hiệu của chữ understanding = hiểu biết, thấu hiểu);

+ Nghiên cứu phê phán hạn chế hoặc sai lầm của một lý thuyết đã có để nhằm xây dựng một lý thuyết mới thay thế lý thuyết cũ đã cho, ký hiệu là Mp (với p là ký hiệu của chữ prelud trong prelud to theory development);

+ Nghiên cứu tổng – tích hợp hạt nhân hợp lý của các lý thuyết đã có để nhằm xây dựng quan điểm lý thuyết bao quát phạm vi rộng lớn hơn các lý thuyết đã cho, ký hiệu là Mo (với o là ký hiệu của chữ overarch trong overarch theory).

Như vậy, nghiên cứu siêu lý thuyết có 3 loại mục tiêu rõ rệt: (1) – hoặc là để thấu hiểu một lý thuyết đã có sẵn, (2) – hoặc là nhằm đặt cơ sở lý thuyết cho một lý thuyết cho một lý thuyết đã có sẵn, (3) – hoặc là để xây dựng một lý thuyết mới vượt qua lý thuyết đã cho. Có thể kết hợp các mục tiêu nêu trên, vì chúng không loại trừ nhau hoàn toàn. Dù là mục tiêu nào đi nữa thì các nghiên cứu siêu lý thuyết đều phải quan tâm đến các chủ đề/vấn đề sâu đây:

Các chủ đề/vấn đề về lý thuyết trong nghiên cứu siêu lý thuyết

1/ Nội dung của lý thuyết

2/ Cấu trúc của lý thuyết

3/ Chức năng của lý thuyết

4/ Cơ sở thực nghiệm/thực tiễn của lý thuyết

5/ Cơ sở lý thuyết của lý thuyết

6/ Đánh giá lý thuyết

7/ Vận dụng lý thuyết

8/ Lịch sử lý thuyết

9/ Kiến tạo lý thuyết

10/ Phát triển lý thuyết

11/ Quan hệ lý thuyết – phương pháp, lý thuyết – kinh nghiệm, lý thuyết – thực tiễn, lý thuyết – thực tại

12/ Quan hệ giữa các lý thuyết

Các tiêu chuẩn đánh giá một lý thuyết

1/ Tính khái quát

2/ Quy mô

3/ Đánh giá giả thuyết

4/ Hình thức hóa

5/ Tiên đề hóa

6/ Quan hệ với các lý thuyết khác

7/ Khả năng dự báo

8/ Khả năng thông báo

9/ Khả năng tái hiện

10/ Khả năng thành công

(Gunter Endruweit, 1999: 27)

Con đường đi đến lý thuyết khinh – trọng

Các phương thức xây dựng lý thuyết

Một lý thuyết có thể được xây dựng bằng nhiều cách thức khác nhau; chung quy lại có 2 cách cơ bản:

1/ Phương thức khái quát hóa kinh nghiệm (dân gian hay thông thường) hoặc khái quát hóa các dữ liệu thực nghiệm khoa học chủ yếu bằng con đường quy nạp (ngoại suy) hoặc/và loại tỷ (loại suy) để có lý thuyết. Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm về lý luận như sau: Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử (Hồ Chí Minh, 1996: 497). Các nhà khoa học cũng có quan điểm tương tự: Lý thuyết khoa học là kết quả tổng hợp cảu việc sàng lọc dữ kiện, kiểm chứng giả thuyết, và việc cố gắng nghĩ ra cách kết hợp tất cả những thông tin lại với nhau như thế nào để sáng tỏ được vấn đề (E.A. Schultz & R.H. Lavenda, 2000: 29).

Ta có các thí dụ điển hình như: Thuyết địa tâm của Ptolemaios, thuyết âm dương của Lão Tử, bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học của Mendeleev, lý thuyết tiến hóa sinh vật của Darwin, lý luận về hợp tác xã xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh…

2/ Phương thức xây dựng lý thuyết mới từ lý thuyết cũ: Xây dựng lý thuyết chuyên biệt, cụ thể bằng con đường logic suy diễn (nội suy) từ một lý thuyết tổng quát, trừu tượng hơn. Chẳng hạn như từ lý thuyết hình thái kinh tế – xã hội (lý thuyết xã hội tổng quát, trừu tượng) của K. Marx người ta đã xây dựng lý thuyết hình thái kinh tế – xã hội xã hội chủ nghĩa vượt qua lý thuyết hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa (với tư cách là các lý thuyết xã hội chuyên biệt, cụ thể).

Xây dựng lý thuyết chuyên biệt, cụ thể bằng con đường logic loại suy hay loại tỷ (tương tự, đồng dạng, đồng cấu) từ một lý thuyết của một lĩnh vực khác. Các thí dụ điển hình như: lý thuyết hành tinh nguyên tử của N. Bohr, dựa trên phép loại suy từ mô hình thái dương hệ (bao gồm mặt trời và các hành tinh quay xung quanh mặt trời), lý thuyết chức năng xã hội của E. Durkheim, dựa trên phép loại suy từ mô hình cơ thể người (một hệ thống hữu cơ, hữu sinh đa cấu trúc, đa chức năng và đa quá trình),…

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Tô Duy Hợp – Khinh Trọng, Tập 1 – NXBTG 2007, Tập 2 – NXB TG 2012, Tập 3 – NXB KHXH 2019.

Chia sẻ:

  • X
  • Facebook
Thích Đang tải...

Có liên quan

Từ khóa » Siêu Lý Thuyết Là Gì