Tên người này tuân theo phong tục tên gọi Tây Ban Nha; họ thứ nhất hay họ cha là Martínez và họ thứ hai hay họ mẹ là García.
Luis Enrique
Luis Enrique trên cương vị huấn luyện viên trưởng Barcelona năm 2014
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ
Luis Enrique Martínez García
Ngày sinh
8 tháng 5, 1970 (55 tuổi)
Nơi sinh
Gijón, Tây Ban Nha
Chiều cao
1,80 m (5 ft 11 in)
Vị trí
Tiền vệ
Thông tin đội
Đội hiện nay
Paris Saint-Germain(huấn luyện viên)
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm
Đội
1981–1988
Sporting Gijón
1984–1988
→ La Braña (mượn)
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm
Đội
ST
(BT)
1988–1990
Sporting B
27
(5)
1989–1991
Sporting Gijón
36
(14)
1991–1996
Real Madrid
157
(15)
1996–2004
Barcelona
207
(73)
Tổng cộng
427
(107)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm
Đội
ST
(BT)
1990–1991
U-21 Tây Ban Nha
5
(0)
1991–1992
U-23 Tây Ban Nha
14
(3)
1991–2002
Tây Ban Nha
62
(12)
Sự nghiệp huấn luyện
Năm
Đội
2008–2011
Barcelona B
2011–2012
A.S. Roma
2013–2014
Celta
2014–2017
Barcelona
2018–2019
Tây Ban Nha
2019–2022
Tây Ban Nha
2023–
Paris Saint-Germain
Thành tích huy chương
Bóng đá nam
Đại diện cho Tây Ban Nha
Bóng đá tại Thế vận hội mùa hè
Barcelona 1992
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia
Luis Enrique Martínez García (sinh ngày 8 tháng 5 năm 1970) là một cựu cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha và hiện là huấn luyện viên của câu lạc bộ Paris Saint-Germain.[1]
Khi còn chơi bóng, ông nổi tiếng với sự nhanh nhẹn và có thể chơi được một vài vị trí khác nhau trong sự nghiệp bóng đá của mình, nhưng thường là với vai trò là tiền về trung tâm, và đã ghi được nhiều bàn thắng trong sự nghiệp thi đấu của mình. Sau khi khởi đầu sự nghiệp của mình tại Sporting de Gijón năm 1989, ông gắn bó với cả hai câu lạc bộ lớn của Tây Ban Nha, đầu tiên là Real Madrid từ năm 1991-96 và rồi chuyển sang FC Barcelona theo dạng chuyển nhượng tự do. Câu lạc bộ này không mấy tin tưởng vào người mới của mình tuy nhiên ông đã nhanh chóng lấy được niềm tin của họ và chẳng bao lâu sau ông trở thành đội trưởng của Barcelona. Anh thi đấu cho Barca trong 8 năm (1996-2004). Ông chơi cho đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha ở 3 kỳ World Cup: 1994, 1998, 2002 và kỳ Euro 1996. Ông khoác áo đội tuyển những chú bò tót này 62 lần và ghi được 12 bàn thắng. Ông cũng là thành viên đội tuyển Tây Ban Nha giành huy chương vàng Olympic mùa hè 1992 ở Barcelona. Ngày 10 tháng 8 năm 2004, ông giải nghệ ở tuổi 34.[2] Vào tháng 3 năm 2004, anh được bầu vào danh sách FIFA 100.[3]
Năm 2008, Enrique là huấn luyện viên đội Barca B và giúp đội bóng này giành 2 Secunda Liga liên tiếp 2009-2010 và 2010-2011. Mối quan hệ thân thiết của ông với người đồng đội cũ, Pep Guardiola - người cũng được bổ nhiệm cùng lúc làm huấn luyện viên F.C. Barcelona vào năm 2008 và đưa đội bóng trở lại hình ảnh số một thế giới - giúp cho đội Barca B và lò đào tạo La Masia có được vô cùng nhiều danh tiếng trong việc đào tạo trẻ và đưa họ lên đội hình 1.
Năm 2011, quyết tâm đi tìm thử thách mới, Luis Enrique quyết định làm huấn luyện viên của A.S. Roma. Tháng 7 năm 2013, Enrique là huấn luyện viên của Celta Vigo. Tháng 6 năm 2014, Enrique trở thành huấn luyện viên của FC Barcelona.[4] Năm 2017, ông chia tay đội bóng sau khi vô địch cúp Nhà vua Tây Ban Nha 2017.[5]
Sự nghiệp cầu thủ
[sửa | sửa mã nguồn]
Câu lạc bộ
[sửa | sửa mã nguồn]
Luis Enrique sinh ra tại Gijón, Asturias, và bắt đầu chơi bóng cho câu lạc bộ địa phương Sporting de Gijón,[6] nơi anh gắn với biệt danh Lucho sau Luis Flores, một tiền đạo người Mexico trong đội.[7] Sau đó ông dành phần lớn thời gian chơi bóng cho hai đội bóng lớn nhất của Tây Ban Nha: đầu tiên là Real Madrid trong năm mùa[8] và năm 1996, sau khi kết thúc hợp đồng, ông chuyển sang đại kình địch FC Barcelona theo dạng chuyển nhượng tự do.[9] Cổ động viên xứ Catalan ban đầu còn do dự về vụ chuyển nhượng này, nhưng ông sớm giành được trái tim của họ và chơi bóng cho Barca tám năm, cuối cùng trở thành đội trưởng, và ghi một vài bàn thắng trong các trận El Clásico trước chính đội bóng cũ Real.[10] Khi còn khoác áo Real, ông từng gây dấu ấn khi ghi bàn trong trận thắng sân nhà 5-0 trước Barcelona, nhưng nói rằng sau đó ông "cảm thấy hiếm khi được các cổ động viên Real Madrid đánh giá và không có những kỉ niệm đẹp ở đó".[11]
Quốc tế
[sửa | sửa mã nguồn]
Luis Enrique chơi cho đội tuyển Tây Ban Nha trong ba kì World Cup: 1994, 1998 và 2002, cũng như Euro 1996) và ghi 12 bàn thắng sau 62 lần khoác áo. Ông cũng là thành viên trong đội hình giành huy chương vàng tại Thế vận hội Mùa hè 1992 ở Barcelona,[12] và có 13 lần ra sân trong đội hình chính vào ngày 17 tháng 4 năm 1991, trong đó có 22 phút trong trận giao hữu thua 0-2 trước România tại Cáceres.[13]
Tại World Cup 1994 tổ chức tại Mỹ, Luis Enrique ghi bàn thắng đầu tiên trong trận thắng 3-0 ở vòng 16 đội trước Thụy Sĩ ở Washington, D.C.[14] Trong thất bại 1-2 ở vòng tứ kết trước Ý tại sân vận động Foxboro, cùi trỏ của Mauro Tassotti đã đập vào mặt ông làm chảy máu,[15] tác động ấy đã khiến Luis bị mất gần một cân máu. Tuy nhiên hành vi đó không bị nhận hình phạt nào trong trận đấu, sau đó Tassotti đã bị cấm tám trận và không bao giờ thi đấu quốc tế nữa.[16]
Sự nghiệp huấn luyện
[sửa | sửa mã nguồn]
Barcelona B
[sửa | sửa mã nguồn]
Ngày 26 tháng 5 năm 2008, Luis Enrique trở lại Barcelona, tiếp quản vị trí huấn luyện của đội B vừa được đổi tên thành Barcelona Atlètic trong mùa giải đó.[17] Vào giữa tháng 3 năm 2011, Luis Enrique tuyên bố ông sẽ rời Barcelona B vào cuối mùa, mặc dù vẫn còn hai năm trong hợp đồng.[18] Ông đã đưa đội bóng đến trận playoff, nhưng không đủ điều kiện để thăng hạng.[19]
Roma
[sửa | sửa mã nguồn]
Ngày 8 tháng 6 năm 2011, Luis Enrique đạt một thỏa thuận với câu lạc bộ từ Serie A A.S. Roma để trở thành vị thuyền trưởng mới của Gialloross. Ông ký một hợp đồng hai năm kèm với đội ngũ huấn luyện gồm bốn người: trong đó có cộng tác viên kĩ thuật là Iván de la Peña, người từng chơi hai năm cho đội bóng kình địch cùng thành phố S.S. Lazio.[20]
Roma bị loại khỏi UEFA Europa League bởi ŠK Slovan Bratislava, giữa những tranh luận gay gắt về việc thay huyền thoại Francesco Totti bằng cầu thủ Stefano Okaka. Đội bóng thủ đô cũng nhận trận thua đầu tiên tại giải nội địa trước Cagliari Calcio, đánh dấu trận thua mở màn thứ ba của đội trong 18 năm.[21]
Barcelona
[sửa | sửa mã nguồn]Luis Enrique dẫn dắt Barcelona năm 2014
Ngày 19 tháng 5 năm 2014, có thông tin công bố Luis Enrique sẽ trở lại Barcelona để làm huấn luyện viên, sau khi đồng ý một bản hợp đồng ba năm. Ông được đề nghị hợp đồng bởi giám đốc thể thao Andoni Zubizarreta, cựu đồng đội ở tuyển quốc gia.[4] Trận đấu đầu tiên của ông là trận thắng 3-0 trên sân nhà trước Elche CF, nơi ông cho ra mắt những bản hợp đồng mới như Claudio Bravo, Jérémy Mathieu và Ivan Rakitić, và sản phẩm cây nhà lá vườn Munir El Haddadi, Rafinha và Sandro Ramírez, trong khi bom tấn mùa hè Luis Suárez vắng mặt do bị treo giò.[22]
Mặc dù để thua sân khách trước Real Sociedad, có một thay đổi đáng kể trong phong độ của Barcelona sau khi Enrique thay đổi đội hình. Ông cân bằng kỷ lục 11 chiến thắng liên tiếp của Pep Guardiola,[23] trong khi đội tiếp tục đánh bại Atlético Madrid và Villarreal CF một cách thuyết phục tại cúp Nhà vua để tiến đến trận chung kết. Tại giải quốc nội, sau khi thắng 8 trên 9 trận, đội bóng đã trở lại vị trí đầu bảng sau 15 tuần.[24]
Ngày 21 tháng 4 năm 2015, Luis Enrique tạo nên trận thắng thứ 42 sau 50 trận dẫn dắt Barcelona với chiến thắng 2-0 trước Paris Saint-Germain, một kỷ lục của một huấn luyện viên.[25] Ông đưa đội bóng đến trận chung kết của UEFA Champions League và vào ngày 17 tháng 5, ông giúp Barca giành danh hiệu vô địch quốc gia thứ 23 sau trận thắng 1-0 trước Atlético Madrid tại sân vận động Vicente Calderón.[26][27] Ngày 6 tháng 6, sau khi đoạt cúp nội địa trước Athletic Bilbao với cùng tỉ số trên, Barcelona hoàn tất cú ăn ba với trận thắng 3-1 trước Juventus trong trận chung kết diễn ra tại Berlin,[28] và ba ngày sau ông đã đặt bút kí bản hợp đồng mới đến 2017.[29]
Đời tư
[sửa | sửa mã nguồn]
Luis Enrique kết hôn với người bạn đời lâu năm Elena Cullell vào ngày 27 tháng 12 năm 1997. Con gái út của họ, Xana, qua đời vì ung thư xương ở tuổi 9 vào ngày 29 tháng 8 năm 2019.[30]
Thống kê sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]
Câu lạc bộ
[sửa | sửa mã nguồn] Nguồn:[31]
Câu lạc bộ
Mùa bóng
Giải quốc nội
Cúp
Châu Âu
Khác[nb 1]
Tổng cộng
Giải đấu
Trận
Bàn
Trận
Bàn
Trận
Bàn
Trận
Bàn
Trận
Bàn
Sporting Gijón
1989-90
La Liga
1
0
-
1
0
1990-91
35
14
9
3
-
44
17
Tổng cộng
36
14
9
3
0
0
0
0
45
17
Real Madrid
1991-92
La Liga
29
4
6
1
6
0
-
41
5
1992-93
34
2
6
0
8
1
-
48
3
1993-94
28
2
4
1
6
0
2
0
40
3
1994-95
35
4
2
0
6
0
-
43
4
1995-96
31
3
0
0
8
0
2
0
41
3
Tổng cộng
157
15
18
2
34
1
4
0
213
18
Barcelona
1996-97
La Liga
35
17
7
1
7
0
2
0
51
18
1997-98
34
18
6
3
6
4
1
0
47
25
1998-99
26
11
3
0
3
1
2
0
34
12
1999-2000
19
3
5
3
7
6
2
0
33
12
2000-01
28
9
4
1
9
6
-
41
16
2001-02
23
5
0
0
15
6
-
38
11
2002-03
18
8
0
0
8
2
-
26
10
2003-04
24
3
1
0
5
2
-
30
5
Tổng cộng
207
73
26
8
60
27
7
0
300
109
Tổng cộng sự nghiệp
400
102
53
13
94
28
11
0
558
144
Ghi chú
^ Bao gồm Supercopa de España
Quốc tế
[sửa | sửa mã nguồn]
[32]
Tây Ban Nha
Năm
Số trận
Bàn thắng
1991
1
0
1992
0
0
1993
2
0
1994
9
3
1995
8
0
1996
9
2
1997
4
2
1998
8
1
1999
8
4
2000
3
0
2001
5
0
2002
5
0
Tỏng cộng
62
12
Bàn thắng quốc tế
[sửa | sửa mã nguồn]
Tỉ số và kết quả liệt kê bàn thắng củatrước[33]
#
Ngày
Địa điểm
Đối thủ
Bàn thắng
Kết quả
Giải đấu
1.
2 tháng 7 năm 1994
Washington, Hoa Kỳ
Thụy Sĩ
2–0
3–0
World Cup 1994
2.
16 tháng 11 năm 1994
Seville, Tây Ban Nha
Đan Mạch
3–0
3–0
Vòng loại Euro 1996
3.
17 tháng 12 năm 1994
Brussels, Bỉ
Bỉ
4–1
4–1
Vòng loại Euro 1996
4.
4 tháng 9 năm 1996
Toftir, Quần đảo Faroe
Quần đảo Faroe
1–0
6–2
Vòng loại World Cup 1998
5.
13 tháng 11 năm 1996
Tenerife, Tây Ban Nha
Slovakia
3–1
4–1
Vòng loại World Cup 1998
6.
11 tháng 10 năm 1997
Gijón, Tây Ban Nha
Quần đảo Faroe
1–0
3–1
Vòng loại World Cup 1998
7.
3–1
8.
24 tháng 6 năm 1998
Lens, Pháp
Bulgaria
2–0
6–1
World Cup 1998
9.
5 tháng 6 năm 1999
Villarreal, Tây Ban Nha
San Marino
2–0
9–0
Vòng loại Euro 2000
10.
6–0
11.
7–0
12.
4 tháng 9 năm 1999
Viên, Áo
Áo
3–1
3–1
Vòng loại Euro 2000
Danh hiệu
[sửa | sửa mã nguồn]
Sự nghiệp cầu thủ
[sửa | sửa mã nguồn] Real Madrid La Liga
1995[34]
Copa del Rey: 1993[35]
Supercopa de Espana: 1993[36]
FC Barcelona
La Liga: 1998[37], 1999[38]
Copa del Rey: 1997[39], 1998[40]
Supercopa de Espana: 1996[41]
UEEA cup Winners' cup (C2): 1997[42]
UEEA Super Cup: 1997
Quốc tế
Thế vận hội Mùa hè: 1992[43]
Sự nghiệp huấn luyện viên
[sửa | sửa mã nguồn]
Barcelona
La Liga: 2014–15, 2015–16[44]
Copa del Rey: 2014–15, 2015–16, 2016–17[44]
Supercopa de España: 2016[44]
UEFA Champions League: 2014–15[44]
UEFA Super Cup: 2015[44]
FIFA Club World Cup: 2015[44]
Paris Saint-Germain
Ligue 1: 2023–24,[45] 2024–25[46]
Coupe de France: 2023–24,[47] 2024–25[48]
Trophée des Champions: 2023,[49] 2024,[50] 2025[51]
UEFA Champions League: 2024–25[52]
UEFA Super Cup: 2025[53]
FIFA Intercontinental Cup: 2025[54]
FIFA Club World Cup á quân: 2025[55]
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]
^ "PSG chính thức bổ nhiệm HLV Enrique thay Galtier".
^ Luis Enrique bows out; BBC Sport, ngày 10 tháng 8 năm 2004
^ Pele's list of the greatest; BBC Sport, ngày 4 tháng 3 năm 2004
^ ab"Barcelona appoint Luis Enrique as first-team coach". BBC Sport. ngày 19 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2014.
^ Luis Enrique tính chuyển nghề sau khi chia tay Barca. Bóng đá.com
^ "Aires de funeral en Asturias" [Funeral march sounds in Asturias]. Mundo Deportivo (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 3 tháng 6 năm 1991. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2017.
^ Mitten, Andy (ngày 6 tháng 10 năm 2013). "Luis Enrique: 'We think Messi is normal. I can't understand how a player got to that level'". FourFourTwo. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2015.
^ "Nando compra su carta de libertad para poder fichar por el Madrid" [Nando buys out his contract in order to sign with Madrid] (bằng tiếng Tây Ban Nha). El País. ngày 9 tháng 7 năm 1992. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
^ "Luis Enrique ficha por el Barça por cinco temporadas" [Luis Enrique signs for Barça for five seasons] (bằng tiếng Tây Ban Nha). El País. ngày 28 tháng 5 năm 1996. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014.
^ "Un gol con sabor a venganza" [Revenge-flavoured goal] (bằng tiếng Tây Ban Nha). El País. ngày 2 tháng 11 năm 1997. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014.
^ Lowe, Sid (ngày 23 tháng 10 năm 2014). "Barca manager Luis Enrique doesn't have fond memories of Real Madrid". ESPN FC. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2015.
^ "La Roja de 1992, nuestra medalla de oro Olímpica" [1992's La Roja, our Olympic gold medal] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Antena 3. ngày 3 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2017.
^ De nuevo vencidos y sin gloria (Again beaten hopelessly); Mundo Deportivo, ngày 18 tháng 4 năm 1991 (in Spanish)
^ "New Barcelona boss Luis Enrique scores for Spain at 1994 World Cup". BBC Sport. ngày 20 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014.
^ "Luis Enrique full of respect". BBC Sport. ngày 20 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2014.
^ Date set for Hendry decision; BBC Sport, 3 tháng 4 năm 2001
^ Luis Enrique, nuevo entrenador del Barcelona B (Luis Enrique, new Barcelona B coach); El País, ngày 26 tháng 5 năm 2008 (in Spanish)
^ Luis Enrique se va a final de temporada (Luis Enrique leaves at the end of season) Lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2011 tại Wayback Machine; FC Barcelona, ngày 15 tháng 3 năm 2011 (in Spanish)
^ "Eusebio quiere igualar al filial de Luis Enrique" [Eusebio wants to match Luis Enrique's reserves] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Marca. ngày 3 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2016.
^ "Luis Enrique ha firmato "Farò calcio spettacolo"" [Luis Enrique has signed "I will produce spectacular football"] (bằng tiếng Ý). La Repubblica. ngày 8 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2016.
^ Serie A – Enrique's Roma lose opener; Yahoo! Sports, 11 tháng 9 năm 2011
^ Cryer, Andy (ngày 24 tháng 8 năm 2014). "Barcelona 3–0 Elche". BBC Sport. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2014.
^ Barcelona: Are we seeing the reawakening of Pep Guardiola's side?; Bleacher Report, ngày 26 tháng 2 năm 2015
^ FC Barcelona v Rayo Vallecano: Storming to the top of the table! (6–1); FC Barcelona, ngày 8 tháng 3 năm 2015
^ "Barcelona manager Luis Enrique targets Champions League title". Sky Sports. ngày 22 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2015.
^ "Lionel Messi hands Barcelona 23rd La Liga title". The Daily Telegraph. ngày 17 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2015.
^ "Barcelona win La Liga: 10 key factors behind their revival". BBC Sport. ngày 17 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2015.
^ "Barcelona see off Juventus to claim fifth title". UEFA.com. ngày 6 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2015.
^ "Barcelona: Coach Luis Enrique extends contract to 2017". BBC Sport. ngày 9 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2015.
^ Hoàng Thông. "Luis Enrique và chuyện về con gái yểu mệnh Xana". VnExpress.
^ "Luis Enrique". Footballdatabase. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
^ Luis Enrique Martínez García – Goals in International Matches; at RSSSF
^ "Luis Enrique". European Football. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2015.
^ "Un pasillo y muchos bostezos" [Guard of honour and yawns aplenty] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. ngày 11 tháng 6 năm 1995. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2015.
^ "Una Copa para el consuelo" [Consolation Cup] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. ngày 27 tháng 6 năm 1993. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2015.
^ "El Barça se estrella contra la mala suerte" [Barça crashes into bad luck] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. ngày 17 tháng 12 năm 1993. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2015.
^ "Adiós con sonrojo" [Embarrassing goodbye] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. ngày 16 tháng 5 năm 1998. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2015.
^ "Despedida a lo gran campeón" [Curtain call as a great champion] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. ngày 14 tháng 6 năm 1999. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2015.
^ "Barça de titanes" [Titanic Barça] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. ngày 29 tháng 6 năm 1997. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
^ "La Copa más histórica" [The most historical Cup] (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. ngày 30 tháng 4 năm 1998. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
^ "Título con súper-susto" [Title with mega-scare] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. ngày 29 tháng 8 năm 1996. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
^ "1996/97: Ronaldo spot on for Barça". UEFA.com. ngày 14 tháng 5 năm 1997. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
^ "El triunfo en el fútbol, broche de oro para España en Barcelona 92" [Football win, icing on the cake for Spain in Barcelona 92] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Dame Un Silbidito. tháng 4 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2015.
^ abcdef"Luis Enrique". Soccerway. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2016.
^ "Paris Saint-Germain win their 12th Ligue 1 title!". Paris Saint-Germain F.C. ngày 28 tháng 4 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
^ "Le PSG champion de France pour la 13e fois de son histoire après sa victoire contre Angers" [PSG are crowned French champions for the 13th time in their history after their victory against Angers.]. L'Équipe (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2025.
^ "PSG beat Lyon 2-1 to win French Cup final in Mbappe's farewell appearance". Reuters. ngày 25 tháng 5 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2024.
^ Guillemet, Hugo (ngày 24 tháng 5 năm 2025). "Le PSG s'offre une 16e Coupe de France après une victoire facile en finale contre Reims". L'Équipe (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
^ "Paris start 2024 with Trophée des Champions triumph!". Paris Saint-Germain F.C. ngày 3 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
^ "Foot : Ousmane Dembélé offre sur le fil un nouveau Trophée des champions au PSG contre Monaco". L'Équipe (bằng tiếng Pháp). ngày 5 tháng 1 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2025.
^ "Le PSG de Lucas Chevalier tient son premier titre 2026" [Lucas Chevalier's PSG get their first 2026 title] (bằng tiếng Pháp). Radio Télévision Suisse. ngày 8 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2026.
^ "PSG-Inter Milan : les Parisiens remportent brillamment la Ligue des champions". lemonde.fr. lemonde.fr. ngày 31 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2025.
^ Bärthel, Julie (ngày 13 tháng 8 năm 2025). "PSG gewinnt Elfmeterkrimi gegen Tottenham" [PSG win penalty shootout against Tottenham] (bằng tiếng Đức). Sportschau. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2025.
^ "Porté par un énorme Safonov lors des tirs au but, le PSG remporte la première Coupe Intercontinentale de son histoire face à Flamengo". L’Équipe. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2025.
^ "Douché par Chelsea, le PSG ne sera pas le premier vainqueur de la Coupe du monde des clubs". L'Équipe (bằng tiếng Pháp). ngày 13 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2025.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn] Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện về Luis Enrique (cầu thủ bóng đá).
FC Barcelona
Luis Enrique tại BDFutbol
Tiểu sử quản lý Luis Enrique tại BDFutbol
Luis Enrique tại National-Football-Teams.com
Luis Enrique – Thành tích thi đấu FIFA
x
t
s
Paris Saint-Germain F.C. – đội hình hiện tại
2 Hakimi
4 Beraldo
5 Marquinhos (c)
6 Zabarnyi
7 Kvaratskhelia
8 Fabián
9 Ramos
10 Dembélé
14 Doué
17 Vitinha
19 Lee
21 Hernandez
24 Mayulu
25 Mendes
27 Dro
29 Barcola
30 Chevalier
33 Zaïre-Emery
39 Safonov
41 Jangeal
42 Boly
43 Kamara
45 Nsoki
47 Ndjantou
49 Mbaye
51 Pacho
87 Neves
89 Marin
Huấn luyện viên: Luis Enrique
Đội hình Tây Ban Nha
x
t
s
Đội hình bóng đá Tây Ban Nha – Thế vận hội Mùa hè 1992 – Huy chương Vàng
1 Cañizares
2 Ferrer
3 Lasa
4 Solozábal (c)
5 López
6 Villabona
7 Amavisca
8 Luis Enrique
9 Guardiola
10 Abelardo
11 Manjarín
12 Paqui
13 Toni
14 Vidal
15 Soler
16 Miguel
17 Berges
18 Pinilla
19 Kiko
20 Alfonso
Huấn luyện viên: Miera
x
t
s
Đội hình Tây Ban Nha – Giải bóng đá vô địch thế giới 1994
1 Zubizarreta (c)
2 Ferrer
3 Otero
4 Camarasa
5 Abelardo
6 Hierro
7 Goikoetxea
8 Guerrero
9 Guardiola
10 Bakero
11 Begiristain
12 Sergi
13 Cañizares
14 Juanele
15 Caminero
16 Miñambres
17 Voro
18 Alkorta
19 Salinas
20 Nadal
21 Luis Enrique
22 Lopetegui
Huấn luyện viên: Clemente
x
t
s
Đội hình Tây Ban Nha – Giải bóng đá vô địch thế giới 1998
1 Zubizarreta (c)
2 Ferrer
3 Aranzábal
4 Alkorta
5 Abelardo
6 Hierro
7 Morientes
8 Guerrero
9 Pizzi
10 Raúl
11 Alfonso
12 Sergi
13 Cañizares
14 Campo
15 Aguilera
16 Celades
17 Etxeberria
18 Amor
19 Kiko
20 Nadal
21 Luis Enrique
22 Molina
Huấn luyện viên: Clemente
x
t
s
Đội hình Tây Ban Nha – Giải bóng đá vô địch thế giới 2002
1 Casillas
2 C. Torres
3 Juanfran
4 Helguera
5 Puyol
6 Hierro (c)
7 Raúl
8 Baraja
9 Morientes
10 Tristán
11 De Pedro
12 Luque
13 Ricardo
14 Albelda
15 Romero
16 Mendieta
17 Valerón
18 Sergio
19 Xavi
20 Nadal
21 Luis Enrique
22 Joaquín
23 Contreras
Huấn luyện viên: Camacho
x
t
s
Đội hình Tây Ban Nha – Bán kết Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020
1 De Gea
2 Azpilicueta
3 D. Llorente
4 P. Torres
5 Busquets (c)
6 M. Llorente
7 Morata
8 Koke
9 Gerard
10 Thiago
11 F. Torres
12 García
13 Sánchez
14 Gayà
16 Rodri
17 Fabián
18 Alba
19 Olmo
20 Traoré
21 Oyarzabal
22 Sarabia
23 Simón
24 Laporte
26 Pedri
Huấn luyện viên: Luis Enrique
x
t
s
Đội hình Tây Ban Nha – Giải vô địch bóng đá thế giới 2022
1 Sánchez
2 Azpilicueta
3 García
4 P. Torres
5 Busquets (c)
6 Llorente
7 Morata
8 Koke
9 Gavi
10 Asensio
11 F. Torres
12 Williams
13 Raya
14 Balde
15 Guillamón
16 Rodri
17 Pino
18 Alba
19 Soler
20 Carvajal
21 Olmo
22 Sarabia
23 Simón
24 Laporte
25 Fati
26 Pedri
Huấn luyện viên: Luis Enrique
Giải thưởng
x
t
s
FIFA 100
UEFA
Baggio
Ballack
Banks
Baresi
Van Basten
Beckenbauer
Beckham
Bergkamp
Bergomi
Best
Boniek
Boniperti
Breitner
Buffon
Butragueño
Cantona
Ceulemans
Charlton
Cruyff
Dalglish
Dasayev
Davids
Del Piero
Desailly
Deschamps
Emre
Eusébio
Facchetti
Figo
Fontaine
Gullit
Hagi
Henry
Kahn
Keane
Keegan
R. van de Kerkhof
W. van de Kerkhof
Klinsmann
Kluivert
Kopa
B. Laudrup
M. Laudrup
Lineker
Luis Enrique
Maier
Maldini
Masopust
Matthäus
Müller
Nedvěd
Neeskens
Nesta
Van Nistelrooy
Owen
Papin
Pfaff
Pirès
Platini
Puskás
Raúl
Rensenbrink
Rijkaard
Rivera
Rossi
Rui Costa
Rummenigge
Rüştü
Schmeichel
Seedorf
Seeler
Shearer
Shevchenko
Stoichkov
Šuker
Thuram
Totti
Trésor
Trezeguet
Van der Elst
Vieira
Vieri
Zidane
Zoff
CONMEBOL
Carlos Alberto
Batistuta
Cafu
Crespo
Cubillas
Di Stéfano
Falcão
Figueroa
Francescoli
Júnior
Kempes
Maradona
Passarella
Pelé
Rivaldo
Rivelino
Roberto Carlos
Romário
Romerito
Ronaldinho
Ronaldo
Djalma Santos
Nílton Santos
Saviola
Sívori
Sócrates
Valderrama
Verón
Zamorano
Zanetti
Zico
CAF
Diouf
Milla
Okocha
Abedi Pelé
Weah
CONCACAF
Akers
Hamm
Sánchez
AFC
Hong M.B.
Nakata
x
t
s
Huấn luyện viên vô địch La Liga
1929: Forns
1930: Pentland
1931: Pentland
1932: Hertzka
1933: Firth
1934: Caicedo
1935: O'Connell
1936: Garbutt
1940: Zamora
1941: Zamora
1942: Encinas
1943: Urquizu
1944: Cubells
1945: Samitier
1946: Encinas
1947: Pasarín
1948: Fernández
1949: Fernández
1950: Herrera
1951: Herrera
1952: Daučík
1953: Daučík
1954: Fernández
1955: Villalonga
1956: Daučík
1957: Villalonga
1958: Carniglia
1959: Herrera
1960: Herrera
1961: Muñoz
1962: Muñoz
1963: Muñoz
1964: Muñoz
1965: Muñoz
1966: Balmanya
1967: Muñoz
1968: Muñoz
1969: Muñoz
1970: Domingo
1971: Di Stéfano
1972: Muñoz
1973: Merkel
1974: Michels
1975: Miljanić
1976: Miljanić
1977: Aragonés
1978: Molowny
1979: Molowny
1980: Boškov
1981: Ormaetxea
1982: Ormaetxea
1983: Clemente
1984: Clemente
1985: Venables
1986: Molowny
1987: Beenhakker
1988: Beenhakker
1989: Beenhakker
1990: Toshack
1991: Cruyff
1992: Cruyff
1993: Cruyff
1994: Cruyff
1995: Valdano
1996: Antić
1997: Capello
1998: Van Gaal
1999: Van Gaal
2000: Irureta
2001: Del Bosque
2002: Benítez
2003: Del Bosque
2004: Benítez
2005: Rijkaard
2006: Rijkaard
2007: Capello
2008: Schuster
2009: Guardiola
2010: Guardiola
2011: Guardiola
2012: Mourinho
2013: Vilanova
2014: Simeone
2015: Luis Enrique
2016: Luis Enrique
2017: Zidane
2018: Valverde
2019: Valverde
2020: Zidane
2021: Simeone
2022: Ancelotti
2023: Xavi
2024: Ancelotti
2025: Flick
x
t
s
Huấn luyện viên vô địch Cúp C1 châu Âu và UEFA Champions League
Cúp C1 châu Âu
1956: Villalonga
1957: Villalonga
1958: Carniglia
1959: Carniglia
1960: Muñoz
1961: Guttmann
1962: Guttmann
1963: Rocco
1964: Herrera
1965: Herrera
1966: Muñoz
1967: Stein
1968: Busby
1969: Rocco
1970: Happel
1971: Michels
1972: Kovács
1973: Kovács
1974: Lattek
1975: Cramer
1976: Cramer
1977: Paisley
1978: Paisley
1979: Clough
1980: Clough
1981: Paisley
1982: Barton
1983: Happel
1984: Fagan
1985: Trapattoni
1986: Jenei
1987: Jorge
1988: Hiddink
1989: Sacchi
1990: Sacchi
1991: Petrović
1992: Cruyff
UEFA Champions League
1993: Goethals
1994: Capello
1995: Van Gaal
1996: Lippi
1997: Hitzfeld
1998: Heynckes
1999: Ferguson
2000: Del Bosque
2001: Hitzfeld
2002: Del Bosque
2003: Ancelotti
2004: Mourinho
2005: Benítez
2006: Rijkaard
2007: Ancelotti
2008: Ferguson
2009: Guardiola
2010: Mourinho
2011: Guardiola
2012: Di Matteo
2013: Heynckes
2014: Ancelotti
2015: Luis Enrique
2016: Zidane
2017: Zidane
2018: Zidane
2019: Klopp
2020: Flick
2021: Tuchel
2022: Ancelotti
2023: Guardiola
2024: Ancelotti
2025: Luis Enrique
x
t
s
Huấn luyện viên vô địch UEFA Super Cup
1972: Kovács
1973: Knobel
1975: Lobanovskyi
1976: Goethals
1977: Paisley
1978: Goethals
1979: Clough
1980: Pasieguito
1982: Barton
1983: Ferguson
1984: Trapattoni
1986: Iordănescu
1987: Ivić
1988: De Mos
1989: Sacchi
1990: Sacchi
1991: Ferguson
1992: Cruyff
1993: Scala
1994: Capello
1995: Van Gaal
1996: Lippi
1997: Van Gaal
1998: Vialli
1999: Eriksson
2000: Lucescu
2001: Houllier
2002: Del Bosque
2003: Ancelotti
2004: Ranieri
2005: Benítez
2006: Ramos
2007: Ancelotti
2008: Advocaat
2009: Guardiola
2010: Flores
2011: Guardiola
2012: Simeone
2013: Guardiola
2014: Ancelotti
2015: Luis Enrique
2016: Zidane
2017: Zidane
2018: Simeone
2019: Klopp
2020: Flick
2021: Tuchel
2022: Ancelotti
2023: Guardiola
2024: Ancelotti
2025: Luis Enrique
x
t
s
Huấn luyện viên giành FIFA Club World Cup và FIFA Intercontinental Cup