LƯỢC THUẬT GIA PHẢ HỌ ĐÀM (Thận, Quang, Duy, Trung…) TỪ ...

Lời mở đầu.
Người Việt chúng ta khi về già thường muốn tìm về cuội nguồn bằng cách đọc lại gia phả của giòng họ nhà mình. Năm 2011, anh em chúng tôi (Đàm Trung Pháp, Phán) may mắn đã được GS Đàm Quang Hưng tặng cho cuốn Đàm Thận Tộc Phả trong đó có ghi lại tên những người nam họ Đàm theo một thứ tự rất khoa học (theo cặp số đặc trưng). Việc tra tìm tên người (phái nam mà thôi, theo lối các cụ ngày xưa), giống như tra tụ điển vậy. Chúng tôi nhận thấy GS Đàm Quang Hưng (chi họ Đàm Quang ở Quảng Yên), thuộc thế hệ thứ 19, cùng thế hệ với nam giới Đàm Trung (con / cháu của thế hệ Đàm Duy và cha/chú/Bác của thế hệ Đàm Hiếu…) nhưng chi Đàm Quang thuộc chi trưởng cho nên GS Đàm Quang Hưng gọi anh chị em chúng tôi là các cô, các chú. Ngoài đời thì GS Hưng là vị Thầy kính mến của Đàm Trung Phán . Xin chân thành cám ơn GS Đàm Quang Hưng đã ưu ái trao tặng cho chú em / học trò của Thầy cuốn sách quý này.
Tháng 11, 2016 trong lúc tôi mở tất cả các hộc tủ để đi kiếm một cái hóa đơn (bill) mà chẳng thấy. Khi đóng cái hộc tủ cuối cùng, không tài nào tôi đẩy nó vào được, bèn phải kéo nó ra để quan sát tại sao. Hóa ra, ở phía bên trong tủ, trên sàn nhà, tôi thấy có rất nhiều giấy tờ. Kỳ lạ thay, tôi thấy một tập giấy viết tay, khổ dài (legal sized) : đây là bài viết về gia phả của giòng họ nhà chúng tôi bắt đầu từ thế kỷ 14 cho đến đời thứ 19 của họ Đàm (thập niên 1970). Tài liệu này đã được thân phụ chúng tôi, cụ Đàm Duy Tạo (*) , viết vào ngày 16/6/1974 khi cụ đã 79 tuổi, gần 1 năm trước khi cụ di tản sang Hoa Kỳ.
Tôi bàng hoàng ngồi đọc những giòng chữ thân thương đầy chân tình của người cha già viết cho đứa con đang sống xa nhà . Cha già chỉ sợ đứa con đang sỗng ở hải ngoại không biết rõ về cội nguồn của mình. Cụ không quản khó khăn vì mắt đã mờ, tay đã run nhưng vẫn cố ngồi xuống viết cho tôi 14 trang giấy khổ dài (legal sized) , dùng kính “lúp” để viết và nhờ bạn tôi mang sang Canada đưa cho tôi. Tôi hoàn toàn không còn nhớ gì về lá thủ này vì tôi đã để quên nó trong cái hộc tủ đã quá lâu để rồi không còn biết gì về nó nữa. Tôi có cảm tưởng là Cụ không thục sự đã qua đời vì dường như Cụ luôn luôn ở bên cạnh tôi, nhất là trong những lúc tôi gặp buồn bực hay những khó khăn của cuộc đời.
Năm 2005, vọ chồng anh chị Đàm Trung Pháp và vợ chông tôi đã cùng nhau về thăm quê nội tại Bắc Ninh, Việt Nam và tôi đã chụp được nhiều tấm hình và nhất là đền thờ của Quốc sư Đàm Thận Huy dưới đây:

Xin mời đọc bài viết về gia phả của cụ Đàm Duy Tạo (*) :
Họ Đàm nhà ta đến định cư tại làng Hương Mặc, tổng Nghĩa Lập, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh, nước Đại Nam, kể đã lâu đời lắm, nhưng vì trải nhiều cuộc loạn ly, nên gia-phả thất lạc hoài và chỉ còn ghi chép lại được từ đời cụ Vô-Tâm, nghĩa là từ hồi đầu thế kỷ thứ 14 đến nay. Cụ Vô-Tâm sống vào hồi biến loạn liên miên vì cuộc chiến tranh với giặc Minh của nhà Hồ, nhà Hậu Trần và nhà Lê.
Bởi những cuộc binh biến kế tiếp, 2, 3 chục năm ấy mà gia-phả họ Đàm nhà ta mất hết cả, cho nên sự tích các Cụ từ xưa đến khi đó đều tiêu tán hoàn toàn. Vì vậy mà Tờ lược kê này đành lấy Cụ Vô-Tâm làm Thủy Tổ, và ghi là đời thứ I.
Đời thứ I.
Cụ ông hiệu Vô Tâm, húy (quên), Cụ bà hiệu Từ-Hạnh, họ, húy (đều quên). Hai cụ sống chừng vào hồi cuối Trần, đầu Lê (cuối thế kỷ 13, đầu thế kỷ 14). Có 2 con trai, ông con trưởng có đỗ Trung Khoa, con cháu suy vi, đến đời Gia Long thì thật hết. Ông con thứ hai là Cụ Minh Đạo.
Đời thứ II.
Cụ Ông hiệu là Minh Đạo, húy (quên) được truy tặng là Thái Bảo, Giáo Nghĩa Hầu. Cụ bà hiệu là Từ Ý, húy và họ (đều quên), được truy phong Thái Bảo, Liệt phu nhân.Hai cụ được 2 con trai. Ông con trưởng tức là Cụ Tiết. Ông con thứ hai húy là Thận Giản, đỗ Hoàng-Giáp, làm quan đến Thượng thư, hiệu là Minh Huệ, không có con trai.
Đời thứ III.
Cụ ông húy là Thận-Huy, hiệu là Mạc Trai, đỗ tiến sĩ triều vua Lê Thánh Tông, được vào Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú, và được Vua Lê Thánh Tông khen là “Thiên hạ đệ nhất danh thi nhân”. Cụ làm quan đến Lễ Bộ Thượng Thư, được phong tước Lâm Xuyên Bá, Cụ khởi nghĩa đánh Mạc trong 4 năm (1522 – 26) không được, rồi uống thuốc độc chết, sau được phong là Tiết Nghĩa Đại Vương, thụy là Trung Hiến.
Cụ Bà họ Nghiêm, húy (quên) người làng Quan-Độ (gần làng Hương Mạc nhà ta), Cụ theo Cụ ông khởi nghĩa rồi mất trong quận, nên sau được phong là Hoàng Hậu Phi Nhân. Hai cụ đều được phong là Phúc Thần lập đền thờ ở làng.Ông thứ 2 và ông thứ 4 đều mất tích, có lẽ vì trốn nhà Mạc. Ông thứ 3 húy là Uyên Lương đỗ Nho Sinh trúng thức (tức như Cử nhân sau này) làm Tả Tư Mạc, Thừa Chính Sư, tức là tổ chi Cụ Tả ngày nay (Bọn nhà Nha Di đều là con cháu Cụ Tả).
Đời thứ IV.
Cụ ông hiệu là Phúc Thiện, húy (quên) làm Tri phủ phủ Quốc Oai, khi nhà Lê mất, cụ bỏ về. Cụ bà, tên họ quê quán đều quên cả. Hai cụ được 1 con trai tức là Cụ Phúc Lương.
Đời Thứ V.
Cụ ông hiệu là Phúc Lương, húy (quên), Cụ thi đỗ hồi nhà Mạc, nhưng không ra làm quan, chỉ nhận hàm Ấm Thụ là Hiển Huệ đại phu.Cụ bà họ Nguyễn người làng Hoa Thiều (làng Mộc). Hai cụ đwợc 2 con trai. Ông trưởng húy là Quang Tán đỗ Nho Sinh trúng thức, tức là tổ chi họ Đàm Quang ở Quảng Yên bây giờ. Ông thứ 2 tức là Cụ Phúc Trí.
Đời thứ VI.
Cụ Ông húy là Quang Tán, hiệu là Phúc Trí. Cụ Bà người Phù Khê, con gái ông Giám Sinh họ Quách. Họ này học giỏi đỗ rất nhiều đời Mạc và Hậu Lê. Hai cụ được 1 con trai là Cụ Trực An.
Đời thứ VII.
Cụ ông húy là Hùng, tự là Quang Minh sinh năm Nhâm Thân 1592, mất năm 1634, vào ngày 21 tháng 7 năm Giáp Tuất. Sinh thời cụ được dân làng mến phục, là người hiền lành, đứng đắn, bầu làm Xã trưởng, sau được phong tặng hàm Thái Bảo, Lễ Bộ Tả Thị Lang. Cụ bà họ Đàm, húy là Quế (có chỗ nói là Khuê), người làng nhà, mất ngày 18 tháng 4 năm Mậu Thân 1668 thọ 67 tuổi. Cụ nội trợ giỏi, ở góa, khéo nuôi dậy con được thành đạt, nức tiếng hiền đức. Hai cụ được 1 con trai tức là Cụ Thuần Nhã.
Đời thứ VIII.
Cụ ông húy là Tung, tự là Lỗ Phu, hiệu là Thuần Nhã, sinh năm Giáp Tý 1624, đỗ thủ khoa thi Hương năm Bính Ngọ 1666, được lục dụng, bổ chức Giáo Thụ dạy Kinh Thư ở Quốc Tử Giám, sau được bổ làm Tri Phủ Kiến Sương. Cụ làm quan rất thanh liêm, dậy học nhiều người thành tài. Cụ mất ngày 17 tháng 3 năm Kỷ Mùi 1679, sau được phong tặng hàm Tham Chính, Đô Ngự Sử, Thái Bảo. Cụ bà họ Nguyễn, hiệu Từ Tố, người làng Yên Phụ (gần làng Hương Mặc), con gái Ông Nguyễn Khắc Khoan và cháu ngoại Ông Lan Quận Công, Thượng thư Thái Phó Nguyễn Thật, cụ mất ngày 11 tháng 10 năm Kỷ Mão 1699. Cụ là người nhân từ, thích chuyện phúc đức. Hai cụ được 4 con trai. Ông trưởng tức là Cụ Quốc Sư hiệu Trung Vĩ. Ông thứ 2 là Trung Thứ hiệu là Cương Đoán, đỗ Nho sinh trúng thức, tức là tổ chi Ông Lý Thuyết, Ông Thê Huấn vừa rồi. Con cháu Cụ Trung Thứ này có nhiều ông học giỏi như Cụ Huyên Điện Bao tên Bình Cách, Cụ Quốc Tử Giám trợ giáo tên Đoan-Trọng. Ông thứ 3 hiệu là Phúc Dụ, đỗ Nho sinh trúng thức, tức là tổ chi Ông Lý Lô, Ông Đồ Ký vừa rồi. Ông thư 4: thất tryền.
Đời thứ IX.
Cụ húy là Công Hiệu, hiệu là Mai Hiên, thụy là Trung Vĩ. Cụ đõ Sĩ Vọng, trải làm các chức Huấn Đạo, Tri Huyện, Tri Phủ. Sau vì nổi tiếng liêm chính, cương quyết và học giỏi được chúa Trịnh cứ vào trông nom dậy học đích tằng tôn là Trịnh Cương, và được thăng lên nhiều chức to như Bồi Tụng, Thị Lang, Thượng Thư, Tri Trung thư giám, Thiếu bảo Quốc Lão.
Khi Trinh Cương được lên ngôi chúa, quyền vị của cụ thật cao tột đỉnh, nhưng nhà vẫn nghèo, chỉ có mấy mái nhà tranh thấp nhỏ. Khi Cụ mất, cụ được phong là Quốc Sư Đại Vương, cho nên con cháu sau này vẫn gọi vắn tắt là Cụ Quốc. Cụ sinh ngày 24 tháng 10 năm Nhâm Thìn 1652, mất ngày 2 tháng 5 năm Tân Sửu 1721. Cụ bà họ Nguyễn, hiệu Tỉnh Thuyên, nười làng Vân Điềm, dòng dõi Cụ Thái Phó Lan, Quận Công Nguuyễn Thật, sinh năm Quý Tỵ 1653, mất ngày 6 tháng 2 năm Giáp Thân 1704.
Hai cụ được 2 con trai. Ông trưởng tức Cụ Vụ, hiệu Đôn Hậu. Ông thư 2 húy là Công Vị mất sớm, không con.
Đời thứ X.
Cụ Ông húy là Đình Khanh, tự là Như Gia, hiệu là Đôn Hậu, đỗ Nho Sinh Trúng Thức, chỉ làm quan đến chức Tư Vụ bộ Binh rồi xin về. Cụ mất ngày 6 tháng 11 năm Bính Ngọ 1726. Cụ bà họ Nguyễn, húy Chiêm, người xã Đông Dư, huyên Gia Lâm, mất ngày 13 tháng 6 năm Giáp Dần 1734, tên hiệu là Diệu Đức. Hai cụ được 2 con trai. Ông trưởng tức là Thận Du, đỗ Nho Sinh trúng thức, làm Tri huyện Đông Yên rồi về, tức là tổ chi Cụ Huyện bây giờ, các con cháu đạo vừa rồi rất đông, nhưng ông quen biết nhiều ông Tổng Bẩy, ông Phó Thám, chú Thu, chú Khải.
Đời thứ XI.
Cụ Ông húy Đình Dung, sau đổi là Thận Trưng, tự là Như Bảo, hiệu là Ôn Phác, sinh ngày 7 tháng 6 năm Đinh Sửu 1697, lấy hàm tập ấm được bổ chức Đồng Tri phủ phủ Lạng Giang và phủ Phú Bình, rồi xin về hưu, mất ngày 20 tháng 6 năm Bính Tý 1756.Cụ Bà họ Nguyễn húy Trương, người làng Dương Húc, huyện Tiên Đa (gần Nội Duệ) là con gái nhỏ họ Tiến Sĩ Thượng Thư Nguyễn Đương Hồ, sinh ngày 15 tháng 7 năm Nhâm Ngọ 1702 và mất ngày 11 tháng 12 năm Bính Dần 1746.Hai cụ có 4 con trai, và các bà vợ lẽ sinh được 2 trai nữa. Ông trưởng húy là Liêu, đỗ Nho Sinh trúng Thức, làm tri huyện Thanh Hà, con cháu chi này bây giờ hết cả rồi. Ông thứ 2 tức là Cụ Úy, hiệu Cương Mẫn. Ông thứ 3 tên là Thận Phó đỗ Tam Trường (Tú Tài), tức là tổ chi ông Tư Cổn, Năm Cổn, bây giờ có lẽ hết người rồi. Ông thứ 5 tên là Sứng, bây giờ con cháu suy đã lâu, chỉ còn bố con chú Cò Điệt và lũ bố con các chú Toàn, chú Khiêm. Ông thứ 6 húy là Khản, không có con trai.
Đời thứ XII.
Cụ Ông húy là Thận Nghi, hiệu là Cương Mẩn sinh năm Ất Tỵ 1725, đỗ Nho Sinh trúng thức năm 19 tuổi, vì cụ đỗ cao được bổ chức huyện Úy huyện Thọ Sương, nhưng chỉ làm quan ít lâu rồi xin về nghỉ, tính cụ phong lưu, phóng khoáng, thích chơi ngâm vịnh những thú phong cảnh đẹp nơi ruộng vườn cây cảnh. Cụ mất ngày 15 tháng 10 năm Mậu Tuất 1778, tên hiệu là Cương Mẫn.Cụ bà họ Vũ, húy Loan, người làng Phùng Sá, huyện Thạch Thất, Sơn Tòng, con cụ Tiến Sĩ Vũ Đình Dụng là Đốc thị tỉnh Nghệ An, cụ sinh năm nào mất năm nào đều quên cả. Chỉ nhớ giỗ ngày 22 tháng Giêng. Hai cụ được 3 con trai, và cụ vợ lẽ được 2 con trai nữa. Ông con trưởng tức là Cụ Giáo Hiệu Hoẵng Nghị. Ông thứ 2 là Thân Cử, tức là tổ sinh bọn Ông Điền, và chú Trì, Hoãn vừa rồi là Tổ sinh bọn Ông Điền, và chú Trì, Hoãn vừa rồi. Ông thứ 3 tên là Đảng không con. Ông thứ 4 tên là Súy, nay hết con cháu rồi. Ông thứ 5 tên là Thận Cường, tứ là Tổ sinh ra các ông Tư Sóc, Trương Cánh, Ông Tỉnh, cá chú Cả Thiếu, chi các ông Tự, Biện Sự Đương Tinh, vừa rồi.
Đời XIII.
Cụ ông húy là Thận Vi, hiệu Hoàng Nghị sinh năm Đinh Sửu 1757, đỗ Nho Sinh trúng Thức năm 17 tuổi (khoa Giáp Ngọ 1774), vua Quang Trung bổ Cụ làm chức Thư Ký ở Cao Bằng, cụ đi làm được ít lâu thì cáo bịnh xin về. Cụ học giỏi chữ tốt, mất ngày 22 tháng 9 năm 70 tuổi.Cụ bà họ Trần húy Nga, người làng Cao Đỉnh, huyện Từ Liêm, con Cụ Trần Hải Liễn làm Hình Bộ Viên Ngoại. Cụ mất ngày 3 tháng 10, năm sinh năm mất đều quên, chỉ biết cụ thọ 105 tuổi. Hai cụ được 3 con trai. Ông Trưởng, húy Thận Đức, tục gọi là Cụ Hàn, vì Tổng Trấn Bắc Thành hồi đó là Ông Nguyễn văn Thành chiêu tập các văn sĩ xứ Bắc làm mục khách goi là Văn Hàn, cụ được mời vào. Cụ Hàn tức là cụ sinh chi các ông Đồ Dưỡng, Đương Từ, Cả Cháu. Ông thứ 2 tức là cụ Đồ hiệu là tỉnh Oa. Ông thứ 3 tên là Hựu, sinh năm Bính Ngọ, đỗ cử nhân Khoa Đinh Mão đời Gia Long, đến cuối năm Đinh Mão đó thì mất ngày 26 tháng 12, không có con.
Đời thứ XIV.
Cụ Ông húy là Trí, sau đổi là Thận Trọng, sinh ngày 15 tháng 6 năm Qúy Mão 1783, đỗ Tú Tài Khoa Đinh Mão đời Gia Long. Vì Tú Tài khi đó quen gọi là Sinh Đỗ, nên vẫn gọi cụ là Cụ Đỗ. Cụ người linh lợi, mắt rất tinh, dậy con cháu rất nghiêm, lễ phép. Cụ mất ngày 5 tháng 9 năm Ât Sửu 1865. Cụ lấy Cụ Trẻ họ Nguyễn húy Giám Trước, hơn 10 năm sau mới lấy Cụ Già họ Nguyễn húy Liễn. Cụ Già người Vân Điềm, con cụ Tri Huyện Nguyễn… Cụ Trẻ người Xã Thanh Liệt, làng Quang, huyện Thanh Oai.Cụ Già được 3 con trai. Ông Trưởng húy là Thận Dụng, đỗ Tú Tài tục gọi là Cụ Tú Quản, Cụ tài gồm Văn Vũ, đẫ được vua tôi Cai Vàng đón đi làm Quân Sư. Khi Cai Vàng thua chết, Cụ vì cớ là con cháu Cụ Tiết Nghĩa nên được tha. Con cháu cụ nay là chi Cụ Hậu Tảo bây giờ, có những các Ong Chất Miễu, Ông Hai Húc, Tư Kinh, Lý Sáu và chá anh BaĐương, anh Năm Triệu, anh Kính…v..v.. Ông thứ 2 húy là Mô sinh ra ông Đội Mỹ, các cháu là Ônh Vi, bà Giáo Miều, nay hết cả rồi. Ông thứ 3 húy là Đỉnh sinh ra Ônh Lý Thường, các con cháu cụ là bọn Ông Dị, Ông Cát, Ông Viêm. Cụ Trẻ được 1 con trai tức là Cụ Cử nhà ta.
Đời thứ XV.
Cụ Ông húy là Thận Cung, tự là Tư Đạo, hiệu là Lễ Hiên, sinh ngày 27 tháng 10 năm Đinh Sửu 1817, người cao lớn, mặt mày khôi ngô thanh tú, Cụ thông minh có tài học rộng chữ tốt, đỗ Cử nhân thứ 4 năm 25 tuổi, khoa Hội năm sau, cụ thi Hội đỗ thứ 5, nhưng Văn Kỳ thi Đình cụ rất hay mà bị vua xé quyển oan với quyển mấy người, thế là cụ chán sự đối đãi khinh rẻ của vua đối với học trò, cụ nhất định bỏ đường sĩ tiến, chỉ suốt đời chịu cảnh nghèo, đi dạy học ở vùng Sơn Tây, Vĩnh Yên và mất ngày 3 tháng 2 năm Canh Thân 1860. Cụ Bà họ Nguyễn húy Phước, người xã Xuân Lôi, tục gọi làng Dôi, huyên Võ Giòng, con Cụ Nguyễn Huy Bính, Cử Nhân, Đốc Học, sinh năm Kỷ Mão, và mất ngày 25 tháng 5 năm Bính Dần 1866. Hai cụ được 1 con trai, tức Cụ Cố nhà ta.
Đời thứ XVI.
Cụ ông húy là Vĩnh, tự là Bá Dự, sinh ngày 3 tháng 9 năm Nhâm Dần 1842.
Cụ người cao lớn mạnh mẽ, mặt mày vui tươi, linh lợi, người trên phải yêu quí, tính tình khoáng đạt hào phóng, người dưới phải mến phục. Cụ không những hào hoa, lịch sự, lại còn khảng khái, cương trực, nên trên thì các quan to đều có lòng trọng nể, mà dưới thì cả đến bọn tướng giặc cũng một lòng kính phục, bởi vậy tuy sống vào đời loạn mà vẫn được ung dung. Cụ rất thông minh, nhưng lúc trẻ phải bỏ dở sự học vì gặp cảnh nhà nhiều tai biến và tang tóc, liên miên, nhất là cụ sớm mắc chứng run tay không cầm cầm được bút viết. Năm Thành Thái thứ 10 (1904) cụ được sinh phong hàm Hàn Lâm thị Giảng, mấy ông bạn Thượng thư, Tổng Đốc khuyên cụ ra làm quan thì được bổ Tri Phủ, nhưng cụ không ra. Cụ mất ngày 15 tháng 10 năm Bính Thìn 1916. Cụ lấy Cụ Bà trước họ Nguyễn húy Ý, người Thiết Bình, làng Ngườm, con quan Bố Chính Hà Nội Ngyễn Chu Thuật, được 2 con trai. Ông Trưởng húy Liêm, tức là Cụ Đốc. Ông thứ 2 húy Chuyên ( ông nội của Đàm Thị Đán, Đàm Trung Thao, Pháp, Phán, Thang), tục gọi là Cụ Chắt, Cụ Bà rất hiền đức, lễ phép, tuy con một vị quan lớn và giầu có, nhưng rất kính trọng nhà chồng. Cụ sinh ngày 2 tháng 9 năm Tân Sửu 1841 và mấtt ngày 15 tháng 5 năm Kỷ Tỵ 1869, hiệu là Thục Hạnh.
Cụ Bà Thục Hạnh mất được 5 năm thì Cụ Ông lấy Cụ Kế thất họ Chu húy Lọ (sau đổi là Thọ), người lành Thanh Liệt (làng Quang), huyện Thanh Oai, Tỉnh Hà Đông Ở gần Hà Nội. Cụ Kế mất ngày 6 tháng 2 năm Ât Mão 1915, hiệu là Hậu Trực, Cụ Kế chỉ được 3 con gái là Bà Viên tục gọi là Bà Giáo Từ, Bà Khương, Bà Đổi, tục gọi là Bà Ấm Nành. Bà Viên lấy Ông Đặng Vũ Chiểu, người Hành Thiện Nam Định, được 7 con trai là các chú Giục, Khiêm, Tiềm, Giỏi, Lượng, Vân, Tích. Bà Khương (Bà Cô Tổ/Bà Tổ Cô thường hay phù hộ cho ĐT Phán, xin xem bài viết về Gọi Hồn của ĐT Phán ** ) không lấy chồng mất năm 29 tuổi. Bà Đổi lấy ông Nguyễn Tiến Ân, tục gọi Ông Ấm Cần, người làng Hiệp Phù, làng Nành, con ông Tuần Phủ Nguyễn Tân, được 1 trai là chú Ứng và 3 con gái là các co Nga, Thanh (tục goi là Nghé) và Thuận (tức là cô Cả Cự).Sau Cụ lại lấy thêm cô Hầu là bà Phạm thị Thủng được 4 con trai là các ông Hanh, Khánh, Kinh (tục gọi là ông Nhỡ), Thứ (tục gọi là ông Tít) và 2 con gái là bà Diễm, tục goi cô Trĩm và bà Gia, tục gọi cô Trĩm con. Bà Diễm lấy ông Lê Đình Phổ, người làng Thụy Lôi (tục gọi làng Nhội), nên còn tên là Bà Đồ Nhội. Bà Gia (trĩm con) lấy ông Nguyễn Châu, người Hiệp Phu, nên còn gọi là Bà Hai Châu.
Sau đây kể rõ các điều về các ông con trai cụ Bá Dự (cụ ông của Đàm Thị Đán, Đàm Trung Ba, Thao, Pháp, Phán, Thang) ghi thứ tự bằng số La mã).
- Ông Trưởng:
Húy là Liêm (trước là Bình), tự là Nguyên Lệ, hiệu là My Trang, sinh ngày 22 tnáng 12 năm Tân Dậu 1861. Cụ yếu nhưng rất thông minh, năm lên 10 mới bắt đầu học Tam Tự Kinh (quyển sách vỡ lòng học chữ nho lúc trước), mà năm 15 tuổi đã làm được thơ phú (2 lối văn vần rất khó làm), năm 19, 20 tuổi đã nổi tiếng văn hay. Năm 25 tuổi đỗ Cử Nhân khoa Bính Tuất 1886. Khoa thi Hội Kỷ Sửu 1889 cụ đỗ Á Nguyên kỳ thi Hội, nức tiếng về bài Phú Tam Hòe đường được 7 phân, là bài phú thi Hội hay nhất triều Nguyễn, văn kỳ thi Đình của cụ cũng rất hay đáng lẽ được đỗ đến Thám Hoa, Bảng Nhỡn, nhưng vì ở câu cuối bài văn sách cụ vô ý viết sót mất 1 chữ mà bị hỏng tuột. Năm sau cụ được bổ Giáo Thụ phủ Lý Nhân ở Hà Nam, cụ đã bỏ không thi Hội khoa Nhâm Thìn 1892. Đến khoa Hội Ất Dậu 1895, vì quan Thượng Thư Hoàng Côn, tiếc tài của cụ, khuyên cụ cố thi, cụ mới miễn cưỡng đi. Tuy cụ bỏ nghề văn chương đã lâu, mà khoa này cụ đỗ Tiến Sĩ vẫn dễ dàng lắm. Đỗ Tiến sĩ rồi, cụ xin ra Huế làm quan với Nam Triều, tuy quyền lợi thiệt hơn làm quan ở Bắc Kỳ nhiều, nhưng vì cụ tránh tiếng làm quan với Tây. Năm 1898 cụ được bổ Đốc Học Khánh Hòa. Năm 1906 cụ được đổi về Đốc Học Thanh Hóa. Mấy năm sau đó, phép thi ta đổi mới, bỏ cả thơ phú, kinh nghĩa, là 3 thứ văn quí nhất, cho nên cụ sinh lòng chán nản cho nền Hán học, sắp bị suy tàn, rồi cụ suy yếu dần và đến năm Kỷ Dậu 1909 thì cụ mất vào ngày 29 tháng 2 dư.Cụ lấy cụ Bà họ Vũ, húy Thực, người làng Hoàng Mai, làng Mơ, con Cụ Tú Vũ như Trân, cháu cụ Nghè Vũ như Phiên, sinh được 6 con là các ông bà: 1) Thị Hinh, tục gọi là Tú Thanh, vì lấy ông Tú Tài Nguyễn Trinh Đàn, người làng Hương Khê, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoa. 2) Duy Tập. 3) Duy Huyên. 4) Thị Phùng, tục gọi là Bà Sét, vì lấy ông Nguyễn Văn Ngọc, con thứ 3 Cụ Đốc học Nguyễn Nhiếp, người làng Thịnh Liệt, tụ gọi làng Sét. 5) Duy Hân. 6) Thị Nhã, tục gọi Cô Bẩy, sau gọi Cô Giáo Ngọc, vì lấy ông Nguyễn Văn Ngọc, Thanh Tra tiểu học Bắc Kỳ hồi Pháp thuộc.
Hồi Giáo thụ ở Phú Lý, Cụ lại lấy cụ trẻ họ Nguyễn húy Huân, người làng Bạch San tỉnh Hà Nam, được 1 trai là Duy Trước và 1 con gái là Thị Chức, tục gọi cô Tư Tầu, vì lấy Ông Búc Tầu, con thứ tư Cụ Tuần Phú Bùi Bành ở làng Thịnh hệt.Dưới đây kể rõ các ông con trai cụ Đốc và các cháu chắt:
A) Ông Duy Tập tự là Bá Canh (1888-1918), đỗ Tú Tài chữ nho, mất ngày 25 tháng 8 ta, lấy Bà Nguyễn Thị Nga ở Nội Duệ được 3 gái: Hạc, Cáp, Tích và 1 trai Tăng. Con trai Ông Tăng là Hiếu Cường, Hiếu Luyện, Hiếu Thiết…B) Ông Duy Huyên, tự là Thúc Hoa (1890-1945) làm Tuần Phủ, lấy bà Nguyễn thị Thi ở Nội Duệ được 9 con trai và 5 con gái là: Trung Trường, Trung Lãng, Trung Thiện, Trung Hào, Trung Đường, Trung Bảo, Trung Lưu, Trung Canh, Trung Đồn, Thị Hải, Thị Quan, Thị Dân, Thị Ninh, Thị Phú.Ông lại lấy bà vợ lẽ là Nguyễn thị Tiểu dược 3 trai, 2 gái là Trung Phường, Trung Kiên, Trung Cố, Thị An, Thị Đoài.
Ông còn lấy cô hầu là Thị Thái, được 1 trai là Trung Giai.Các lũ cháu nội là:Thị Sơn, Thị Hà con anh Trường.Hiếu Đoán, Hiếu Cẩn con anh Lãng.Hiếu Chiến, Hiếu Thắng con anh Thiện, Hiếu Hùng, Hiếu Cường, Thị Vân, Thị Dung, Thị Mai, Thị Hạnh, các anh kia con Ông Tuần, đều ở Bắc cả, không biết con cái ra làm sao.
C) Ông Duy Hân tự là Thúc Cảnh, tục gọi ông Ba Hân (1894-1955), lấy bà Nguyễn thị Chuyên ở Nội Duệ, sinh 6 trai là Trung Thản, Trung Đê, Trung Thành, Trung Quân, Trung Kỳ, Trung Sách. Sau khi góa vợ, ông lấy thêm bà vợ lẽ ở Làng Sinh 1 trai là Trung Phụ và 2 gái là Thị Phong, Thị Quý.
Các cháu nội của Ông Ba Hân là:Hiếu Trung, Thúy Anh, Trân Châu, Thị Ngà, Thị Thanh con anh Thản.Hiếu Chinh con anh ĐêHiếu Nhương, Thị Lê con anh Thành.Hiếu Nhuệ con anh Quân.Thị Dung, Thị Trà con anh Kỳ.D) Ông Duy Trước, tự là Thúc Tiềm (1887-1969) tục gọi ông Giáo Sáu, lấy bà Nguyễn thị Thi người làng Đa Ngưu, huyện Văn Giang, Bắc Ninh, sinh 2 con trai và 6 con gái là: Thị Đông, Trung Tường, Thị Hương, Thị Thục, Thị Trinh, Thị Khiết, Thị Túc, Trung Chí.
Các cháu nội ông Giáo Sáu là:Hiếu Phong, Hiếu Đức, Hiếu Dũng, Hiếu Hạnh, Hiếu Đạo, Thị… con anh Chí.Các cháu ngoại Ông Giáo con các chị Thục, chị Trinh, chị Hương, chị Khiết, chị Túc, có đến mười mấy người, nhưng không nhớ tên.
2. Ông thứ 2 tức là Cụ Chắt ( Ông nội của Đàm Thị Đán, Đàm Trung Ba, Thao, Pháp, Phán, Thang): Xem đời XVII ở dưới
3. Ông thứ 3 tức là Cụ Cửu Hanh, vì Thủ-Bạ được thưởng hàm Cửu Phẩm, nên gọi là Ông Cửu, lấy bà Lê Thị Dậu ở Nhội (tức là em chồng bà Trĩm) sinh 4 trai và 3 gái là chú Vân, Toại, Sính, Tiêm và các cô Hấp, Cõn, Tường.Chú Vân chết sớm, chưa vợ con.Chú Toại lấy vợ họ Nguyễn ở Phù Khê, sinh Trung Tiêu, Trung Khiển.Bốn chú này đều ở Bắc cả, không biết con cái còn ai nữa.Cô Hấp không có con. Các con cô Cõn và cô Tường đều ở Bắc, nay quên cả tên.
4. Ông thứ 4 tên là Khánh, lấy vợ họ Nguyễn ở làng Ngọc Lôi (làng Lối, gần làng Me) được 3 trai và 1 gái là các chú Hưu, Khuếch, Phúc và cô Thanh.Chú Hưu rất hiền lành, nhưng hồi năm 1949 người Pháp tấn công vào làng, bắt đi mất tích.Chú Khuếch hiện (1974) làm đại úy ngành Cảnh sát ở Saigon, có vợ và nhiều con nhưng không biết tên.Chú Phúc tục gọi chú Khoác, hiện (1974) làm trung sĩ ở Gia Định có vợ và 3 con gái, không biết tên.Cô Thanh lấy chồng người làng Phù Ninh cùng huyện với làng Me, nay có vào Nam, chồng đã chết và có nhiều con, nhưng không hỏi tên.
5. Ông thứ 5 tên là Kinh, tục gọi ông Nhỡ lấy vợ người làng Vĩnh Phục (Yên Phong), Bắc Ninh, nay cả 2 ông bà đều đã chết, có 2 con trai là chú Hương, chú Đình đều ở Bắc và 4 con gái là cô Hà, cô Xuân, cô Thu, cô Chi. Cô Xuân hiện (1974) ở Saigon chồng là Đại Úy Hùng, và có 10 con trai gái đều đẹp đẽ khỏe mạnh, và đều quên cả tên.
6. Ông thứ 6 tên là Thứ, tục gọi ông Tít, lấy vợ ở làng Cói Hội phụ (1 làng văn học ở phủ Từ Xa), được 1 gái là cô Phú, và 1 trai là chú Hữu hiện nay (1974) đều ở Bắc cả, và được tin Ông Tít đã mất rồi.
Đời thứ XVII (Ông nội của Đàm Thị Đán, Đàm Trung Ba, Thao, Pháp, Phan, Thang…)
Cụ ông húy là Chuyên, tự là Tỉnh Giả, hiệu là Quả-Nghị, sinh ngày 28 tháng 3 năm Giáp Tý đời Tự Đức (1864) và mất ngày 19 tháng 10 năm Kỷ Tỵ 1929. Cụ rất thông minh và có trí nhớ lạ lùng, nhưng tiếc thay lên đậu hỏng mắt ngay từ lúc lên 7 tuổi. Cụ tuy thất học nhưng được nghe cụ Đốc dạy học ở nhà ít lâu, nên nghĩa lý chữ nho cụ hiểu nhiều và nhớ nhiều, nhất là những thơ và câu đối các quan mừng cụ Đốc giảng cho nghe, cụ đều nhớ, cả mãi đến khi gần mất, cụ đọc lại vẫn không lầm chữ nào. Cụ ăn ở trung hậu, nói năng khúc triết, phải lẽ, gặp việc khó xử, nhiều người phải ý cụ. Cụ có trí rắn rỏi quả quyết, lại có tài định liệu, điều khiển các công việc, tuy cụ xấu mắt, ngồi một chỗ, nhưng công việc trong nhà, trong họ phần nhiều do cụ chủ trương cất đặt và cụ đều quán xuyến đầu duôi, đâu vào đó cả. Khiếu tính toán và tài suy nghĩ mẹo mực về đường công nghệ của cụ cũng khó người bằng. Vì tài tính toán lại nhớ nhiều, kinh nghiêm nhiều nên những công việc làm nhà cửa, nghe kể kích thước rồi, cụ chỉ nhẩm trong nửa giờ là ra ngay số gỗ, gạch vôi ngói và công thợ. Mỗi khi Cụ Đốc nói chuyện với các quan bạn về tài trí thông minh của ông em, cụ thường tỏ vẻ thương tiếc nghậm ngùi. Cụ Đốc đi làm quan vắng, vẫn giao cho cụ phiên xử việc làng, đều được êm thắm cả, ai cũng vui theo. Cụ suốt đời làm ăn cần kiệm, có chí nuôi con cháu nối nghiệp học hành. Cụ thật là một tấm gương cần kiệm, khảng khái, trọng nghĩa, khinh tài.Cụ bà họ Chu, tên Kim, người làng Thanh Liệt, dòng dõi vị đại nho Chu văn An đời Trần. Cụ sinh năm Giáp Tý 1864, mất đêm hôm ngày 27 tháng 10 năm…
Cụ hiền lành thực thà, về làm bạn với cụ ông từ hồi 17 tuổi. Lúc mới về làm dâu, cụ vẫn ở với Cụ Kế ở Hà Nội (vì cụ là cháu gọi cụ Kế bằng cô con nhà chú). Sau cụ theo cụ ông về ở quê ngoại ở làng Ngườm với cụ Lớn Ngườm là bà Ngoại. Cụ Lớn thấy cháu dâu hiền ngoan, có lòng yêu lắm, nên sau cụ theo về Me cùng ở với hai vợ chồng cháu, cho mãi đến khi gần mất mới cáng cụ về mất ở nhà thờ cụ Lớn Ông ở Ngườm.Hai cụ có 3 trai và 2 gái là: Duy Viễn, Duy Quỳ, Thị Tuyết, Duy Tạo và Thị Tề, kể theo thứ tự A B C D E dưới đây. 1.Duy Viễn, tự Cậu Chi, hiệu Cẩn Tín, sinh năm Quý Mùi 1883, mất ngày 25 tháng 5 năm Giáp Thân 1944. Ông tài hoa, văn hay, chữ tốt, vẽ khéo, nhưng tính lười, chậm, nên thi hỏng mãi. Ông lấy bà Ngô thị Lai con cụ Ngô văn Quí ở làng Lộc Hà, Phủ Từ, được 5 con gái là Thị Lưu, Thị Thước, Thị Bằng, Thị Hoàng,Thị Âu.Thi Lưu, tục gọi chị Ba Thông, vì lấy cậu Đỗ quý Thông, con thứ 3 cụ Tú Tài Đỗ Trúc ở làng Mão Điền, Bắc Ninh, không con.Thị Thước, tục gọi chị Cả Cói, lấy cậu Đỗ Ngọc Oánh ở làng Cói Thái Đường, được 1 trai là Đỗ ngọc Giao, cử nhân về Nhân Chủng học, hiện (1974) làm việc ở Saigon, con gái là Tiệp, chết lúc trẻ.Thị Bằng, tục gọi là chị Hai Kiềm, lấy cậu Thẩm trọng Kiềm ở Cự Linh, Gia Lâm, không có con chết năm 1952.Thị Hoàng, cũng lấy anh Ba Thông, được 4 gái là Uyển Như, Tố Như, Hảo Như và Diễ Như và 4 trai là Nam, Dân, Thiện,…Thi Âu mất sớm, chưa có chồng. 2.Duy Quỳ, tự là Tử Trung, hiệu là Phác Trực, sinh năm Canh Dần 1890, mất ngày 17 tháng 7 năm Ất Dậu 1945. Ông làm ăn chăm chỉ, khóe những nghề thủ công, tính rất cương trực, được nhiều người tin cậy. Lấy bà Nguyễn thị Phức, người làng Dương Sơn (làng Trõ, cách làng Me độ 3 cây số), sinh được 3 trai là Trung Mộc, Trung Mạc, Trung Giang và 4 gái là Diếu, Minh, Quyên, Oanh.Những cháu nội của Ông Duy Quỳ: Thị Phương, Thị Dung, Hiếu Nghiệp, Thị Phi, Hiếu Quyên, Hiếu Quả, Hiếu Cảo, Thị Loan (con anh Mộc), Thị Yến, Thị Hằng, Hiếu Bản, Hiếu Bảo, Hiếu Tông, Hiếu Long.
3.Thị Tuyết tức là Cô Tư Sét, lấy ông Tư Sét được 1 gái là Quyến.4.Thị Tề, tục gọi cô Thừa, lấy ông Phan đình Tiến làm Thừc Phải, người làng Dặng Xá gần đô thành Bắc Ninh. Cô Tề được 2 trai là Đống, Tùng và 1 gái Thị Đào.
5. Đàm Duy Tạo (Thân phụ của Đàm Thị Đán, Đàm Trung Ba, Thao, Pháp, Phán, Thang)
Tạm Kết
Dưới đây xin chép lại bài thơ “Bài Hàng”, mỗi chữ là một chữ đệm (middle name) cho một đời (generation) của con trai giòng họ Đàm.
維 忠 孝 傳 家
Duy Trung Hiếu Truyền Gia
尚 勉 思 繼 紹
Thượng Miễn Tư Kế Thiệu
善 衍 吉 慶 長
Thiện Diễn Cát Khánh Trường
先 德 有 光 耀
Tiên Đức Hữu Quang Diệu
Các chữ đệm này, với ý nghĩa của chúng, đã được diễn nôm trong bài thơ Bày Hàng dưới đây. Bài thơ này đã được khắc trong tấm bia đá mà chúng tôi đã may mắn chụp hình lại trong chuyến về thăm làng Hương Mặc năm 2005 .
DIỄN NÔM BÀI HÀNG
Nhà ta dòng dõi hiếu trung
Gắng công truyền nối dốc lòng chớ sai
Khéo ăn ở phúc lâu dài
Rõ ràng công đức mọi đời tổ tông
Đàm Duy Tạo
Có nghĩa là họ nhà ta đời nọ truyền cho tới đời kia chỉ có đạo trung hiếu. Ta mong rằng ai cũng nghĩ cách nối dõi cho xứng đáng. Ta phải khóe ăn ở theo đạo ấy thì mới được hưởng phúc lành lâu dài. Các công đức của tổ tiên nhờ đó sẽ được vẻ vang rực rỡ thêm.
Giải Thích:
<1>, <4>Hiệu hay Thụy là tên đặt lúc mất rồi để cúng.
<2> Húy là tên chính đặt từ lúc nhỏ.
<3> Truy phong hay truy tặng là chức tước vua Phong cho sau khi chết rồi.
<5> Ấm Thụ là quan hàm phong cho con cháu một quan to.
<6> Tự là tên đặt để gọi thường thay tên húy.
<7> Câu kết luận ấy là: Tố Ngã triều Liệt Thánh chỉ sở vi, “vô” phi Nghiêu Thuấn, Vũ Thang, Văn Vũ chi đạo giả. Nghĩa là: Xét lại các việc của các vua Triều ta làm không việc gì, là không phải đạo của các vua Nghiêu Thuấn, Vũ Thang, Văn Vũ vậy. Vì cụ bỏ sót chữ “Vô”, thành ra nghĩa ngược lại. Khen hóa chê. Đáng lẽ cụ bị tội to, nhưng vì văn hay lắm, nên được miễn nghị.
Trương Minh Ký, Sài Gòn
Ngày 16-6-1974
Đàm Duy Tạo
(* ) https://kimvankieu.wordpress.com/
(**) http://chimviet.free.fr/truyenky/damphan/caydaloicu/dtpn051.htm
Download toc-pha-tap-1-bac-ninh-ban-in-ra-giay-lan-thu-3Download DownloadShare this:
- X
Related
Từ khóa » Họ đàm Là Người Dân Tộc Gì
-
Đàm (họ) – Wikipedia Tiếng Việt
-
Họ Đàm Việt Nam ❤️️ Lịch Sử, Nguồn Gốc, Gia Phả ... - Tên Hay
-
Gốc Tích Họ Đàm
-
Nhà Thờ Họ Đàm - Di Tích Lịch Sử - Lễ Hội - Huyện Gia Lâm
-
PHỤ LỤC 1: CÁC CHI HỌ ĐÀM VIỆT NAM (BẢN BỔ SUNG)
-
Khám Phá Từ đường Đàm Công Và Những Danh Nhân Họ Đàm - VOV
-
Đàm (họ): Họ (譚) - Wiki Tiếng Việt - Du Học Trung Quốc
-
Đàm Minh Hoà - Kính Gửi Các Quý Vị Họ Đàm. Sau Khi Cụ Đàm...
-
DÒNG HỌ ĐÀM - Home | Facebook
-
Họ Đàm Việt Nam ❤️️ Lịch Sử, Nguồn Gốc, Gia ...
-
Các Dân Tộc Thiểu Số Tỉnh Thanh Hóa Trang Thông Tin điện Tử Ban ...
-
DANH NHÂN XỨ THANH - CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH ...
-
Ghi Lại Cuộc đối Thoại Của Hai ông Tiến Sĩ Họ Đàm
-
Tiết Nghĩa Đại Vương Đàm Thận Huy