Ly Giai Qua Can Khon, Tran Van Rang

Ngay trong năm đầu (1926) giáng cơ dạy Đạo, Đức Chí Tôn đã xác nhận Ngài đã tạo ra vũ trụ và thống ngự vạn vật. Đức Chí Tôn dạy thờ Ngài như sau :

    "Một quả CÀN KHÔN như trái đất tròn quay. Bề kinh tâm (đường kính) 3,33 mét, sơn màu xanh da trời. Cung Bắc Đẩu và tinh tú vẽ lên quả Càn Khôn. Thầy kể Tam thập lục thiên, Tứ đại Bộ châu ở không không trên không khí, còn Thất thập nhị địa, Tam thiên thế giới đều là tinh tú. Tính lại 3.072 ngôi sao, con liệu vẽ lên đó cho đủ; trên sao Bắc Đẩu con vẽ con MẮT THẦY (Thiên Nhãn). Đáng lẽ, quả Càn Khôn phải bằng pha lê, đúc bên trong một ngọn đèn thường sáng. Ấy là lời cầu nguyện rất quý báu cho cả nhơn loại" (Đàn cơ đêm 17/6/1926)

Xem thế, quả Càn Khôn không phải chỉ là Trái Đất (Khôn) mà gồm cả Thiên Cầu (Càn) trùm lên nhau biểu tượng âm dương hiệp nhứt : "Nhất âm, nhất dương chi vị đạo". Vậy Đạo bao gồm cả Aâm Dương mà âm dương là Thái Cực mà Thái Cực là ngôi Đức Cao Đài. Chung qui thờ quả Càn Khôn là thờ Đức Chí Tôn, thờ âm dương là thờ sự biến dịch của vạn loại. Đó là triết lý cao khiết về mặt tôn giáo và cả khoa học nữa. Bởi lẽ, đời người ngắn ngủi, con người chỉ là hiện tượng nhất thời phát sinh do tác động giữa âm dương mà sinh thành. Nguyên tử cũng chỉ do sự hóa hợp điện tử âm (e'lectron) và điện tử dương (proton) mà sinh thành. Tất cả mọi việc trong vũ trụ đều lấy Càn (dương), Khôn (âm) làm điều kiện cơ bản.

Mục lục Top of Page

1. Càn Khôn là gì ?

    Cơ sanh hóa Càn Khôn đào tạo Do Âm Dương kiệp đạo biến thiên

Càn Khôn là Đạo, là Thái Cực, mà "Đạo sinh nhứt, nhứt vi Thái Cực" (Thiệu Tử - Văn Ngũ Lục). Lý giải đơn giản hơn thì :

CÀN ( ) là Trời, là vua, là cha, là chồng, là đầu, là cứng (càn kiện cao minh), là lãnh đạo, là vàng, là băng, là đỏ thắm, là thiên thể.

KHÔN ( ) là đất, là nhân dân, là vợ, là mẹ, là thuận tòng, là mềm, là sắc vàng, là văn, là bụng…

Càn Khôn là âm dương trong trời đất "Một âm một dương quanh đi quẩn lại như cái vòng tròn không đầu mối. Nói rằng Âm dương chỉ là MỘT (Thái Cực) cũng được, mà bảo là âm dương thiên biến vạn hóa vô cùng tận cũng được" (Nhất âm nhất dương như hoàn vô đoan. Vị âm dương chỉ thị nhất cá khả; vị âm dương khước thị thiên biến vạn hóa nhi vô cùng diệt khả) (HỒ CƯ NHÂN, Dịch Tương Sao, Quyển II, trang 8)

Chu Hy trong "Chu Dịch Bản Nghĩa" giải thích cụ thể hơn : "Hoàng đế, Nghiên Thuấn rũ áo xiêm mà thiên hạ trị; đó là lấy tượng ở quẻ Càn, quẻ Khôn" (Hoàng Đế, Nghiêu Thuấn thùy y thường nhi thiên hạ trị, cái thủ như Càn Khôn)

Trong Dịch Hệ Thượng (Chương IV), Chu Tử chú giải về Càn Khôn như vầy : "Đạo Dịch chỉ là Âm (Khôn) với Dương (Càn) mà thôi. U uẩn hay rõ ràng, sống hay chết, quỷ cũng như Thần, tất cả đều là biến tướng của âm dương, là cái Đạo của Trời Đất". Và ông quả quyết : "Cái khí (mà khoa học gọi là E'THER) bàn bạc khắp trong trời đất để biến hóa tạo lập ra muôn loài, thực ra chỉ là hai khí âm dương trước sau, suy thịnh mà thôi". (Doanh Thiên Địa chi gian, sở dĩ vi tạo hóa giả, âm dương nhị khí chi thủy chung thịnh suy nhi dĩ). Đức Chí Tôn cũng dạy : "Đạo Thầy không chi lạ, không ngoài hai lẽ âm (Khôn) dương (Càn)".

Như vậy, hai động lực căn bản tạo thành vũ trụ là âm dương. Nếu dương cực thì âm sinh, âm cực thì dương sinh. Khoa vật lý cũng chứng minh rằng : một nguyên tử có hai yếu tố căn bản là âm điện tử (électron) và dương điện tử (proton) hoạt động nhộn nhịp chớ không im lìm. Nếu nguyên tử chỉ có thuần một âm tử hay dương tử thì nguyên tử ấy chằng thể nào phóng xạ sinh hóa được. Giả dụ, nếu mạch điện bị cắt một dây âm hay một dây dương thì không thể nào tạo ra điện năng được. Như thế, âm dương không thể tách rời. Âm dương chỉ là hai trạng thái tịnh động của Lý Thái Cực, chu hành trong vũ trụ cũng tác động với nhau để biến hóa vạn vật.

Chung qui, "Đạo vốn chỉ một âm, một dương mà thôi". Trước sau, đầu mối, động tịnh, tối sáng, trên dưới, tiến lui, qua lại đóng mở, đầy vơi, tiên trưởng, tôn ti, quý tiện, biểu lý, ẩn hiện, hướng, bội, thuận nghịch, tồn vong, đắc thất, xuất nhập, hành tàng, có cái gì thích hợp mà chẳng phải một ÂM một DƯƠNG ?" (TRẦN THÚC LƯỢNG và LÝ TÂM TRANG, Tống Nguyên học án, quyển 3, trang 643) Vậy "vật có gốc ngọn, việc có trước sau" và có "biết được trước sau mới gần được Đạo" (TIỀN MỤC, Tứ Thư thích nghĩa, Tập II, trang 2).

Mục lục Top of Page

2. Kinh Dịch giải về Càn Khôn ra sao?

Trong Kinh dịch phần Thoán truyện do Đức Khổng Tử viết có đoạn : Đức nguyên, Càn lớn, vạn vật bắt đầu từ Càn (nảy nở) thống cả Thiên Đạo, Càn làm mây mưa khiến cho vạn vật hình thành sinh trưởng. Bậc Thánh Nhân thấy cả trước sau, cả 6 hào của quẻ thuần Càn ( ) , mỗi hào có 1 vị nên thuận thời mà hành Đạo như cưỡi 6 rồng (ám chỉ 6 hào dương của quẻ thuần Càn) mà thống ngự cả vùng Trời. Đạo Càn biến hóa khiến cho mọi vật giữ được tính Trời ban, giữ cái nguyên khí cho Thái hòa. Bậc Thánh Nhơn đứng đầu muôn vât, theo Đạo Càn thì muôn nước đều bình an" (Đạt tai càn nguyên, vạn vật tư thủy nãi tống thiên, ận hành vũ thí phẩm vật lưu hình. Đại minh chung thủy, lục vị thời thánh, thời thừa lục long dĩ ngữ thiên. Còn Đạo biến hóa, các chánh tính mệnh, bảo hợp thái hòa nãi lợi trinh, thủ xuất thử vật, vạn quốc hàm ninh).

Đạo Càn Khôn theo Kinh Dịch như sau : Theo quẻ thuần Càn thì Càn có 4 đức tính : nguyên (đầu tiên), hanh (thông), lợi (thích đáng), trinh (chính bền). Trời có đức nguyên vì là ngồn gốc của vạn vật, có đức hạnh vì làm ra mây mưa để cho vạn vật sinh trưởng, có đức lợi trinh vì biến hóa làm cho mọi vật giữ được bẩm tính và nguyên khí đặng thái hòa. Càn còn tượng trưng cho người quân tử với 4 đức tính nhân, nghĩa, lệ, trí.

Chu Công giải nghĩa 6 hào của quẻ thuần Càn thành 6 rồng, con vật ngự của Đức Chí Tôn như sau :

HÀO ĐẦU : Rồng còn ẩn náo chưa (đem tài) dùng được (tiềm long vật dụng), tức rồng còn dưới vực sâu chưa lên mây nên chưa biến hóa được.Ý nói : người chưa gặp thời thì nên trau dồi hạnh đức, luyện thêm tài trí, ở ẩn, không cầu danh, không ai biết mình thì cũng chẳng buồn.

HÀO HAI : Rồng đã hiện ở cánh đồng, ra mắt đại nhân thì lợi (hiện long tại điền, lợi kiến tại nhân). Người giúp đời mà không khoe công lao, giữ được lòng thành tín và được trung chánh gặp đại nhân thì lợi.

HÀO BA : Người quân tử suốt ngày hăng hái tự cường, đến tối vẫn còn thận trọng, dù nguy hiểm nhưng không tội lỗi (quân tử chung nhật, càn càn tịch tịch nhược. Lệ vô cửu). Người quân tử giữ lòng trung tín mà tiến đức lập ngôn, lấy lòng thành lập sự nghiệp. Ở địa vị cao mà không tự kiêu, ở địa vị thấp mà không lo lắng. HÀO BỐN : Như rồng có khi bay lượn, có khi nằm vực, tùy thời mà khônh lầm lỗi (hoặc được tại uyên vô cửu) Thận trọng tùy thời cơ, nên tiến thì tiến (như rồng bay) nếu không thì chờ đợi (rồng nằm vực) chuẩn bị cho kịp lúc ra giúp đời.

HÀO NĂM : Rồng bay lên trời ra mắt đại nhân thì lợi (Phi long tại thiên lợi kiến đại nhân). Mây bay theo rồng, gió bay theo cọp. Ý nói thánh nhân ra đời người người trông theo.

HÀO CUỐI : Rồng lên cao quá có hối hận (kháng long hữu hối). Rồng bay cao quá khó xuống, nếu hành động sẽ xảy ra điều đáng tiếc vì cực thịnh tắc suy nên lui bước để giữ đạo người quân tử.

Trên đây, quẻ thuần Càn dạy người Nam, dưới đây quẻ thuần Khôn ( ) dạy người nữ. Thật ra cả hai quẻ Càn Khôn đều dạy chung con người.

Đạo Khôn có đức đầu tiên và lớn, hanh thông, thích đáng, đức chính và bền của con ngựa cái (nguyên hanh lợi tần mã chi trinh) vì Văn Vương cho con ngựa cái có tính thuận theo đực, như Khôn thuận theo Càn.

HÀO SƠ LỤC : (dưới) Sáu là tên hào âm. Sương là khí âm kết lạ. Aâm thịnh thì nước đóng cục thành váng. Hào này là âm mới sinh nên ở dưới.

HÀO LỤC NHI : Hài sáu hai mềm thuận mà trung chính, nên đức tính của nó trong thẳng ngoài vuông, lại thịnh lớn nên không cái gì là không lợi.

HÀO LỤC TAM : Hào sáu ba thuộc dương bên trong ẩn văn vẻ tốt đẹp, nhưng ở trên lục nhị nên không thể ẩn tới cùng.

HÀO LỤC TỨ : Cẩn thận kín đáo như thắt chặt miệng túi nên không lỗi. Hào này hai lần âm nên khó khen.

HÀO LỤC NGŨ : Cái đức trung thuần đầy mà hiện ra ngoài nên nói "quần vàng cả tốt".

HÀO THƯỢNG LỤC : (Trên hết) Âm cực thịnh nên tranh nhau với dương nên nói "rồng đánh nhau ở đồng đều bị thương".

Quẻ Khôn cả 6 hào đêu âm nên đều biến thành dương mới vĩnh viễn chính đính.

Càn tạo ra vạn vật ở cõ vô hình thuộc khí, mà phải nhờ Khôn, vạn vật mới tượng hữu hình rồi sinh trưởng. Cho nên công của Khôn (Mẹ) cũng lớn như công của Càn (Cha) chỉ khác là Khôn phải ở sau Càn, tùy theo Càn, bổ túc cho Càn. Thế nên, các đức nguyên, hanh lợi, Khôn có đủ như Càn. Riêng về đức trinh thì Khôn hơi khác : tuy chính và bền mà phải thuận.

Chính vì Khôn có đức thuận mà mọi việc khởi xướng đều là Càn. Khôn chỉ tiếp tục công việc của Càn. Người đời nếu ở địa vị Khôn thì phải tùy theo người trên mà làm, không nên khởi xướng mà lầm lỡ. Như thế, Đức Mẹ chở được vạn vật cũng lớn sánh bằng Đức Cha.

Thế thì, người xưa "Thấy Trời cao, đất thấp mà lập ra Càn khôn động và tĩnh nhất định nhờ đó mà phân biệt cương nhu". (Thiên tôn, địa ti, Càn Khôn định hĩ, động tĩnh hữu thường, cương nhu hoán hỉ. Hệ Từ Thượng Truyện )

Tóm lại, "Đạo Càn lúc tĩnh thì chuyên nhất, lúc động thì tiến thẳng, cho nên sức sinh của nó lớn; Đạo Khôn lúc tĩnh thì thu lại, lúc động thì mở ra, cho nên sức sinh của nó rộng" (Phù Càn kỳ tĩnh dã chuyên, kỳ động dã trực, thi dĩ đại sinh yên. Phù Khôn kỳ ĩnh dã hấp, kỳ động dã tịnh thị dĩ quãng sinh yên. Hệ Từ Thượng Truyện, chương 6).

Nói cách khác, "Đạo Càn mạnh nhất trong thiên hạ, đức hạnh của Càn là làm việc gì cũng dễ dàng, bình dị mà vẫn biết được chỗ nguy nạn. Đạo Khôn nhu thuận nhất trong thiên hạ, đức của nó đơn giản mà vẫn biết được nơi trắc trở" (Phù Càn thiên hạ chi khí kiện dã, đức hạnh bằng di, dĩ tri hiếm. Phù Khôn, thiên hạ chi khí thuận dã, đức hạnh bằng giản, dĩ tri trở - Hệ Từ Thượng Truyện, chương 12).

Qua lý giải trên ta nhận rằng : ĐỨC CHÍ TÔN chọn quả CÀN KHÔN tạo Thiên Nhãn làm ngôi thờ thiêng liêng cho toàn Đạo đã nói lên ý tưởng cao xa huyền nhiệm vô biên. Càn Khôn biế đổi vô thường như Dịch Lý, không ngừng tạo ra vạn loại và "thống ngự vạn vật" vô thủy vô chung.

Xem thế, "Sự biến dịch của Càn Khôn uẩn ảo quá ? Khi Càn Khôn hình thành thì đã có dịch ở trong. Nếu Càn Khôn bị hủy thì không thể có dịch, nếu dịch không thể phát hiện thì Càn Khôn tắc nghỉ" (Càn Khôn hủy tắc vô dĩ hiện dịch, dịch bất khả hiện, tắc Càn Khôn hoặc cơ hồ hỉ) (CHU HY, Chu dịch Bản Nghĩa, Hệ Từ Thượng, Chương XII)

Muốn Càn Khôn (âm dương) không xung khắc phải theo học thuyết Trung Dung của Đức Khổng Tử mà Albert Einstein gọi là "Thuyết tương đối". Ấy là đại biểu cho tính sáng tạo của khoa học hiện đại và cá tính thống nhất (TRƯƠNG KỲ QUÂN, Trung Hoa Ngũ thiên niên sử, quyển II, Chương XII, trang 25). Trong Hệ Từ Thượng, Khổng Tử viết "Thiên hạ cùng qui về (tuy khác đường) một mối mà trăm lo" và trong Hệ Từ Hạ, Ngài viết : "Đạo cùng đi mà chẳng chống đối nhau, muôn vật nuôi nhau mà chẳng hại nhau" (Đạo tịnh hành nhi bất tương bội, vạn vật tịnh dục nhi bất tương hại) (CHU HY, Sđđ, Hệ Từ Hạ)

"Đạt được trung hòa thì trời đất định vị, muôn vật đều hóa dục… Trung là gì ? Trung là cái gốc lớn của thiên hạ. Hòa là gì ? Hòa là sự đạt Đạo của thiên hạ" (Trí trung hòa, thiên địa vị yên, vạn vật dục yên… Trung dã giả, thiên hạ chi đại bản dã. Hòa dã giả, thiên hạ chi đạt Đạo dã). Đạo đó là Đạo trung dung mà Đức Khổng Tử cho là không thể phút iây nào rời xa được (Đạo dã giả, bất khả tu du ly dã) (Tiền mục, Tứ Thư thích nghĩa, Tập II, trang 35-36)(4) Đạo Trung Dung quan trọng như vậy nên vua Thuấn phải dặn dò ông Vũ : "Lòng người dễ khuynh nguy, lòng mến Đạo lại yếu, cho nên phải xét cho tinh một mực mà quyết giữ cho bằng được Trung Dung". (Nhân tâm duy nguy, Đạo tâm duy vi, duy tâm duy nhất, doãn cấp quyết trung) (COUVREUR SERAPHIN, Les Annales de'la Chine, Paris 1950, trang 39)(5) Tóm lại, Đạo Cao Đài mục đích là QUI TAM GIÁO, mà đời Lý Trần gọi là Tam Giáo Đồng Nguyên là QUỐC ĐAÏO, đã bắt nguồn từ hai luồng tư tưởng lớn trên bán đảo Ấn Trung : Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo mà nhiều người tin tưởng này có thể dung hợp thành một ý thức hệ kiệm đủ chân thiện mỹ, khả dĩ đem lại cho Đông phương và toàn thể nhân loại một cuộc sống tinh thần cũng như vật chất đầy đủ, tốt đẹp, luôn luôn khai phóng và hướng thượng.

Sự tin tưởng này cũng là một liều thuốc vô cùng linh nghiệm để đối phó với bệnh tình cấp bách hiện tại của Tây phương. Thức giả Tây phương đã nhận thấy sự kém cõi của mình, hơn một lần tự hạ, mang học hỏi và cầu xin Đông phương giải cứu cho họ (NGUYỄN HỮU LƯƠNG, sđđ, trang 27)

Mục lục Top of Page

3. Càn Khôn Sản Xuất Hữu Hình

*CÀN KHÔN THỂ HIỆN VĂN HÓA

CÀN KHÔN hợp nhau là quẻ Thái (Khôn trên Càn dưới) . Quẻ Thái ( ) là thông suốt chủ tháng giêng : mồng chín tháng giêng là Vía Đức Chí Tôn.

CÀN KHÔN chính là Cửu Thiên Khai Hóa theo sơ đồ sau :

Quẻ Thái là cha đẻ của quẻ Bí ( ) mà Kinh Dịch trình bày quẻ Bí như một khái niệm văn hóa : 1.Từ kinh nghiệm cuộc sống, 2. Từ vận động tự nhiên gọi là Thiên Văn rồi hóa thành Nhân Văn.

Trong quẻ Bí phần Thoán Truyện đã viết : "Quan hồ Thiên văn dĩ sát thời biến. Quan hồ Nhân Văn dĩ hóa thành thiên hạ' (xem vẽ đẹp của Trời để biết sự đổi mùa, xem vẻ đẹp của người để giáo hóa thiên hạ)

(Ghi chú các chữ trên : Thien văn, Nhân văn, Thiên hạ , Thành văn , hóa thành)

Thái sinh ra Bí là do sự biến quái âm dương giao nhau : "Cương thượng nhi văn nhu. Nhu lai nhi văn cương" (Dương làm nên Văn cho Âm, Âm tới làm Văn cho Dương).

Văn hóa là cái "lễ" do nguyên khí của trơi đất làm cho cuộc sống con người ngày càng tốt đẹp. Đó là ý nghĩa của quẻ Thái biểu sự hanh thông.

Quẻ Bí biểu tượng văn hóa nhân sanh bởi hai lẽ : 1. Quẻ Bí đứng sau quẻ Phệ Hạp ( ). Phệ Hạp là nhân sanh trong xã hội quần tụ nhau. Sống chung phải có văn hóa, đó là đạo đức làm người tức Nhơn đạo.

2. Quẻ Sơn Hỏa Bí tức núi trên, lửa dưới. Lửa chiếu sáng cho núi rạng rỡ, vì văn hóa là sự làm đẹp cho đời.

Trong quẻ Bí, văn hóa ví như ngón chân (Bí kỳ chỉ) vì ngón chân giúp loài người đứng thẳng. Ngón chân cái có huyệt Ẩn Bạch tiếp Địa Mạch (Force Tellurique). Mặt khác, văn hóa còn ví như cái râu hay nhơn trung là tiêu chí của "Thái Cực sinh lưỡng nghi" (xem trang 48 / Chương I) : trên Khôn (âm) dưới Càn (Dương), rốt cuộc đó là quẻ Thái biểu tượng trên mỗi người.

Tắt một lời, Càn Khôn là Thái hanh thông, Đức Chí Tôn đem cái văn hóa nam phong biến thành Nhơn (loại) phong mà giáo đạo. Quá trình đó, Đạo Cao Đài đã thực hiện qua ba giai đoạn : 1. Dựng lại hình thể và bản chất của nền văn hóa dân tộc, 2. Làm sống lại đạo đức truyền thống, 3. Phát triển lên tầm cao mới trùm nhân loại.

*CÀN KHÔN SẢN XUẤT HỮU HÌNH

Đạo thờ Càn Khôn là đạo thờ Cha Mẹ tâm linh dân tộc chính là một tín ngưỡng hỗn địa của dân chúng, là bộ phận của văn hóa Việt Nam thời Âu Cơ - Lạc Long Quân đến Mẫu Liễu - Trần Hưng Đạo nay là Đại Từ Phụ (Cha Lành), Đại Từ Mẫu (Mẹ hiền) của Đạo Cao Đài.

"Đạo thờ Cha Mẹ tâm linh dân tộc cần được giữ gìn và phát huy. Bởi đó, chính là tinh thần văn hóa, là kinh nghiệm lịch sử, là sự độc đáo Việt Nam không thể xóa bỏ được". (Tạp chí VHNT số 8-IXCVI, trang 25)

Xem thế, đạo thờ Càn Khôn không những phù hợp với Dịch lý mà còn phù hợp với việc thờ Cha Mẹ tâm linh dân tộc. Khi nói "Thiên khai ư Tý, địa Tịch ư Sửu và Nhơn sinh ư Dần", xét trong lịch sử Đạo Cao Đài các năm Tý, Sửu, Dần ta thấy :

* Thiên Khai ư Tý : Vào tháng Giêng năm Giáp Tý (2/1924), Đức Cao Đài cho ông Ngô Văn Chiêu thấy cảnh Bồng Lai. Trên cảnh ấy có Thiên Nhãn và Nhựt, Nguyệt, Tinh. Khi đổi về Sài Gòn, ông dạy đốc học Thới vẽ lại y như vậy mà thờ. Đó là tượng Thiên nhãn đầu tiên (Tiểu sử QPNVC, trang 34). Năm Tý lại là năm tuổi Đức Cao Thượng Phẩm (Mậu Tý- 1887)

* Địa Tịch ư Sửu : Vào đêm rằm tháng 8 Ất Sửu (1925) tại nhà Đức Cao Thượng Phẩm thiết lễ Hội Yến Diêu Trì Cung lần đầu tiên. Năm Sửu là năm tuổi của Đức Cao Thượng Sanh (Tân Sửu - 1900).

* Nhân sanh ư Dần : ngày 15-10-Bính Dần (1926), Đạo Cao Đài khai tại Thánh Thất Từ Lâm, Tây Ninh để phổ độ nhơn sanh. Năm Dần là năm tuổi của Đức Phạm Hộ Pháp (Canh Dần - 1890) .

Thế mới hay việc gì cũng có thiên cơ dĩ định trước.

Ta dùng quẻ Càn vẽ biểu đồ TAM DƯƠNG khai thái sau đây :

Thật vậy, Đức Cao Thượng Phẩm là biểu tượng của Thiên Đạo, Đức Phạm Hộ Pháp là biểu tượng của Nhơn Đạo, Đức Cao Thượng Sanh là biểu tượng của Địa Đạo. Người xưa gọi là Tam Đạo thống Tam Năng : Thiên năng, Nhơn năng, Địa năng mà điều hòa vạn hữu.

-Quẻ Càn đã hiện ra. Còn quẻ Khôn ở đâu ? Đạo từ thuở khai nguyên đến nay chỉ có ba nữ Đầu Sư, phù hợp với đức tính của quẻ Khôn : nguyên, hanh, lợi, trinh.

-Bà Đầu Sư Lâm Hương Thanh là nữ môn đệ đầu tiên của Đức Cao Đài. Bà ngươn linh là Long Nữ, được Phật Thích Ca giảng Diệu Pháp Liên Hoa Kinh và Đức Văn Thù Bồ Tát độ thành. Bà đã hiến tiền của xây dựng tổ đình Tòa Thánh. Hình: Bửu Điện Thờ Đức Chí Tôn và Chư Thần Thánh, Tiên, Phật (Tòa Thánh Tây Ninh)

Đức Phạm Hộ Pháp đã từng giảng đạo : "Chúng ta thử coi nền quốc đạo của chúng ta sẽ trở nên nền Tôn giáo của toàn cầu được chăng và phong hóa của chúng ta có thể thay thế cho cả nhơn loại này chăng ? Bần đạo quả quyết rằng nó phải như vậy đó".

*NAM BẮC CÔNG RỒI RA NGOẠI QUỐC

    Từ đây nòi giống chẳng chia ba Thầy hiệp các con lại một nhà Nam Bắc cùng rồi ra ngoại quốc Chủ quyền chơn đạo một mình ta.

Đây là lời tiên tri cũng như lời dạy bảo các môn đồ của Đức Cao Đà. Nếu ta lấy chiều Nam Bắc nước Việt Nam làm ranh âm dương trong Thái Cực đồ, rồi vẽ vòng tròn bao quanh gồm cả đảo Hải Nam (Trung Quốc) và Biển Hồ của Camphuchia. Ta có được hình sau :

Đó là Việt Nam Thái Cực Đồ. Bên phải là đất (Hải Nam) trong nước như âm trong dương. Bên trái là nước (biển hồ) trong đất như dương trong âm.

Đức Cao Đài dạy "Nam Bắc cùng rồi ra ngoại quốc". Thật vậy, năm 1927 Đức Nguyệt Tâm lập Hội Thánh ngoại giáo (Mission Étrangère) ở Campuchia sau đó Giáo sư Thượng Bảy Thanh được lịnh truyền đạo ở Vân Nam (Trung Quốc). Thế là "ra ngoại quốc" rồi. Unesco thống kê : Việt Nam là một trong 34 nước có nền văn hóa lớn.

Thật vậy, xã hội Việt Nam có luật lệ, có lễ giáo, có kỷ cương. Nếp sống văn minh nông nghiệo là sắc thái truyền thống của văn hóa dân tộc. Xã hội đề cao : tiên học lễ, hậu học văn, nhân nghĩa là chữ tín, cần kiệm, liêm chính. Đức Chí Tôn dạy lấy lễ nhạc dân tộc làm nhạc lễ tế tự Ngài và các đấng. Vì theo lễ ký : nhạc gây xúc động trong lòng. Lễ gây xúc động bên ngoài. Cùng tột của nhạc là hòa, cùng tột của lễ là thuận. Trong ngoài hòa thuận, hữu vô, nói theo Dịch Ký đó là âm dương, Càn Khôn, tâm vật hình hành thì thế giới an lành, hưng thịnh.

Tóm lại, với chủ trương qui Tam giáo, Hiệp Ngũ Chi, thống hợp các nền văn hóa nhân loại là một tuyên ngôn chính thống phù hợp với thời kỳ hiện đại đưa đất nước tiến lên và vượt trội trong tương lai :

    Một nước nhỏ nhoi trong vạn quốc Mai sau làm chủ mới là kỳ !

Mục lục Top of Page

4/- Phạm trù Càn Khôn

Dịch Hệ từ viết : "Cương nhu tương dịch, duy biến sở thích". Trong Thái Cực, âm dương bên nhau đương nhiên có sự trao đổi lẫn nhau. Âm hút dương, dương hút âm để thể hiện sự quân bình của vũ trụ. Trong Hậu Thiên Bát Quái chẳng hạn : Khí dương của Càn hút khí âm Khôn đoạt khí dương, Càn để biến thành các quẻ Tốn, Ly, Đoài. Đó là luật nhị khí giao cảm, hóa sinh vạn vật. Mọi sự việc trên đời đều có cặp mâu thuẫn đối đãi mang tính tất nhiên và phổ biến như âm dương.

Bàn về quan niệm vũ trụ, Dịch Hệ thượng viết : "Dịch có Thái Cực, Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái". Thánh ngôn của Đạo Cao Đài cũng dạy : "Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh ra Bát Quái, Bát Quái biến hóa vô cùng" (TNHT quyển II, trang 62). Hai ý trên nhứt định có cùng một gốc.

Trong Dịch Hệ thượng, Đức Khổng Thánh lưu ý : từ chất co giãn vô hình. Thái Cực chia ra hai Nghi là Aâm dương rồi biến hóa ra Tứ Tượng thành Bát Quái. Bát Quái biểu tượng cho vạn vật. Thế thì, vũ trụ được hình thành từ vô thỉ đến vô chung, từ vô hình qua hữu hình với quá trình biến hóa đi lên của nó. Quả thật "vũ trụ có những mãnh lực bí mật lớn lao đã hợp nhất lại và vô số hình thể sống động của nó đã đảm bảo sự liên tục cho chúng". (Les grands forces mystérieuses de la Nature étaient désormais unifiées Les imnomsbrables formes vivantes affirmaient leur enchainement (RENÉJUDRE, Les Nouvelles Enigmes de Funivers, Paris 1951, trg 14)

Vì thế Kinh dịch mới nói "sinh rồi lại sinh thì gọi là Dịch". Cái gì sinh ? Chu Hy lý giải : "Âm sinh Dương, Dương sinh Âm, kỳ biến vô cùng (CHU HY, Chu Dịch Bản Nghĩa, Hệ Từ Thượng, Chương VI.). Đức Chí Tôn cũng dạy "Đạo Thầy không chi lạ, không ngoài hai lẽ Âm Dương". Tắt một lời, quan niệm vũ trụ theo phương Đông, trời đất, vạn vật chịu ảnh hưởng của hai yếu tố căn bản là Âm Dương, biến hóa luôn luôn, chảy quanh khắp nơi, khắp chốn một cách vô thường. Đó là Đạo, Đạo vốn không có hình, nhưng ở đâu cũng có Đạo, thiếu Đạo thì không có sự vật nào tồn tại được.

Theo Soothll : "Trong vũ trụ đều là Âm hay Dương. Trời, ánh sáng, khí nóng, đàn ông, cha, sức mạnh, sự sống là Dương, Đất, bóng tối, hơi lạnh, đàn bà, mẹ, sức yếu, sự chết là Âm" (Tout est Yin ou yang dans la Nature. Le Ciel, la lumière, la chaleur, I'homme, le père, la force, lavie sont Yang. La terre, I'obscurité, le froid, la femme, la mère, la faiblesse, la mort sont Yin (W.E.SOOTHILL. Les trois religions de la Chine. Paris 1946, trg 161.)

Âm Dương là Thái Cực, là Đạo vì "nhất âm nhất dương chi vi Đạo". Trước Thái Cực còn có khoảng trốn không gọi là vô cực. Thánh Ngôn dạy : "Khí Hư Vô sinh một Thầy, Thầy là Thái Cực". Từ vô cực qua Thái Cực, Thái Cực phân cực âm dương, âm dương sinh ngũ hành mà tạo thành vạn vật. Châu Liên Khê viết trong Thái Cực đồ thuyết như sau :

"Vô cực mà là Thái Cực. Thái Cực động thì sinh Dương, động cực thì tĩnh, tĩnh thì sinh Âm, tĩnh cực lại động, một động một tĩnh cùng làm căn bản cho nhau. Rồi khi đã phân chia ra âm dương thì Lưỡng Nghi thành tập. Đến lúc dương biến, âm hợp thì Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ sinh ra. Năm khí đó nếu được xếp đặt thuận hợp với nhau thì bốn mùa sẽ vận hành đều đặn.

Ngũ hành nếu hợp nhất thì thành âm dương. Aâm và Dương nếu hợp nhất thì thành Thái Cực. Thái Cực có gốc Vô Cực, Ngũ hành sinh hóa đều có tính chất duy nhất. Cái chân không của Vô Cực cái tính chất của Âm Dương và Ngũ Hành, tất cả phối hợp một cách kỳ diệu và kết tụ lại với nhau. Thế rồi, Đạo Càn làm thành trai, Đạo Khôn làm thành gái, hai khí giao cảm mà sinh ra muôn vật, muôn vật sinh rồi lại sinh, sinh sinh mãi mãi và biến hóa vô cùng" (TRẦN THÚC LƯỢNG, LÝ TÂM TRANG, Tống Nguyên học án, Tập I, quyển 9 trang 131)

Thật vậy, "Trong lịch sử, có lẽ không có gì chính xác hơn việc biến dịch. Vật đổi thay. Người đổi thay. Đất đổi thay. Phong tục, quan niệm tư tưởng đổi thay" và Tôn giáo cũng đổi thay cho phù hợp với sự tiến hóa của nhân loại (Perhaps nothing is more certain in history than change. Animals change. Men change. The Earth changes customs, opinions and ideas change (PLANTTN an DRUMMOND M.J Our worl through the ages, New York 1959, trang 6)

Về nhân sinh quan, sự hình thành con người cũng do sự giao thoa của âm dương mà hóa thành, nên trong mỗi con người đều có gien âm dương. Chu Hy quả quyết rằng "Người người đều có một Thái Cực, vật vật cũng đều có một Thái Cực" (Nhân nhân các hữu nhất Thái Cực, vật vật các hữu nhất Thái Cực (CHU HY, Ngữ loại.). Chu Hy còn viết thêm : "Thái Cực tự nó bao gồm cái lý động tịnh, chớ không thể lấy trạng thái động tịnh mà phân thể dụng. Bởi vì, tịnh là thể của Thái Cực, còn động là dụng của Thái Cực" (TRẦN THÚC LƯỢNG, LÝ TÂM TRANG, Tống Nguyên học án, Tập Ii, quyển 44 trang 505). Nếu ta coi động tịnh là hai trường hợp khác nhau của Thái Cực thì "Âm Dương chỉ là một khí. Khí âm lưu hành tức khí dương, khí dương ngưng tụ tức là khí âm. Thực chẳng có chuyện hai vật chống đối nhau bao giờ" (TRẦN THÚC LƯỢNG, sđđ, trang 505).

Thật vậy, luật "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" của âm dương trong Kinh Dịch rất tâm đắc. Theo G.Lakhousky trong thuyết "Dao động tế bào" (Oscillation cellulaire), mỗi vật đều phát ra một luồng sóng đặc biệt : có cảm mới có ứng, có tương đồng mới có thể giao cảm. Đó là nguồn gốc cơ bút và cách trị bệnh bằng nhân điện trong Đạo Cao Đài buổi đầu.

Cẵp Âm Dương giống như cặp Ác Thiện, tuy thấy như mâu thuẫn, nhưng chẳng bao giờ rời nhau. Khi ta gọi là dương vì phần dương lấn phần âm. Khi gọi là âm vì phần âm lấn phần dương. Thế nên, người tu phải biết vượt lên trên Thiện Ác, Thị phi mới thanh thoát. Nếu còn bị ràng buộc trong giả tướng của hiện tượng giới thì chưa có thể giác ngộ vào cõi Phật. Nên nhớ, "Những kẻ đại gian ác là những kẻ đại Thánh Thiện (Les grands pécheurs seront de grands Saints). Madeleline trước khi thành Thánh là người đàn bà sa đọa, Thánh Augustin thuở nhỏ cũng là kẻ nhiều lầm lỗi, còn Thập Bát La Hán nguyên là những kẻ trộm cưới giết người. Trong "Con đường thiêng liêng hằng sống", Đức Hộ Pháp xác nhận "quỷ vương là phần trượt của Thượng Đế" (Satan est la doublure de Dieu). Xem thế, Thần hay Quỉ ở tại bản thân của mỗi chúng ta. Hồ Cư Nhân cũng nói : "Thần của mộc, hỏa sinh vật ở hướng Đông nam. Quỉ của kim, thủy diệu vật ở hướng Tây Bắc" (HỒ CƯ NHÂN, Dịch Tượng Sao, quyển I, trang 2). Nói một cách khác "U uẩn hay rõ ràng, sống hay chết, quỉ cũng như Thần, tất cả đều là biến tướng của âm dương" (CHU HY, Dịch Hệ Thượng, Chương IV). Như thế, quỉ thần không xa ta. Thiên Đàng hay Địa Ngục đều nằm trong tâm của mọi người. Tránh hạng người "Thân Công Báo" (đâm bị thóc, thọc bị gạo) họ là kẻ mở cửa ma giới trần gian đó. Họ gây xáo trộn trong mỗi con người : hữu vi (xác), vô vi (hồn) lìa nhau. Đạo đời không còn tương đắc, Âm (xác) Dương (hồn) rời rã…

Hãy nghe Pháp Chánh Truyền giải thích về ĐAÏO ĐỜI TƯƠNG ĐẮC. "Hội Thánh có hai phần tại thế. Phần hữu hình là Cửu Trùng Đài, tức là Đời, nghĩa là xác; một phần bán hữu hình là Hiệp Thiên Đài là chơn thần, nghĩa là nửa Đời, nửa Đạo, còn phần vô vi là Bát Quái tức là hồn, ấy là Đạo". Rõ ràng PCT phân giải Đạo là Bát Quái Đài, còn Cửu Trùng Đài là Đời (nhân sanh của Đạo), chớ không phải Đời là chỉ người ngoại đạo. Chẳng hạn Thế Đạo là Đời của Đạo, chỉ những người Đạo còn sống lẫn lộn với Đời. Đọc tiếp PCT ta sẽ thấy rõ hơn : "Thầy là chúa tể của sự vô vi, ắt Bát Quái Đài của Hồn. Hồn hiệp với xác bởi chơn thần. Aáy vậy chơn thần là trung gian của Hồn và Xác. Xác nhờ Hồn mà nên, thì Cửu Trùng Đài cũng phải nhờ Hiệp Thiên Đài mới mong đạt Đạo", nói cách khác, nếu muốn cho sự vô vi (Đạo) và sự hữu hình (Đời) đặng TƯƠNG ĐẮC thì cả hai ông chúa (Đạo, Đời) phải liên hiệp với nhau" (Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Paris 1952, trang 87)

Chúng ta phải làm như thế nào như Lord Acton nói : "Tôn giáo la cái chìa khóa của lịch sử". (La religion est la clé de I'historie (CHRISTOPHER DAWSON, La religion et la formtion de la civilisation occidentale, Paris 153, trang 9.). Bởi lẽ, "Nếu không có Tôn giáo thì lịch sử hẳn hoang lương tiêu điều, cuộc đời hẳn cũng giảm sinh thú. Ngoài tính chất thẩm mỹ, tôn giáo còn có một ảnh hưởng quan trọng đối với nền văn minh nhân loại" (NGUYỄN HỮU LƯƠNG, sđđ, trang 58.)(6)

NEXT / Tiếp Theo /

Top of Page

HOME

Từ khóa » Càn Khôn Hiệp đức