Ly Giáo Đông–Tây – Wikipedia Tiếng Việt

Bước tới nội dung

Nội dung

chuyển sang thanh bên ẩn
  • Đầu
  • 1 Bối cảnh và nguồn gốc
  • 2 Xem thêm
  • 3 Chú thích
  • 4 Tham khảo
  • Bài viết
  • Thảo luận
Tiếng Việt
  • Đọc
  • Sửa đổi
  • Sửa mã nguồn
  • Xem lịch sử
Công cụ Công cụ chuyển sang thanh bên ẩn Tác vụ
  • Đọc
  • Sửa đổi
  • Sửa mã nguồn
  • Xem lịch sử
Chung
  • Các liên kết đến đây
  • Thay đổi liên quan
  • Thông tin trang
  • Trích dẫn trang này
  • Tạo URL rút gọn
  • Tải mã QR
In và xuất
  • Tạo một quyển sách
  • Tải dưới dạng PDF
  • Bản để in ra
Tại dự án khác
  • Wikimedia Commons
  • Khoản mục Wikidata
Giao diện chuyển sang thanh bên ẩn Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bài này không có nguồn tham khảo nào. Mời bạn giúp cải thiện bài bằng cách bổ sung các nguồn tham khảo đáng tin cậy. Các nội dung không nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì bạn có thể chép nguồn tham khảo bên đó sang đây. (Tìm hiểu cách thức và thời điểm xóa thông báo này)
Một phần trong loạt bài về
Kitô giáo
Tranh khảm miêu tả Chúa Giêsu, Sicilia, Ý
  • Giê-su
  • Ki-tô
  • Chúa Giêsu trong Kitô giáo
  • Giáng sinh
  • Sứ vụ
  • Khổ hình
  • Phục sinh
  • Kinh Thánh
  • Nền tảng
  • Cựu Ước
  • Tân Ước
  • Phúc Âm
  • Quy điển
  • Giáo hội
  • Bản tuyên tín
  • Giao ước mới
Thần học
  • Thiên Chúa
  • Ba Ngôi
    • Cha
    • Con
    • Thánh Linh
  • Biện giáo
  • Cứu rỗi
  • Kitô học
  • Lịch sử thần học
  • Thanh tẩy
  • Truyền giáo
  • Lịch sử
  • Truyền thống
  • Maria
  • Sứ đồ
  • Phêrô
  • Phaolô
  • Giáo Phụ
  • Kitô giáo sơ khai
  • Constantinus
  • Công đồng đại kết
  • Augustinus
  • Ly giáo Đông–Tây
  • Thập tự chinh
  • Tôma Aquinô
  • Luther
  • Cải cách Kháng nghị
  • Hệ phái
  • Nhóm
Đông phương
  • Chính thống giáo Đông phương
  • Chính thống giáo Cổ Đông phương
  • Cảnh giáo
  • Công giáo Đông phương
Tây phương
  • Công giáo Rôma
  • Anh giáo
  • Tin Lành
  • Lutheran
  • Calvinist
  • Anabaptist
  • Baptist
  • Giám lý
  • Phúc âm
  • Thánh khiết
  • Phục lâm
  • Ngũ tuần
Thuyết phi Ba Ngôi
  • Nhân chứng Giêhôva
  • Ngũ tuần Nhất thể
  • Thánh hữu Ngày Sau
Chủ đề liên quan
  • Âm nhạc
  • Biểu trưng
  • Cầu nguyện
  • Chỉ trích
  • Đại kết
  • Liên tôn
  • Nghệ thuật
  • Phụng vụ
  • Vai trò văn minh
  • Văn hóa
Christian cross Chủ đề Cơ Đốc giáo
  • x
  • t
  • s

Đại Ly giáo hay Ly giáo Đông–Tây là sự kiện chia rẽ Kitô giáo xảy ra vào thời Trung Cổ mà kết quả là hai hệ phái Kitô giáo được hình thành: phương Đông (theo văn hóa Hy Lạp với trung tâm là Constantinopolis) và phương Tây (theo văn hóa Latinh với trung tâm là Rôma), sau này tương ứng là Chính thống giáo Đông phương và Công giáo Rôma. Quan hệ Đông - Tây bị chia rẽ bởi các yếu tố: thần học, chính trị và kỷ luật. Đại diện hai phái là giáo hoàng Rôma Lêô IX và thượng phụ Constantinopolis Michael Cerularius liên tục có những xung khắc với nhau. Năm 1054, sứ thần Rôma gặp Cerularius và yêu cầu ông thần phục Giáo hội Rôma là "mẹ của giáo hội hoàn vũ" nhưng Cerularius đã khước từ. Cùng năm, Rôma và Constantinopolis tuyên bố rút phép thông công lẫn nhau, như thế, cuộc Đại Ly giáo chính thức bắt đầu. Năm 1965, Giáo hoàng Phaolô VI và Thượng phụ Đại kết thành Constantinopolis, Athenagoras I đã gỡ bỏ vạ tuyệt thông lẫn nhau giữa hai giáo hội, đánh dấu một bước quan trọng trong tiến trình hòa giải.

Bối cảnh và nguồn gốc

[sửa | sửa mã nguồn]

Jerusalem là điểm khởi đầu Giáo hội được hình thành sau biến cố Hiện xuống, nhưng Jerusalem chỉ là một thành phố nhỏ, và Tin Mừng chỉ đóng khung trong nhóm nhỏ người Do Thái. Lời Chúa không chỉ dành riêng cho người Do Thái, vì vậy theo sách Công vụ các Tông đồ thì rất nhanh sau đó Tin Mừng được gửi đến dân ngoại và thành Antiochia sớm trở thành trung tâm truyền giáo ra phía Đông.[1] Thành Antiochia là thành phố thứ ba của Đế quốc La Mã tức là đứng sau thành Rôma và thành Alexandria. Đây cũng là nơi đầu tiên người tín hữu được gọi là Kitô hữu. Tại đây thánh Phaolô và thánh Barnabê đến rao giảng cho dân ngoại mà không bắt họ phải cắt bì như luật Moses. Thành Giêrusalem cũng mất dần ảnh hưởng, nhất là sau hai cuộc nổi dậy của người Do thái ở năm 70 và năm 135. Tháng 7 năm 70, tướng La Mã Titus tấn công chiếm thành Giêrusalem và tháng 9 năm 70, ông thiêu hủy thành phố và Đền thờ. Sau này, người Do thái lại nổi dậy chống quân chiếm đóng La Mã, nhưng vào năm 135 cuộc nổi dậy hoàn toàn thất bại, và Đền thờ bị san bằng thành bình địa. Từ đó Jerusalem không còn được coi là trung tâm điểm nữa. Mặt khác, bên Ai Cập thành Alexandria là một thành phố lớn, nơi được coi là trung tâm trí thức của thời đó. Theo truyền thống thì chính thánh Máccô đã đến rao giảng Tin Mừng tại Alexandria, rồi từ đó nơi đây bắt đầu trở thành trung tâm quy tụ người Kitô hữu phương Đông, như Kinh thành Rôma của người Kitô hữu ở Âu Tây. Sau này Rôma chiếm ưu thế vì hai khuôn mặt lớn của Giáo hội là thánh Phêrô và thánh Phaolô đã tử đạo tại đó.

Giáo hội đã đi ra khỏi mảnh đất Palestine và phát triển mạnh mẽ ra khắp bốn phương, tới các vùng ven theo Địa Trung Hải với các nền văn hóa Latinh, Hy Lạp, Ai Cập, cũng như tới Armenia, Gruzia, Lưỡng Hà, Abyssinia, v.v.

Khi Đế quốc La Mã dần tan rã từ lúc hoàng đế Theodosius I (346-395) băng hà vào năm 395. Suốt thời kỳ này điều đáng ghi là đế quốc La Mã bị các sắc dân man di xâm lăng. Năm 476, hoàng đế cuối cùng bên Tây phương bị tướng man dân Odoacre truất phế. Từ đó, Đế quốc Tây La Mã hoàn toàn biến mất. Bên Đông phương, đế quốc còn cầm cự được thêm một thời gian, nhưng thành Byzantium trở nên quan trọng được coi như là thủ đô của đế quốc mới và được đổi tên thành Constantinopolis, được coi là thành Rôma thứ hai. Đây là vấn đề nghiêm trọng, vì trước đây công đồng Nicaea I (325) đã ấn định ba tòa thượng phụ là Rôma, Alexandria và Antiochia. Cho nên vấn đề đưa Constantinopolis lên hàng thứ hai hiển nhiên Alexandria bị kéo xuống và Antiochia cũng bị mất dần ảnh hưởng. Tất cả những tranh chấp này cũng sẽ ảnh hưởng ít nhiều trong các cuộc tranh luận về giáo thuyết ở suốt thế kỷ như Công đồng Ephesus (431) và Công đồng Chalcedon (451). Hai công đồng ở thế kỷ thứ 5 này nhóm họp để giải quyết vấn đề tín lý nhưng lại là cơ hội cho những ly khai đầu tiên trong giáo hội, dần hình thành nên Chính thống giáo Cổ Đông phương và Cảnh giáo. Trong khi đó tại phần còn lại của Đế quốc, lằn ranh giới phân chia Đông phương theo nghi thức Hy Lạp và Tây phương theo nghi thức Latinh ngày càng rõ rệt hơn.

Xem thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Đông phương Hy Lạp và Tây phương Latinh
  • Phong trào Đại kết

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Cv chương 13

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
Stub icon

Bài viết liên quan đến Kitô giáo này vẫn còn sơ khai. Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn.

  • x
  • t
  • s
Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩn Sửa dữ liệu tại Wikidata
Quốc tế
  • GND
  • FAST
Quốc gia
  • Hoa Kỳ
  • Pháp
  • BnF data
  • Cộng hòa Séc
  • Israel
Khác
  • Yale LUX
Cổng thông tin:
  • icon Cơ Đốc giáo
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ly_giáo_Đông–Tây&oldid=71346507” Thể loại:
  • Sơ khai Kitô giáo
  • Ly giáo Đông–Tây
  • Lịch sử Kitô giáo
  • Chính thống giáo Đông phương
  • Giáo hội Công giáo Rôma
  • Thuật ngữ Kitô giáo
  • Ly giáo trong Kitô giáo
Thể loại ẩn:
  • Hoàn toàn không có nguồn tham khảo
  • Tất cả bài viết sơ khai
Tìm kiếm Tìm kiếm Đóng mở mục lục Ly giáo Đông–Tây 88 ngôn ngữ Thêm đề tài

Từ khóa » Cuộc đại Ly Giáo Tây Phương