Lý Thái Tổ – Wikipedia Tiếng Việt

Lý Thái Tổ李太祖
Hoàng đế Việt Nam
Tượng Lý Thái Tổ tại Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội
Hoàng đế Đại Cồ Việt
Trị vì21 tháng 11 năm 1009 – 31 tháng 3 năm 1028(18 năm, 131 ngày)
Tiền nhiệmSáng lập triều đại Lê Long Đĩnh (Nhà Tiền Lê)
Kế nhiệmLý Thái Tông
Thông tin chung
Sinh(974-03-08)8 tháng 3, 974Từ Sơn, Bắc Ninh
Mất31 tháng 3, 1028(1028-03-31) (54 tuổi)Điện Long An, Thăng Long
An tángThọ Lăng
Tên thật
Lý Công Uẩn (李公蘊)
Niên hiệu
Thuận Thiên (順天)
Tôn hiệu
Phụng Thiên Chí Lý Ứng Vận Tự Tại Thánh Minh Long Hiện Duệ Văn Anh Vũ Sùng Nhân Quảng Hiếu Thiên Hạ Thái Bình Khâm Minh Quảng Trạch Chương Chiêu Vạn Bang Hiển Ứng Phù Cảm Uy Chấn Phiên Man Duệ Mưu Thần Trợ Thánh Trị Tắc Thiên Đạo Chính Hoàng đế (奉天至理應運自在聖明龍見睿文英武崇仁廣孝天下太平欽明光宅章昭萬邦顯應符感威震藩蠻睿謀神功聖治則天道政皇帝)
Thụy hiệu
Thần Vũ Hoàng đế (神武皇帝)
Miếu hiệu
Thái Tổ (太祖)
Triều đạiNhà Lý
Thân phụHiển Khánh vương
Thân mẫuPhạm Thị Ngà
Tôn giáoPhật giáo

Lý Thái Tổ (chữ Hán: 李太祖, 8 tháng 3 năm 974 – 31 tháng 3 năm 1028) là hoàng đế sáng lập ra nhà Lý trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì đất nước trong 18 năm, từ năm 1009 đến khi qua đời vào năm 1028.

Xuất thân là tướng lĩnh của nhà Tiền Lê, Lý Công Uẩn dần được thăng đến chức Điện tiền chỉ huy sứ, và có được uy tín trong triều đình. Đến khi vua Lê Đại Hành mất, triều chính nhà Lê đi vào rối loạn bởi sự tranh đoạt ngôi vị giữa các hoàng tử. Cuộc tranh ngôi chính thức kết thúc khi Lê Long Đĩnh lên ngôi hoàng đế. Tuy nhiên, vua Long Đĩnh vắn số nên chỉ trị vì được 4 năm rồi mất. Với uy tín và danh tiếng rộng khắp thiên hạ, Lý Công Uẩn được triều thần tôn lên làm vua, chính thức lập ra nhà Lý,[1] triều đại đầu tiên của Việt Nam tồn tại dài lâu với 216 năm lịch sử đầy thăng trầm.

Một trong những thành tựu nổi trội nhất của vua là việc dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La (Hà Nội) vào năm 1010, đổi tên thành Thăng Long, mở đầu cho sự phát triển lâu dài của nhà Lý, và cũng chính thức khởi đầu lịch sử hơn 1000 năm của thủ đô Thăng Long - Hà Nội. Bên cạnh đó, Đại Cồ Việt dưới thời Lý Công Uẩn cũng đạt được nhiều thành tựu nổi bật khác như phát triển kinh tế, nông nghiệp, cải cách địa giới - hành chính, định lại hệ thống thuế khóa, phát triển Phật giáo. Về quân sự, vương triều của Lý Công Uẩn cũng đánh dẹp được hết các thế lực chống đối và các cuộc nổi loạn trong nước, đánh bại Đại Lý, Chiêm Thành, khiến lòng người đều quy phục, các lân bang như Chiêm Thành, Chân Lạp đều chịu triều cống, nhà Tống cũng không cậy thế để sách nhiễu mà phải giữ ôn hòa với Đại Cồ Việt. 18 năm của vương triều Lý Công Uẩn đã tạo nền móng vững chắc cho sự kế thừa và phát triển của các đời vua sau này. Với những đóng góp to lớn cho lịch sử đất nước, Lý Công Uẩn được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp vào danh sách 1 trong 14 vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.[2] Nhiều công trình đền thờ, tượng đài được xây dựng để tưởng nhớ đến ông, nhiều con đường và trường học cũng được đặt theo tên ông. Tuy nhiên, vua cũng ít nhiều nhận lời phê phán từ các sử gia hậu thế vì việc sùng đạo Phật quá mức dẫn đến mê tín, dị đoan,[3] cũng như chưa chú trọng phát triển giáo dục cho đất nước.[4]

Thân thế

[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Thái Tổ tên khai sinh là Lý Công Uẩn, sinh năm Giáp Tuất (974), người châu Cổ Pháp (nay thuộc phường Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), mẹ người họ Phạm,[4] nhưng không rõ danh tính của cha, chỉ biết ông được truy tôn tước Hiển Khánh vương sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi. Các sử liệu như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử lược hay Việt Nam sử lược đều chỉ chép mẹ Lý Công Uẩn là Phạm thị, chỉ có nguồn dã sử từ cụm di tích ở Dương Lôi (Từ Sơn, Bắc Ninh) cho rằng bà tên là Phạm Thị Ngà.[5][6]

Đại Việt sử lược chép Công Uẩn có một anh trai (sau phong Vũ Uy vương) và một em trai (sau phong Dực Thánh vương).[7] Đại Việt sử ký toàn thư chép ông còn có một người chú được phong Vũ Đạo vương.[8]

Lên 3 tuổi, Lý Công Uẩn được mẹ mang mang đến nhà sư Lý Khánh Văn rồi được sư nhận nuôi ở chùa Cổ Pháp (Ứng Tâm tự, chùa Dặn). Từ nhỏ, Công Uẩn đã tỏ ra thông minh và tuấn tú khác thường. Năm 6 - 7 tuổi, Công Uẩn được gửi sang chùa Lục Tổ để học sư Vạn Hạnh, một vị tăng sĩ trứ danh, uyên bác lúc bấy giờ. Thấy Công Uẩn, sư Vạn Hạnh liền khen: "Đứa bé này không phải người thường, lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ."[4][9]

Đến tuổi trưởng thành, Công Uẩn tỏ ra là người khảng khái, có chí lớn, không màn của cải, phú quý mà chỉ thích xem kinh sử nhưng chỉ xem qua loa.[4] Theo Ngọc phả các vua triều Lê ở vùng Bảo Thái - Hà Nam (nay thuộc Ninh Bình) và tư liệu tại các di tích ở Cố đô Hoa Lư, Công Uẩn hàng năm theo Thiền sư Vạn Hạnh vào hầu Lê Đại Hành ở Hoa Lư. Công Uẩn được vua cho ở lại kinh học tập quân sự, lại gả con gái lớn là công chúa Lê Thị Phất Ngân và đặc phong Công Uẩn làm Điện tiền cận vệ ở Hoa Lư, rồi dần thăng lên chức Điện tiền Chỉ huy sứ.[10] Đại Việt sử lược lại chép vào khoảng niên hiệu Ứng Thiên (994-1005) thời Lê Đại Hành, Công Uẩn theo phò triều Lê.[9] Khâm định Việt sử Thông giám cương mục thì chép Công Uẩn theo phò triều Lê vào giữa niên hiệu Ứng Thiên.[11] Đến năm 1003, vua Lê Đại Hành bắt đầu đau ốm, đến năm 1005 thì mất.[12] Còn những năm trước đó trong niên hiệu Ứng Thiên, vua Đại Thành thường đi đánh giặc và đều toàn thắng. Vì thế, rất có thể Lý Công Uẩn đã được vua gả công chúa Phất Ngân rồi hầu vua và được vua phong các chức quan thuộc võ ban trong triều vào những năm giữa niên hiệu Ứng Thiên từ 1000 đến 1003. Các sử liệu về niên hiệu Ứng Thiên này không chép gì về công trạng của Công Uẩn với vua Đại Hành.

Năm 1005, Lê Đại Hành băng hà, các hoàng tử tranh đoạt ngôi vị, đánh nhau suốt cả 8 tháng. Đến cuối năm 1005, Lê Long Việt giành được ngôi vua, tức Lê Trung Tông, nhưng chỉ 3 ngày thì bị Lê Long Đĩnh giết để giành ngôi.[13] Các quan sợ hãi bỏ chạy, chỉ có Công Uẩn ôm xác vua mà khóc. Lê Long Đĩnh không trị tội mà còn khen ông là người trung nghĩa, tiếp tục trọng dụng, cho làm Tứ sương quân Phó Chỉ huy sứ, rồi sau thăng đến chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ.[9][4] Đây cũng là lần đầu tiên mà chính sử nhắc đến Lý Công Uẩn. Trước đó, trong cuộc chiến tranh ngôi của các hoàng tử nhà Lê, không rõ Lý Công Uẩn đứng về phe nào, mà chỉ có thể phỏng đoán rằng Công Uẩn đứng về phe Long Việt, thông qua việc Công Uẩn ôm xác vua mà khóc. Bối cảnh trong nước ở thời điểm đó cực kỳ rối ren, bởi triều đình đến tận 8 tháng không có vua. Phải đến khi Long Đĩnh lên ngôi và đánh dẹp hết các vương chống đối thì trong nước mới được yên, các vương và giặc cướp đều hàng phục.[14]

Trước khi Long Việt bị ám sát và Long Đĩnh lên ngôi, ở chùa Ứng Thiên Tâm, châu Cổ Pháp có con chó sinh con lông trắng với đốm lông đen thành hình hai chữ "Thiên tử". Kẻ thức giả khi ấy cho đó là điềm có người sinh năm Tuất làm thiên tử. Lý Công Uẩn cũng sinh vào năm Tuất 974.[4]

Trong 5 năm trị vì (1005 - 1009), Lê Long Đĩnh thực hiện nhiều cuộc đánh dẹp loạn đảng trong nước,[14] đồng thời đối mặt với những áp lực ngoại giao và hiểm họa xâm lăng từ nhà Tống.[15][16] Sử không chép gì về hoạt động của Lý Công Uẩn vào thời điểm ấy. Các cuộc đánh dẹp loạn đảng của Long Đĩnh đều được sử chép rõ rằng vua thân chinh đi đánh giặc, chứ không nhắc đến việc Long Đĩnh xuống chiếu cho Lý Công Uẩn hay một tướng nào khác đi đánh. Đến những việc làm sai trái của vua như việc vua hiếu sát, thích hành hạ dã man tù binh bại trận, triều cương vô phép, cho bọn hề giễu cợt lời tâu của các quan đại thần,... thì sử cũng không chép về việc Lý Công Uẩn hay bất cứ quan nào khác trong triều can gián vua về những chuyện ấy (trong khi sử các đời vua sau đều nhắc đến việc triều thần can gián vua). Đại Việt sử ký toàn thư có chép chuyện dã sử về việc Long Đĩnh vì đam mê tửu sắc nên mắc bệnh trĩ,[17] chứ không nói gì đến hoạt động triều chính của Công Uẩn trong 5 năm trị vì của Long Đĩnh. Duy chỉ có An Nam chí lược của sử gia gốc Việt Lê Tắc đời Nguyên chép vắn tắt rằng: "[Lý Công Uẩn] Người Giao Châu (có kẻ bảo là người Phúc Kiến, không đúng), có tài thao lược, Lê Chí Trung dùng làm đại tướng, rất thân tín."[18]

Lên ngôi

[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Đại Việt sử ký toàn thưViệt sử lược, khi Lê Long Đĩnh còn tại vị, ở hương Diên Uẩn (châu Cổ Pháp) có cây gạo bị sét đánh, vết sét đánh để lại bài thơ:[1][9]

Thụ Căn yểu yểuMộc biểu thanh thanhHòa đao mộc lạcThập bác tử thành Chấn cung xuất nhựtĐoài cung ẩn tinhLục thất niên gianThiên hạ thái bình

Tạm dịch:[1][19]

Gốc rễ thăm thẳmVỏ cây xanh xanhLúa dao cây rụngMười tám con thànhPhương đông nhựt mọcPhương tây sao tànKhoảng sáu bảy nămThiên hạ thái bình

Sư Vạn Hạnh mới bảo Lý Công Uẩn rằng: "Mới rồi tôi thấy chữ bùa sấm kỳ lạ, biết họ Lý cường thịnh, tất dấy lên cơ nghiệp. Nay xem trong thiên hạ người họ Lý rất nhiều, nhưng không ai bằng Thân vệ là người nhân từ được lòng dân, lại nắm binh quyền trong tay, đứng đầu muôn dân chẳng phải Thân vệ thì còn ai đương nổi nữa. Tôi đã hơn 70 tuổi, mong được thư thả hãy chết, để xem đức hóa của ông như thế nào, thực là cái may nghìn năm có một." Công Uẩn từ ấy đã sinh tâm nhòm ngó ngôi vua của nhà Lê, nhưng lại sợ câu nói ấy của Sư Vạn Hạnh bị lộ, nên bảo người anh đem Vạn Hạnh giấu ở Tiêu Sơn. Lòng dân lúc bấy giờ cũng đã quy về Công Uẩn.[1]

Cũng theo Toàn thư, khi bài sấm đã lan rộng trong dân gian thì có lần Lê Long Đĩnh ăn quả lê lại thấy hột lý, mới tin lời sấm ngữ, ngầm truy sát người họ Lý, nhưng Công Uẩn vẫn không bị hại.[1] Chi hậu Đào Cam Mộc dò biết Công Uẩn muốn nhận ngôi, mới nhân lúc vắng nói khích Công Uẩn về việc tiếm ngôi. Công Uẩn lấy làm vui, và liền vờ mắng Cam Mộc, lại dọa sẽ mách quan về chuyện ấy, nhưng cốt chỉ là để thử lòng Cam Mộc.[20] Cam Mộc thong thả bảo Công Uẩn rằng: "Tôi thấy thiên thời nhân sự như thế mới dám phát ngôn. Nay ông lại muốn cáo giác tôi thì tôi không phải là người sợ chết." Công Uẩn nói: "Tôi đâu nỡ cáo giác ông, chỉ sợ lời nói tiết lộ thì chết ráo, nên răn ông đó thôi."[8] Cam Mộc lại bàn với Thái hậu chuyện lập Công Uẩn lên làm vua.[20] Hôm sau Đào Cam Mộc lại thuyết phục Công Uẩn tiếm ngôi: "Người trong nước ai cũng nói họ Lý khởi nghiệp lớn, lời sấm đã hiện ra rồi, đó là cái họa không thể che dấu được nữa. Chuyển họa làm phúc, chỉ trong sớm chiều. Đây là lúc trời trao người theo, Thân vệ còn nghi ngại gì nữa?". Công Uẩn nghe vậy liền đáp: "Tôi đã hiểu rỏ ý ông, không khác gì ý của Vạn Hạnh, nếu thực như lời ấy thì nên tính kế thế nào ?". Cam Mộc đáp: "Thân Vệ là người khoan thứ, nhân từ, lòng người chịu theo. Hiện nay trăm họ mỏi mệt kiệt quệ, dân không chịu nổi, Thân vệ nên nhân đó lấy ân đức mà vỗ về, thì người ta tất xô nhau kéo về như nước chảy chỗ thấp, có ai ngăn được!".[8] Tin về ý muốn tôn phò Công Uẩn lúc ấy đã lan khắp trong thiên hạ, Cam Mộc thấy việc lại càng gấp gáp hơn nên cũng ngay trong hôm ấy đã mang chuyện lập Công Uẩn đi bàn hết với các quan đại thần, ai nấy cũng đều vui và thuận theo. Ngay hôm ấy, triều thần họp lại và bàn rằng: "Hiện nay, dân chúng ức triệu khác lòng, trên dưới lìa bỏ, mọi người chán ghét tiên đế hà khắc bạo ngược, không muốn theo về vua nối mà đều có lòng suy tôn quan Thân vệ, bọn ta không nhân lúc này cùng nhau sách lập Thân vệ làm thiên tử, lỡ bối rối có xảy ra tai biến gì, liệu chúng ta có giữ được cái đầu hay không?". Thế rồi bá quan văn võ liền cùng nhau dìu Công Uẩn lên chính điện, lập làm hoàng đế. Trăm quan liền bái lạy và tung hô "Vạn tuế", rồi cùng dâng tôn hiệu cho vua là: "Phụng Thiên Chí Lý ứng Vận Tự Tại Thánh Minh Long Hiện Duệ Văn Anh Vũ Sùng Nhân Quảng Hiếu Thiên Hạ Thái Bình Khâm Minh Quang Trạch Chương Minh Vạn Bang Hiển Ứng Phù Cảm Uy Chấn Phiên Man Duệ Mưu Thần Trợ Thánh Tri Tắc Thiên Đạo Chính Hoàng Đế".[8]

Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế ngày 21 tháng 11 năm 1009, chính thức lập ra nhà Lý.[1] Sử còn gọi triều đại của ông là Hậu Lý để phân biệt với nhà Tiền Lý do Lý Nam Đế sáng lập. Vua đặt niên hiệu là Thuận Thiên, nghĩa là "theo ý trời". Ông truy phong cha là Hiển Khánh vương, mẹ là Minh Đức Thái hậu, chú là Vũ Đạo vương, anh ruột là Vũ Uy vương, em ruột là Dực Thánh vương. Ông lập 6 hoàng hậu, con trưởng Lý Phật Mã được lập làm Thái tử.[1] Các con trai khác cũng được phong vương. Đào Cam Mộc được phong Nghĩa Tín hầu và cưới công chúa An Quốc, còn những người khác vẫn giữ chức cũ.[7] Một công chúa khác của vua là Lý Bảo Hòa được gả cho động chủ Giáp Thừa Quý.[21]

Theo các ghi chép từ chính sử, việc lên ngôi của Lý Công Uẩn và sự chuyển giao triều đại đã không xảy ra chuyện binh đao. Tuy nhiên theo An Nam chí lược, năm 1009, khi Lê Long Đĩnh mất, Thái tử còn bé, hai người em là Lê Minh Đề và Lê Minh Xưởng tranh cướp ngôi vua, bị Công Uẩn giết chết.[18][22]

Tượng đài Lý Thái Tổ tại trung tâm phường Vũ Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Trong Đại Việt sử ký tiền biên, sử gia Ngô Thì Sĩ có nêu ra việc dân gian đồn đoán rằng Lý Công Uẩn giết Lê Long Đĩnh để đoạt ngôi:[23]

Có người hỏi Khai Minh vương hung hãn bạo ngược, Lý Thái Tổ địa vị danh vọng ngày một cao, trong ngoài đều là tâm phúc, Lý Thái Tổ rất căm phẫn trước tội ác giết anh cướp ngôi của Khai Minh vương, nhân lúc Khai Minh vương bệnh tật, sai người vào đầu độc giết đi rồi giấu kín việc đó, nên sử không được chép. Nếu quả như vậy, cũng là đạo trời hay báo, cho nên chép phụ vào đây để làm răn.

— Đại Việt sử ký tiền biên - Ngô Thì Sĩ

Lại bàn về chuyện sấm cây gạo mà dẫn đến sự thay đổi của cả một triều đại, sử gia Ngô Thì Sĩ trong Việt Sử Tiêu Án cho rằng Sư Vạn Hạnh nhân chuyện sét đánh vào cây gạo để bịa hẳn ra một bài thơ nhằm tỏ ra huyền bí, thần dị để tạo dư luận trong nước. Ngô Thì Sĩ cũng cho rằng trong bài sấm cây gạo, lời thơ từ câu "Chấn cung xuất nhựt" đến hết bài thơ đều có ý mập mờ, khiến cho hậu thế đời sau vin vào đấy mà diễn giải hàm hồ, tạo cớ cho kẻ gian thần mưu việc thoán nghịch, quả thực chỉ là vì một bài thơ bị nói thác ra thành lời sấm mà gây loạn lạc mãi không thôi.[20] Lời bàn trong Khâm định Việt sử Thông giám cương mục cũng cho rằng chuyện sấm cây gạo là sự gượng ép của các sử quan thời đó để làm cho việc lên ngôi của Công Uẩn mang tính thần dị, và nhại theo Tống sử về điển tích Triệu Khuông Dẫn lên ngôi. Theo đó, khi Chu Thế Tông tìm thấy trong hòm đựng văn thư có một mảnh gỗ dài 3 thước, trên có chữ "Kiểm điểm tác thiên tử" (quan kiểm điểm sẽ làm vua), nên liền cho thôi chức quan Kiểm điểm đương nhiệm là Trương Vĩnh Đức và thay bằng Triệu Khuông Dẫn. Quả đúng là sau đó Khuông Dẫn được quân sĩ lập làm vua, tức Tống Thái Tổ, lập ra nhà Tống.[24]

Trị vì

[sửa | sửa mã nguồn]

Dời đô về Đại La

[sửa | sửa mã nguồn] Xem thêm: Chiếu dời đô
Quần thể di tích Cố đô Hoa Lư

Hoa Lư vốn là kinh đô của 2 triều đại Đinh và Tiền Lê, là một vị trí cố thủ tự nhiên giữa những mỏm núi đá nằm bên rìa phía Đông Nam đồng bằng sông Hồng, kiểm soát tuyến đường đất từ đồng bằng sông Hồng tới các tỉnh phía Nam, cũng là tiền đồn của những tỉnh phía Nam nhìn ra đồng bằng sông Hồng.[25] Lúc lên ngôi, Lý Thái Tổ cho rằng "Hoa Lư thành hẹp, đất thấp", muốn dời đô về Đại La (nay là Hà Nội).[26] Nhà vua tự tay viết chiếu rằng:[27]

Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh 5 lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương 3 lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà 2 nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời. Huống chi thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương, ở vào nơi trung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?"

Sử chép rằng các quan đều nhất trí với nhà vua: "Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có, điều lợi như thế, ai dám không theo".[27]

Tháng 7 năm Canh Tuất (1010), triều đình khởi sự dời đô. Khi thuyền mới đến đậu ở dưới thành, thấy có con rồng vàng hiện ra, vua liền cho đổi tên Đại La thành Thăng Long (tạm dịch: Rồng bay lên). Đến Thăng Long, vua liền lập nhiều cung điện, cộng 13 sở, xây thành lũy, sửa sang phủ khố; thăng châu Cổ Pháp, Bắc Ninh làm phủ Thiên Đức. Thành Hoa Lư gọi là phủ Tràng An, trong phủ Thiên Đức lập 8 ngôi chùa, đều có lập bia ghi chép công đức.[27]

Từ đây, Thăng Long trở thành thủ đô của Việt Nam cho đến tận ngày nay, tức hơn 1000 năm (trong đó có 27 năm bị gián đoạn 1400 - 1427, trong thời nhà Hồ và thời Bắc thuộc lần 4).

Chính trị

[sửa | sửa mã nguồn]
Đồng xu do Lý Thái Tổ phát hành (trên cùng, bên phải)
Bản đồ Đại Việt thời nhà Lý. Đường chấm mờ là biên giới nước Việt Nam ngày nay

Thời Lý Thái Tổ, Đại Tống và Đại Cồ Việt giữ quan hệ hòa bình. Ngay khi vừa lên ngôi năm 1010, vua đã sai Lương Nhậm Văn và Lê Tái Nghiêm sang nước Tống để kết hảo.[4] Năm 1010, Tống Chân Tông phong Thái Tổ chức Giao Chỉ quận vương kiêm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ,[28] đến năm 1016 lại phong làm Nam Bình vương.[18][29] Các nước láng giềng như Chiêm Thành và Chân Lạp cũng thường sang triều cống, việc bang giao thời bấy giờ khá yên trị.[28] Tuy nhiên, năm 1020, Thái Tổ phải sai Lý Phật Mã đánh Chiêm Thành.[30] Đại Việt Sử ký Toàn thư và Đại Việt sử lược chép là quân Việt thắng; song từ năm này đến khi Lý Thái Tông chinh phạt Chiêm Thành lần hai năm 1044, sử sách không ghi lại bất kỳ một lần nào sứ Chiêm sang cống. Năm 1044, Lý Thái Tông có nói với triều thần: "Tiên đế mất đến nay đã 16 năm rồi, mà Chiêm Thành chưa từng sai một sứ giả nào sang cống".[31]

Tháng 4 năm 1011, vua sai Lý Nhân Nghĩa và Đào Khánh Văn sang bang giao với nhà Tống. Khánh Văn liền nhân cớ đó để trốn ở lại nước Tống. Nhà Tống liền bắt Khánh Văn trả lại cho Đại Cồ Việt, Khánh Văn bị xử tội và bị đánh trượng chết. Đến tháng 10 năm 1012, vua lại sai quan thái bảo Đào Thạc Phụ và ngoại lang Ngô Nhưỡng sang nước Tống để kết hảo.[28]

Lý Thái Tổ chia đất nước làm 24 lộ và 2 phần kinh và trại, Hoan Châu và Ái Châu là trại, từ Thanh Hóa trở ra là kinh.[28] Cương mục và Toàn thư chỉ ghi tên 12 lộ: Thiên Trường, Quốc Oai, Hải Đông, Kiến Xương, Hoàng Giang, Long Hưng, Bắc Giang, Trường Yên, Thanh Hóa, Diễn Châu, Khoái, Hồng. Theo Lãnh Nam ngoại đáp, Đại Việt thời Lý chia làm 4 phủ Đô Hộ, Đại Thông, Thanh Hóa, Phú Lương; 13 châu Vĩnh An, Vĩnh Thái, Vạn Xuân, Phong Đạo, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Già Phong, Trà Lô, Yên Phong, Tô, Mậu, Lạng; 3 trại là Hòa Ninh, Đại Bàn, Tân Yên.[32]

Quan chế nhà Lý kế thừa nhà Tiền Lê, ban văn - võ có 9 phẩm, 3 chức thái sư, thái phó, thái bảo; 3 chức thiếu sư, thiếu phó, thiểu bảo; cùng thái úy, thiếu úy và nội ngoại hành điện đô tri sự, kiểm hiệu bình chương sự.[33] Ngoài quan ngoài triều đình có các tri phủ và phán phủ cai trị một phủ và tri châu cai trị một châu. Ngoài ra có những châu bậc dưới mà người đứng đầu là thủ lĩnh.[34]

Năm 1013, triều đình định ra 6 hạng thuế là: thuế ruộng, đầm, ao; thuế đất trồng dâu và bãi phù sa; thuế sản vật ở núi; thuế mắm muối đi Ải quan; thuế sừng tê, ngà voi và hương trên mạn núi xuống; thuế tre gỗ hoa quả.[35] Lúc mới lên ngôi, nhà vua miễn thuế cho dân trong 3 năm. Theo Ngô Thì Sĩ, nhà Lý cốt chăm nghề nông cho nước giàu, trong 6 thứ thuế chỉ thu 4, 2 hạng khoan thu.[36] Đến năm 1016, cả nước được mùa to, vua lại miễn tô thuế cho dân 3 năm.[29] Đến năm 1017, vua xuống chiếu miễn tô ruộng, sang năm sau thì lại cho miễn một nửa tô ruộng cho dân.[30]

Quân sự

[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 năm Tân Hợi (1011), vua mang quân đi phạt quân man Cử Long ở Ái Châu. Quân triều đình toàn thắng, đốt hết bộ lạc của giặc và bắt người cầm đầu giải về. Quân man di Cử Long vốn đã quấy phá, phản loạn từ hai triều Đinh, Lê trước đó, thậm chí Vệ vương Đinh Toàn trong cuộc bình định bọn giặc này của vua Lê Hoàn còn bị giặc ấy giết chết, nay đến thời Thuận Thiên của vua, giặc ấy lại càng hung hăng dữ tợn hơn. Phải đến đây, giặc Cử Long mới chính thức bị dẹp tan.[28]

Năm 1012, vua bình định Diễn Châu. Khi về đến Vũng Biện thì trời tối đen, gió sấm rất lớn. Thấy vậy, vua liền đốt hương và khấn trời: "Tôi là người ít đức, lạm ở trên dân, nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy binh uy mà đi đánh dẹp càn bậy. Chỉ vì người Diễn Châu không theo giáo hóa, ngu bạo làm càn, tàn ngược chúng dân, tội ác chồng chất, không thể dung tha. Còn trong khi đánh nhau, hoặc giết oan kẻ trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nỗi hoàng thiên nổi giận phải tỏ cho biết lỗi lầm, dẫu gặp tổn hại cũng không dám oán trách. Đến như sáu quân thì tội lỗi có thể dung thứ, xin lòng trời soi xét". Sau khi khấn, trời đất quang đãng trở lại.[28]

Cũng trong năm 1012, người nước Đại Lý[a] đến bến Kim Hoa và châu Vị Long để buôn bán thì bị vua cho bắt giữ và tịch thu hơn 1 vạn con ngựa.[35] Về sự việc này, Việt Sử Tiêu Án chép rõ là người châu Vị Long làm phản và theo người Đại Lý. Theo đó, người ở châu Vị Long dẫn tướng Đại Lý là Dương Trường Trung vào cướp Đại Cồ Việt, đến bến Kim Hoa rồi lập doanh trại, gọi là trại Ngũ Hoa. Được tin, vua liền sai Dực Thánh Vương đi đánh, và bắt được hơn một vạn quân và ngựa. Sau đó, vua xuống chiếu sai người sang nhà Tống báo tin thắng trận, và dâng vua Tống 100 con ngựa thu được của quân Đại Lý.[36]

Tháng 10, năm 1013 châu Vị Long phản lại nước Đại Cồ Việt, hùa theo người Đại Lý (đời vua Đoàn Tố Liêm). Vua Lý Thái Tổ mang quân đánh, thủ lĩnh là Hà Án Tuấn sợ, đem đồ đảng trốn vào rừng núi.[35]

Năm 1014, vua Đại Lý là Đoàn Tố Liêm sai hai tướng Dương Trường Huệ, Đoàn Kính Chí đem 20 vạn quân đánh nước Đại Cồ Việt. Quân Đại Lý tiến lên đóng ở bến Kim Hoa, dũng trại Ngũ Hoa. Sau khi châu mục châu Bình Lâm là Hoàng Ân Vinh thông báo, Lý Thái Tổ sai Dực Thánh vương đánh bến Kim Hoa. Quân Đại Cồ Việt đánh tan quân Đại Lý, "chém vạn đầu giặc, bắt được quân sĩ và ngựa nhiều vô số" (nguyên văn trong Đại Việt sử lược). Sau chiến thắng, Lý Thái Tổ hạ lệnh cho viên ngoại lang Phùng Chân, Lý Hạc mang 100 ngựa chiến của Đại Lý biếu tặng vua Tống Chân Tông. Triều đình Tống đối đãi các sứ thần Đại Cồ Việt rất hậu. Cùng năm đó, Thái Tổ đổi phủ Ứng Thiên làm Nam Kinh.[35]

Tháng 12 năm Canh Thân (1020), Lý Thái Tổ sai Khai Thiên vương Lý Phật Mã và Đào Thạc Phụ đem quân đi đánh Chiêm Thành ở trại Bố Chính, thẳng đến núi Long Tỵ (nay thuộc Quảng Trạch, tỉnh Quảng Trị), chém được tướng Chiêm là Bố Linh tại trận, người Chiêm chết đến quá nửa.[30]

Tháng 12 năm 1022, thổ dân Đại Nguyên Lịch - một sắc dân Mán cư trú giữa trại Như Hồng và trấn Triều Dương (Đại Tống) - sang đánh phá biên ải Đại Cồ Việt-Đại Tống. Lý Thái Tổ ra lệnh cho Dực Thánh vương đánh dẹp Đại Nguyên Lịch, quân đánh đến châu Như Hồng trong đất Tống (đời vua Tống Chân Tông), đốt kho tàng, bắt nhiều dân và gia súc rồi kéo về.[37][30] Lê Tắc đã thuật lại sự việc này trong An Nam chí lược rằng:[18]

"Tháng 12, Chuyển vận sứ Quảng Tây Cao Huệ Liên dâng thơ nói Giao Châu vào cướp trại Như Hồng thuộc châu Khâm, bắt người và súc vật rất nhiều. Vua Tống Chân Tông xuống chiếu khiến Cao Huệ Liên tư điệp văn cho Giao Châu và sai sứ theo đòi lại. Nguyên trước đây có dân Mường là Trương Phố, lánh tội chạy đến đầu ngụ, quan cai trị Khâm Châu là Mục Trọng vời vào, đi đến nửa đường lại ngăn không cho vào. Đô Tuần Kiểm Tàng Tự bèn khiến trại Như Hồng khao đãi trâu rượu. Giao Châu dò biết được việc ấy, bèn nhân đuổi bắt dân Mường, đánh cướp luôn trại Như Hồng. Vua Tống Chân Tông xuống chiếu thư bảo các châu từ nay không được dụ vời quân man rợ và khao đãi yến tiệc, đến đỗi sinh sự."

Năm 1024, vua sai Thái tử Lý Phật Mã đem quân đánh Phong Châu, còn Khai Quốc vương thì đánh châu Đô Kim. Cùng năm đó, nhà vua tu sửa thành Thăng Long. Năm 1026, vua lại xuống chiếu cho Thái tử đi đánh giặc ở Diễn Châu.[38][39]

Năm 1027, Thái tử lại được lệnh đánh châu Thất Nguyên, Đông Chinh vương cũng đi đánh châu Văn.[38][39] Tháng 5 năm 1028, Chuyển vận sứ Quảng Tây tâu vua Tống rằng vua Lý Công Uẩn tự tiện cho con rể là Thân Thừa Quý đem quân vào cướp phá và bắt giữ dân Tống ở biên giới, nên xin triều Tống cho tăng cường binh bị, đồng thời phối hợp với dân quân ở các khe động cùng quân ở Ung Châu để đánh lại quân của Thừa Quý.[40]

Tôn giáo

[sửa | sửa mã nguồn]
Tượng thờ vua Lý Thái Tổ ở chùa Kiến Sơ, Gia Lâm, Hà Nội.

Vua vốn xuất thân từ chùa chiền, nên sau khi lên ngôi rất hậu đãi giới tăng lữ. Vào năm 1010, sau khi đã dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, việc đầu tiên vua làm là xuất ra 2 vạn quan để làm chùa ở phủ Thiên Đức (tức Cổ Pháp), tất cả tám sở, đều dựng bia ghi công.[27]

Tháng 12 năm Canh Tuất (năm 1010 dương lịch), vua sai sứ sang nước Tống để thỉnh kinh điển Phật giáo. Tống Chân Tông chấp thuận, trao cho vua Lý kinh Địa Tạng cùng với chữ ngự bút do chính tay vua Tống viết.[18] Cùng năm, sau khi đã được xây dựng Hoàng thành, vua lại chùa ngự Hưng Thiên và tinh lâu Ngũ Phượng. Ngoài thành về phía nam dựng chùa Thắng Nghiêm.[27]

Tháng 6 năm Mậu Ngọ (1018), vua lại sai viên ngoại lang Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang nước Đại Tống thỉnh Tam tạng kinh đem về để vào kho Đại Hưng.[30][41]

Tháng 9 năm Giáp Tý (1024), Thái Tổ sai dựng chùa Chân Giáo trong nội đô Thăng Long, để hoàng đế lui tới nghe kinh pháp.[38] Về việc này, Lê Văn Hưu nhận xét: "...Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm tăng hơn nghìn người ở Kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể."[27]

Qua đời

[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 năm Mậu Thìn 1028 (tức năm Thuận Thiên thứ 19), sức khỏe vua đã không được tốt, thường xuyên đau yếu.[39] Ngày 31 tháng 3 năm ấy, vua băng hà ở điện Long An, ở ngôi 19 năm, hưởng dương 54 tuổi.[42]

Khi Lý Thái Tổ vừa băng hà, việc tế táng lại chưa hoàn tất, thì ba vương gia Vũ Đức vương, Đông Chinh vương và Dực Thánh vương cùng quân sĩ vây hãm thành, nhằm mục đích cướp ngôi Thái tử Lý Phật Mã. Thái tử đem quân vào thành, quyết một trận với 3 vương.[42] Khi quân của Thái tử và quân các vương đối trận, thì Võ vệ tướng quân Lê Phụng Hiểu rút gươm ra chỉ vào Vũ Đức vương mà bảo rằng: "Các người dòm ngó ngôi cao, khi dễ tự quân, trên quên ơn tiên đế, dưới trái nghĩa tôi con, vậy Phụng Hiểu xin dâng nhát gươm này!". Nói xong chạy xông vào chém Vũ Đức vương ở trận tiền. Quân các vương trông thấy sợ nên bỏ chạy cả và liền bị quân triều đình đuổi theo và giết chết sạch, chỉ có Dực Thánh vương và Đông Chinh vương là thoát được.[42] Sử gọi sự kiện ba vương tranh ngôi với thái tử Lý Phật Mã này là Loạn tam vương.

Thái tử Lý Phật Mã lên ngôi kế vị, tức vua Lý Thái Tông. Sau khi Lý Phật Mã lên ngôi, Dực Thánh vương và Đông Chinh vương đến cửa khuyết để xin hàng và chịu tội, thì được tân vương xuống chiếu tha tội chết và được phục chức như cũ.[43] Tháng 4 năm 1028, nghe tin về loạn tam vương và Vũ Đức vương đã bị giết, Khai Quốc vương Lý Long Bồ liền cho cát cứ phủ Trường Yên mà mình đang đóng để làm phản triều đình. Tân vương liền thân chinh đi đánh. Quân triều đình vừa đến vây phủ Trường Yên thì Long Bồ ra hàng và được vua Thái Tông chấp thuận. Lý Long Bồ được tha tội và được phục chức như cũ.[44][45][46][47]

Đến tháng 10 năm 1028, Lý Phật Mã cho an táng vua cha ở Thọ Lăng, phủ Thiên Đức, truy tôn miếu hiệu là Thái Tổ, thụy hiệu là Thần Vũ hoàng đế (Hoàng đế Thần Vũ).[48]

Gia đình

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Cha: Hiển Khánh vương.
  • Mẹ: Minh Đức Thái hậu Phạm Thị Ngà.
  • Bà nội: Đến năm 1018, vua truy phong bà nội chức thái hậu và đặt tên thụy.[b]
  • Anh em:
  1. Dực Thánh vương, có sách ghi là con trai.[c]
  • Hậu phi: Lúc mới lên ngôi, Thái Tổ đã có 6 hoàng hậu, đến năm 1016 thì lập thêm 3 hoàng hậu nữa, nên tổng cộng vua có 9 hoàng hậu,[36][29] trong đó có một số người được sử ghi danh hiệu:
  1. Lập Giáo hoàng hậu: sử chép là vợ cả, theo dã sử tên húy là Lê Thị Phất Ngân, con của Lê Hoàn, là mẹ của Lý Thái Tông. Sau được Lý Thái Tông phong Linh Hiển Hoàng thái hậu.[49]
  2. Ái Vân phu nhân Chu thị
  3. Tá Quốc Phu nhân
  4. Lập Nguyên Phu nhân

Còn lại đều không rõ tên họ.

  • Con cái: Ít nhất 7 hoàng tử, 13 công chúa.
  1. Khai Thiên vương Lý Phật Mã, năm 1009 phong Hoàng thái tử. Mẹ là Linh Hiển Hoàng thái hậu.
  2. Khai Quốc vương Lý Bồ, phong năm 1013, ở phủ Trường Yên.[35]
  3. Đông Chinh vương Lý Lực, phong năm 1018.
  4. Vũ Đức vương, không rõ thân thế, theo quan điểm của Trần Trọng Kim là con Lý Thái Tổ.
  5. Uy Minh hầu Lý Nhật Quang, còn có tên Lý Hoảng. Theo Việt điện u linh tập, mẹ là Linh Hiển Hoàng thái hậu.
  6. Công chúa An Quốc, gả cho Đào Cam Mộc.
  7. Lĩnh Nam Công chúa (Lý Bảo Hòa), gả cho Thân Thừa Quý

Nhận định

[sửa | sửa mã nguồn]
Tượng Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông ở đền Lý Bát Đế.

Các sử gia hậu thế của đời Trần, Lê và Nguyễn đều ca ngợi đức độ và tài trị quốc của Lý Thái Tổ. Sử thần Lê Văn Hưu trong Đại Việt sử ký, nhận xét:

Có người hỏi: Lê Đại Hành với Lý Thái Tổ ai hơn? Thưa rằng: Kể về mặt trừ dẹp gian trong, đánh tan giặc ngoài, làm mạnh nước Việt ta, ra oai với người Tống thì Lý Thái Tổ không bằng Lê Đại Hành có công lao gian khổ hơn. Nhưng về mặt tỏ rõ ân uy, lòng người suy tôn, hưởng nước lâu dài, để phúc cho con cháu thì Lê Đại Hành không bằng Lý Thái Tổ lo tính lâu dài hơn. Thế thì Lý Thái Tổ hơn ư? Đáp: Hơn thì không biết, chỉ thấy đức của họ Lý dày hơn họ Lê, vì thế nên nói theo họ Lý.

— Sách này không còn, dẫn lại theo Đại Việt sử ký toàn thư[50]

Sử thần Ngô Sĩ Liên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư bình rằng:

Lý Thái Tổ dấy lên, trời mở điềm lành hiện ra ở vết cây sét đánh. Có đức tất có ngôi, bởi lòng người theo về, lại vừa sau lúc Ngọa Triều hoang dâm bạo ngược mà vua thì vốn có tiếng khoan nhân, trời thường tìm chủ cho dân, dân theo về người có đức, nếu bỏ vua thì còn biết theo ai! Xem việc vua nhận mệnh sâu sắc lặng lẽ, dời đô yên nước, lòng nhân thương dân, lòng thành cảm trời, cùng là đánh dẹp phản loạn, Nam Bắc thông hiếu, thiên hạ bình yên, truyền ngôi lâu đời, có thể thấy là có mưu lược của bậc đế vương. Duy có việc ham thích đạo Phật, đạo Lão là chỗ kém.

— Đại Việt sử ký toàn thư

Sử thần Lê Tung, tác giả bài Đại Việt thông giám tổng luận thì nhận xét:[51]

Lý Thái Tổ nhân Ngọa Triều thất đức, hiệp điềm tốt sét đánh thành chữ, ứng mệnh trời, thuận lòng người, thừa thời mở vận; có đại độ khoan nhân, có quy mô xa rộng, dời đô định vạc, kính trời yêu dân, tô ruộng có lệnh tha, phú dịch có mức độ. Bắc Nam thông hiếu, thiên hạ bình yên. Song thánh học chẳng nghe, nho phong chưa thịnh, tăng ni chiếm nửa dân gian, chùa chiền dựng đầy thiên hạ, không phải là đạo sáng nghiệp truyền dòng vậy.

— Lê Tung

Khâm định Việt sử Thông giám cương mục nhận định:

Nhà Lý được nước, cũng không phải chính nghĩa cho lắm, nhưng đương buổi Lê Ngọa Triều, lòng người lìa tan, sinh dân vô chủ, không về với Công Uẩn còn biết theo ai?

— Khâm định Việt sử Thông giám cương mục[52]

Sử gia người Mỹ K.W Taylor nhận định:

Lý Công Uẩn, một người được đỡ đầu bởi các thế lực tu viện rõ ràng đã chế ngự trung tâm văn hóa và hành chánh cổ xưa tại đồng bằng sông Hồng, phất lên từ Hoa Lư và trở thành vị chỉ huy thị vệ hoàng cung và, trong năm 1009, sau sự từ trần của người kế ngôi cũng là con trai thất nhân tâm của Lê Hoàn, đã được lập làm vua với sự đồng tình của mọi người. Lý Công Uẩn (được nhớ đến sau khi mất với miếu hiệu Lý Thái Tổ) đã từ bỏ Hoa Lư và đặt kinh đô của ông tại trung tâm hành chính cũ từ thời lệ thuộc nhà Đường (Hà Nội ngày nay), đặt lại tên là Thăng Long.

— K. W. Taylor

Tuy nhiên, việc vua quá sùng đạo Phật, dẫn đến chuyện mê tín dị đoan bị các sử gia phê phán. Sử thần Ngô Thì Sĩ trong Việt sử tiêu án phê bình:[3]

Vua Lý Thái Tổ sinh trưởng nhờ cửa Phật, Khánh Vân nuôi lớn, Vạn Hạnh dạy dỗ, thuyết nhân quả ăn sâu ở trong lòng, cho nên khi mới kiến quốc, đã sáng tạo nhiều chùa, cấp điện độ tăng chúng, muốn đưa cả thế giới vào nước Phật, bất luận hiền ngu muốn cho qui Phật, đến đời sau Nhà Lý mới khởi lên ngôi chùa cao sát mây, lập nên cột chùa bằng đá cao vót, lấy sự thờ Phật làm việc thường phải có của một nước (lập hơn 300 ngôi chùa, đúc quả chuông nặng đến một vạn hai nghìn cân đồng). Khi khánh thành chùa thì mở hội, xá các tội nhân; một nhà sư tự thiêu mà cũng tạ ơn Phật, bụt mọc ở chùa Pháp Vân mà lập nên chùa tự dối mình và dối đến người khác, trên dưới như điên như dại, khiến cho ảo thuật của sư Đại Điên dám hoành hành ở trong cung vua, tà thai của Nguyễn Bông đầu thai làm con thừa tự của nước; đến nỗi vua Huệ Tôn bỏ nước cho con gái nhỏ mà xuất gia đầu Phật; vì nhà sư mà hưng quốc, lại vì nhà sư mà mất nước, Phật cũng không đem chén nước công đức mà độ cho vua cho nước được, phải chăng tại vì vua Thái Tổ, cho nên đến nỗi thế?

Bàn về việc xây dựng chùa chiền và thổ mộc của vua, sử gia Lê Văn Hưu bình trong Đại Việt sử ký:[27]

Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm tăng hơn nghìn người ở kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể. Của không phải là trời mưa xuống, sức không phải là thần làm thay, há chẳng phải là vét máu mỡ của dân ư? Vét máu mỡ của dân có thể gọi là làm việc phúc chăng? Bậc vua sáng nghiệp, tự mình cần kiệm, còn lo cho con cháu xa xỉ lười biếng, thế mà Thái Tổ để phép lại như thế, chả trách đời sau xây tháp cao ngất trời, dựng cột chùa đá, điện thờ Phật, lộng lẫy hơn cung vua. Rồi người dưới bắt chước, có kẻ hủy thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp, trốn thân thích, dân chúng quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng chùa chiền, nguồn gốc há chẳng phải từ đấy?

— Sách này không còn, dẫn lại theo Đại Việt sử ký toàn thư

Vua còn bị các sử gia đời sau phê phán về việc chưa coi trọng phát triển nền giáo dục cho đất nước. Các bộ niên sử như Toàn Thư, Việt sử lược, Khâm định đều không chép một sự kiện nào liên quan đến việc phát triển nền giáo dục đời vua Thái Tổ, như việc mở trường học hay mở khoa thi tuyển chọn nhân tài (mãi đến đời Lý Nhân Tông thì triều Lý mới mở khoa thi đầu tiên). Việc giáo dục vào đời vua Thái Tổ vẫn còn bị giới hạn trong hoàng tộc, với chức Thái phó được vua bổ nhiệm vào các năm 1010[8] và 1017[30] để dạy thái tử, chứ sự học chưa thực sự rộng khắp thiên hạ. Về việc vua chưa coi trọng nền học vấn - khoa cử, sử thần Ngô Sĩ Liên có lời phê bình:[4]

... Song chưa làm sáng chính học, lại ưa thích dị đoan, bị lụy về chuyện đó.
— Đại Việt sử ký toàn thư

Sử thần Ngô Thì Sĩ trong Việt sử tiêu án cũng có lời phê bình tương tự:[20]

Vua [...] ở ngôi mười tám năm, là người khoan nhân từ thứ, có độ lượng Đế Vương, nhưng vì chưa tôn chính học, chỉ thích dị đoan, là điều đáng tiếc.
— Việt sử tiêu án

Các công trình gắn liền với tên tuổi của Lý Thái Tổ

[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Thái Tổ và các vị vua nhà Lý được thờ ở đền Đô, phường Đình Bảng, Thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nơi đây là quê hương của nhà Lý. Gần đền Đô là lăng mộ các hoàng đế nhà Lý nằm rải rác trên địa bàn phường Đình Bảng.

Có một ngôi đền thờ riêng vua Lý Thái Tổ, hoàng hậu Lê Thị Phất Ngân và Lý Thái Tông được xây dựng do Hà Nội kết hợp với Ninh Bình là Đền Vua Lý Thái Tổ tại khu di tích Cố đô Hoa Lư (phường Tây Hoa Lư). Tại khu vực động Hoa Lư – quê hương của Thái hậu Dương Vân Nga và cũng là căn cứ ban đầu của Đinh Bộ Lĩnh có các di tích đình Ngọc Nhị, đình Viến thờ vua Đinh và Thái hậu cũng có bài vị phối thờ Hoàng hậu Lê Thị Phất Ngân và Lý Thái Tổ với giai thoại hai người từng về thăm viếng nơi này.

Nhiều địa phương lấy tên ông đặt cho các đường phố và trường học như: đường Lý Thái Tổ ở các tỉnh, thành phố: Bắc Ninh, Hà Nội, Huế, Ninh Bình, Hưng Yên, Đà Nẵng, Phú Thọ, Thành phố Hồ Chí Minh, Quy Nhơn... hay đường Lý Công Uẩn ở: Lào Cai, Đồng Tháp, Quảng Ninh,...

Hà Nội và Bắc Ninh là 2 nơi đã xây dựng tượng đài để tưởng nhớ đến ông.

Năm 2004, một tượng đài Lý Thái Tổ được xây dựng tại trục đ­ường Đinh Tiên Hoàng thuộc khu vực vườn hoa Chí Linh, Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội theo mẫu của nhà điêu khắc Vi Thị Hoa, bằng đồng (nặng 14 tấn, cao 3,3 m) thuộc dạng công trình chào mừng kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.[53] Bà Vi Thị Hoa cho biết là không có tài liệu vật thể nào về khuôn mặt, trang phục của Lý Thái Tổ và nói: "Chúng tôi sáng tác mang tính ước lệ".

Tháng 8 năm 2011, chiếc tàu hộ tống mang tên lửa lớp Gepard 3.9 (Project 11661E) thứ hai của Hải quân Nhân dân Việt Nam – HQ012 – được đặt tên Lý Thái Tổ.

Trong văn hoá đại chúng

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Tác phẩm Diễn viên
2010 Khát vọng Thăng Long Quách Ngọc Ngoan
Về đất Thăng Long Lý Hùng
Huyền sử thiên đô Công Dũng
2011 Lý Công Uẩn: Đường tới thành Thăng Long Phạm Tiến Lộc
Lưu Tiến Đạt
Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện về Lý Thái Tổ.

Chú giải

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Đại Việt Sử ký toàn thư và Việt sử tiêu án chép là Nam Chiếu, tức tên nước Đại Lý trước năm 937
  2. ^ Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư chê trách vua vì phải sau 9 năm lên ngôi thì mới truy tôn bà nội. Sử không chép rõ tước phong và tên thụy này là gì.
  3. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Quyển I, Kỷ nhà Lê, Ngọa Triều hoàng đế, trang 79 có chú giải: Soát lại việc Lý Công Uẩn phong tước ghi tại đây, ngờ Toàn thư chép sót về người được phong là Dực Thánh vương. Đại Việt sử lược (Quyển II, tờ 2b) ghi vua phong "cho anh làm Vũ Uy vương, phong cho em làm Dực Thánh vương". Cương mục (CB2, 8a) không thấy dẫn Đại Việt sử lược, nhưng dẫn Nam Thiên trung nghĩa lục (của Phạm Phi Kiến) nói Dực Thánh Vương là con thứ của Lý Thái Tổ. Phối hợp cả Toàn thư ghi tại đây là Đại Việt sử lược, ngờ Cương mục chú nhầm.

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b c d e f g Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 78.
  2. ^ Thanh Thanh (ngày 25 tháng 6 năm 2013). "Quy hoạch tượng đài Quốc tổ Hùng Vương, anh hùng dân tộc". Báo Điện Tử Chính Phủ. Chính Phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2025.
  3. ^ a b Ngô Thì Sĩ 1775, tr. 42.
  4. ^ a b c d e f g h Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 80.
  5. ^ Nguyễn Thị Huệ (ngày 24 tháng 7 năm 2004). "Chuyện kể về bà Phạm Thị - người sinh ra Lý Công Uẩn". Báo Hà Nội Mới. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2026.
  6. ^ Thu Hà (ngày 22 tháng 2 năm 2021). "Lý Triều Thánh Mẫu Phạm Thị Ngà - thân mẫu vua Lý Công Uẩn". Báo VOV2. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
  7. ^ a b Khuyết danh 1377, tr. 36.
  8. ^ a b c d e Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 79.
  9. ^ a b c d Khuyết danh 1377, tr. 34.
  10. ^ NGỌC PHẢ CÁC VUA TRIỀU LÊ Lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2013 tại Wayback Machine, Trần Bá Chí, đăng trên Báo Hán Nôm của VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM - VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM, năm 2010.
  11. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1884, tr. 103.
  12. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 73.
  13. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 74.
  14. ^ a b Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 75.
  15. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 76.
  16. ^ Ngô Thì Sĩ 1775, tr. 40, "Khai Minh Vương"
  17. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 77.
  18. ^ a b c d e Lê Tắc 1961, tr. 101.
  19. ^ Khuyết danh 1377, tr. 35.
  20. ^ a b c d Ngô Thì Sĩ 1775, tr. 41.
  21. ^ Theo Báo Đại Đoàn Kết (ngày 7 tháng 12 năm 2010). "Họ Thân - một nguồn sông tỏa trăm nhánh". Báo Dân Việt. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2026; "Thân Thừa Quý được vua Lý Thái Tổ gả Lĩnh Nam Công Chúa (Lý Thị Bảo Hòa)"{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: postscript (liên kết)
  22. ^ Lý Đào, Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên, quyển 73, "Năm Đại Trung Tường Phù thứ 3 [1010]"
  23. ^ Ngô Thì Sĩ 1800, tr. 223.
  24. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1884, tr. 87.
  25. ^ K. W. Taylor, Looking Behind The Vietnamese Annals, Lý Phật Mã (1028-54) and Lý Nhật Tôn (1054-72) In The Việt Sử Lược and The Toàn Thư, The Vietnam Forum, A Review of Vietnamese Culture and Society, Yale Center For international and Area Studies, no. 7, Winter-Spring 1986, các trang 47-68.
  26. ^ Đất nước Việt Nam qua các đời, Nhà Xuất bản Hồng Đức, 2016, trang 141.
  27. ^ a b c d e f g Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 81.
  28. ^ a b c d e f Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 82.
  29. ^ a b c Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 84.
  30. ^ a b c d e f Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 85.
  31. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 99.
  32. ^ Đất nước Việt Nam qua các đời, Nhà Xuất bản Hồng Đức, trang 141.
  33. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nhà Xuất bản Giáo dục, 2012, trang 528.
  34. ^ Đất nước Việt Nam qua các đời, Nhà Xuất bản Hồng Đức, trang 145.
  35. ^ a b c d e Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 83.
  36. ^ a b c Ngô Thì Sĩ 1775, tr. 43.
  37. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1884, tr. 112.
  38. ^ a b c Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 86.
  39. ^ a b c Khuyết danh 1377, tr. 38.
  40. ^ Lê Tắc 1961, tr. 102.
  41. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1884, tr. 111.
  42. ^ a b c Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 87.
  43. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 88.
  44. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 89.
  45. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1884, tr. 115.
  46. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1884, tr. 116.
  47. ^ Khuyết danh 1377, tr. 39.
  48. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 90.
  49. ^ Lê Doãn Đàm (ngày 9 tháng 12 năm 2019). "Sự tích Phủ Kình Thiên". Báo Văn Nghệ Ninh Bình. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2026.
  50. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 66.
  51. ^ Lê Tung. Việt giám thông khảo tổng luận. Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm. tr. 10b-11a. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2017.
  52. ^ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Chính biên, quyển II
  53. ^ Việt Anh (ngày 27 tháng 9 năm 2003). "Khó khởi công xây dựng tượng đài Lý Thái Tổ vào dịp 10/10". VN Express. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2026.

Tài liệu tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Ngô Sĩ Liên (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Bản Kỷ, Quyển II , Hanoi: Social Science Publishing House, Kỷ nhà Lý: Thái Tổ Hoàng Đế{{Chú thích}}: Quản lý CS1: postscript (liên kết)
  • Khuyết danh (1377), Đại Việt sử lược, quyển II: Vua Thái Tổ
  • Quốc sử quán triều Nguyễn (1884), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Hanoi: Education Publishing House, Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2009, Chính biên{{Chú thích}}: Quản lý CS1: postscript (liên kết)
  • Ngô Thì Sĩ (1775), Việt sử tiêu án, Nhà Xuất bản Văn Sử
  • Ngô Thì Sĩ (1800), Đại Việt sử ký tiền biên, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin
  • Lê Tắc (1961), An Nam chí lược, Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam biên dịch, Viện Đại học Huế
  • Đào Duy Anh (1964), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nhà Xuất bản Hồng Đức (xuất bản 2016)
  • Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, tập 2, Nhà Xuất bản Giáo dục, 2012.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Lý Thái Tổ tại Từ điển bách khoa Việt Nam
  • Lý Thái Tổ (Vietnamese emperor) tại Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh)
  • Lễ dâng hương Vua Lý Thái Tổ trong đêm giao thừa Việt Chiến, báo Thanh Niên 12:17 AM - 06/02/2010 lưu 7/2/2010
  • Khởi công xây dựng tượng đài Lý Thái Tổ Việt Anh. Vnexpress. 17/8/2004 | 09:08 GMT+7
Lý Thái Tổ
Tiền nhiệm:Nhà Tiền Lê Hoàng đế Nhà Lý1010-1028 Kế nhiệm:Lý Thái Tông
  • x
  • t
  • s
Vua nhà Lý
Thái Tổ · Thái Tông · Thánh Tông · Nhân Tông · Thần Tông · Anh Tông · Cao Tông · Lý Thẩm · Huệ Tông · Nguyên Hoàng · Chiêu Hoàng
Vua Việt Nam • Hùng Vương • An Dương Vương • Nhà Triệu • Trưng Vương • Bắc thuộc • Nhà Tiền Lý • Tự chủ • Nhà Ngô • Nhà Đinh • Nhà Tiền Lê • Nhà Lý • Nhà Trần • Nhà Hồ • Nhà Hậu Lê • Nhà Mạc • Chúa Trịnh • Chúa Nguyễn • Nhà Tây Sơn • Nhà Nguyễn
  • x
  • t
  • s
Nhà Lý
Quân chủThái Tổ • Thái Tông • Thánh Tông • Nhân Tông • Thần Tông • Anh Tông • Cao Tông • Thẩm • Huệ Tông • Nguyên Vương • Chiêu Hoàng
Sự kiện Dời đô về Thăng Long • Loạn họ Nùng • Chiến tranh Việt – Chiêm (1044  • 1069)  • Kháng chiến chống Tống (Phạt Tống  • Phòng thủ Như Nguyệt)  • Chính biến Canh Ngọ • Chiến tranh Việt – Khmer  • Loạn Quách Bốc • Suy vong
Lĩnh vực Chính trị • Ngoại giao • Hành chính • Quan chế • Quân sự • Pháp luật • Văn học • Nghệ thuật • Kinh tế (Thủ công nghiệp  • Thương mại • Nông nghiệp • Tiền tệ)  • Giáo dục • Tôn giáo • Văn hóa Lý–Trần
Di tích Hoàng thành Thăng Long • Văn Miếu – Quốc Tử Giám • Sơn Lăng nhà Lý
Hiện vật An Nam tứ đại khí (Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm • Tháp Báo Thiên • Chuông Quy Điền)  • Tượng A-di-đà chùa Phật Tích
Bang giaoNhà Tống • Nhà Kim • Đại Lý • Chiêm Thành • Ai Lao • Chân Lạp
  • Hồng Bàng
  • An Dương Vương
  • Triệu
  • Tự chủ
  • Đinh
  • Tiền Lê
  • Trần
  • Hồ
  • Lê sơ
  • Lê trung hưng
  • Mạc
  • Tây Sơn
  • Nguyễn
Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩn Sửa dữ liệu tại Wikidata
Quốc tế
  • VIAF
  • FAST
  • WorldCat
Quốc gia
  • Hoa Kỳ

Từ khóa » Số 11 Lý Thái Tổ