Lý Thuyết Thương Mại Mới – Paul Krugman

Accéder au contenu thứ nhất là cái gọi là “thuyết thương mại mới” (“new trade theory”) và thứ hai là “kinh tế địa lý mới” (new economic geography).

1. “Thuyết thương mại mới” phát sinh từ nhận định rằng, dù “thuyết thương mại cũ” soi sáng rất nhiều cơ cấu thương mại toàn cầu, vẫn còn một số hiện tượng quan trọng mà nó không giải thích được. Khối lượng thương mại giữa Pháp và Đức, chẳng hạn, là rất cao, dù hai nước khá giống nhau về tài nguyên cũng như khí hậu. Mậu dịch giữa Mỹ và Canada cũng thế. Hơn nữa, hàng hóa mà các nước đã phát triển buôn bán với nhau thường là cùng một thứ (chẳng hạn như Mỹ xuất khẩu ôtô mà cũng nhập khầu ôtô), chứ không phải luôn luôn xuất khẩu thứ này, nhập khẩu thứ khác.  (Nên để ý rằng sự kiện này đã được phát giác từ thập kỷ 1950, Krugman không phải là người đầu tiên nhận thấy.)

Tuy đã có một số lý thuyết giải thích hiện tượng này (thường được gọi là “thương mại nội ngành” – intra-industy trade) nhưng hầu hết đều vá víu, tùy tiện, chỉ áp dụng cho vài trường hợp thật cá biệt. Đóng góp to lớn của Krugman là chứng minh rằng “thương mại nội ngành” hoàn toàn có thể là hậu quả của (sự đa dạng) chủng loại sản phẩm và đặc tính sản xuất. Cụ thể, có khá nhiều sản phẩm không giống lúa mì, hoặc chuối (mà rất nhiều nơi trên thế giới sản xuất được), nhưng lại giống loại máy bay khổng lồ (jumbo jet), mà chỉ vài nơi trên thế giới sản xuất. Tại sao? Lý do chính là một số công nghiệp có đặc tính mà kinh tế học gọi là “tính tiết kiệm do quy mô” (economies of scale): số lượng sản xuất càng cao thì giá phí bình quân càng thấp. Đối với loại hàng hóa có tính này thì thế giới chỉ cần vài cơ xưởng sản xuất là đủ. Những cơ xưởng này tất nhiên phải tọa lạc ở nơi nào đó, và quốc gia nào “may mắn” có chúng thì sẽ xuất khẩu những loại hàng ấy, còn các quốc gia khác thì phải nhập khẩu từ họ.

Cách giải thích của Krugman tất nhiên dẫn đến câu hỏi: Quốc gia nào sẽ là nơi có cơ xưởng sản xuất máy bay, hoặc một loại máy chuyên dụng, hoặc một kiểu ôtô đặc biệt mà một số người tiêu dùng khắp thế giới đều muốn? “Thuyết thương mại mới” của Krugman đưa câu trả lời, khá bất ngờ và thú vị: Điều đó không quan hệ! Rất nhiều loại hàng có tính “tiết kiệm do quy mô”; quốc gia nào cũng có một số hàng như vậy; mọi chi tiết khác (có thể là do tình cờ của lịch sử) đều không là quan trọng! Quan trọng là cái bức tranh toàn cảnh của thương mại thế giới: Bức tranh ấy được định đoạt bởi những yếu tố như tài nguyên và khí hậu (như trong thuyết thương mại “cũ”), nhưng thêm vào đó là rất nhiều những chuyên biệt hóa căn cứ trên tính tiết kiệm do quy mô, như thuyết thương mại “mới” vừa cho thấy. Đó là lý do tại sao khối lượng thương mại toàn cầu trên thực tế rất lớn, nhất là giữa những nước khá giống nhau, hơn là khối lượng mà thuyết thương mại “cũ” (chỉ căn cứ trên sự khác biệt tài nguyên và khí hậu) tiên đoán.

2. Khoảng mươi năm sau khi trình làng “thuyết thương mại mới”, Krugman đặt câu hỏi: Điều gì sẽ xảy ra nếu như vài (nhưng không tất cả) nguồn lực kinh tế (cụ thể là lao động và vốn) có thể di chuyển từ nơi này đến nơi khác? Trong thế giới của “thuyết thương mại cũ”, thương mại (hoặc, nói cách cầu kỳ, “sự lưu động của hàng hóa”) có thể được thay thế bằng “sự lưu động của yếu tố sản xuất”: nếu nhà máy và công nhân có thể tự do di chuyển từ vùng này sang vùng khác, thì những nhà máy và công nhân này sẽ phân tán đến “gần” nông dân, để “tối thiểu hóa” phí vận chuyển nông phẩm lẫn hàng công nghiệp. Song, trong thế giới “tiết kiệm do quy mô” mà Krugman hình dung thì “hiệu ứng ly tâm” này (đẩy các hoạt động kinh tế ra xa nhau) sẽ gặp sự đối kháng của “hiệu ứng hướng tâm” kéo những hoạt động ấy đến những thị trường lớn. Hiệu ứng hướng tâm này có khuynh hướng tập trung hóa các hoạt động kinh tế. Lấy trường hợp vua  ôtô Henry Ford và kiểu xe “Model T” nổi tiếng, làm thí dụ. Ford có thể xây nhiều nhà máy rải rác khắp nước Mỹ để gần khách hàng. Tuy nhiên, ông sáng suốt tiên đoán rằng dù phí chuyên chở đến khách hàng có là cao nếu tập trung sản xuất ở chỉ một nhà máy ở bang Michigan, tập trung như thế sẽ cho phép ông khai thác “tiết kiệm do quy mô”, phí sản xuất sẽ rất thấp, và rốt cuộc thì giá bán sẽ rẻ hơn là sản xuất ở nhiều nhà máy nhỏ, dù gần khách hàng.

Tất nhiên, sẽ có câu hỏi: nếu tập trung sản xuất vào một số ít địa phương để tận dụng tiết kiệm do quy mô thì nên chọn những địa phương nào? Krugman trả lời: đó là những địa phương có sẵn một thị trường lớn – tức là những địa phương mà các nhà sản xuất khác cũng đã chọn để sản xuất hàng của họ! Qua thời gian, nếu lực hướng tâm này đủ mạnh, chúng ta sẽ có một hiệu ứng tích lũy: những vùng, do một tình cờ lịch sử nào đó, là nơi đầu tiên có những trung tâm sản xuất thì những vùng ấy sẽ thu hút thêm các nhà sản xuất, trở thành trung tâm kinh tế, trong lúc những vùng khác trở thành “ngoại vi”.

Chính vì thế mà, theo Krugman, cho đến gần đây, hầu hết công nghiệp của Mỹ đều nằm trong một “vòng đai” địa lý tương đối hẹp, trải từ miền Tân Anh Cát Lợi (New England) đến vùng Trung Tây (Midwest) của quốc gia này. Tương tự, Krugman nói cách ấn tượng: 60 triệu người Mỹ sống dọc bờ biển miền Đông chẳng phải vì so với nơi khác thì phong cảnh ở đây hữu tình hơn, hoặc khí hậu dễ chịu hơn (trái lại là khác!), song mỗi người sống ở đây vì 60 triệu người khác cũng sống ở đây.

Với cùng một lôgíc, Krugman giải thích tại sao một số công nghiệp nào đó tập trung ở một địa phương nhất định, dù rằng trong trường hợp này thì cái lôgíc sẽ dính líu đến những yếu tố như: ở địa phương ấy số lao động chuyên môn về một ngành nào đó thì đặc biệt hùng hậu, hoặc là ở nơi ấy có nhiều nguồn cung cấp một loại đầu vào mà nơi khác không có.

Có thể hỏi thêm: Điều gì quyết định một công nghiệp định cư ở nơi nào? Trả lời: Thường, là một ngẫu nhiên! Ví dụ như thung lũng Silicon (Silicon Valley, trung tâm công nghiệp điện tử của Mỹ) sở dĩ được như ngày nay cũng vì hai chàng William Hewlett và David Packard (sáng lập viên đại công ty Hewlett-Packard), tẩn mẩn rị mọ trong gara của họ ở một ngôi nhà vùng đó… Một ví dụ khác: Thành phố New York là thủ phủ đồ may mặc của nước Mỹ, phần lớn là vì số lượng mậu dịch về hàng vải đã sẵn có ở đây, và vì đông đảo khách hàng đang sống ở thành phố (lớn nhất nước Mỹ) này.

3. Về khủng hoảng tiền tệ thì ông là một trong số ít người bào chữa quyết định kiểm soát ngoại hối của Thủ tướng (lúc ấy) Mahathir của Malaysia, thay vì nghe lời IMF, trong cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997. Còn về vấn đề phân bố thu nhập ở Mỹ thì phe bảo thủ luôn luôn phủ nhận là sự chênh lệch trong phân bố này ngày càng tăng, và họ cho rằng nếu có tăng thì cũng là do những yếu tố khách quan, cụ thể là tiến bộ công nghệ. Krugman mạnh mẽ phản bác ý kiến này. Dựa vào những con số thống kê khó chối cãi, ông chứng minh rằng hố chênh lệch thu nhập ở Mỹ phần lớn là hậu quả của chính sách của đảng Cộng Hòa, nhất là vào thời Tổng thống Reagan.

4.Krugman thấy tiến hóa như là một “lĩnh vực có mối quan hệ gần gũi” giữa những thành phần kể trên ngoại trừ thành phần thứ ba: “Sự khác biệt chính giữa lý thuyết tiến hóa và kinh tế học là trong khi các nhà kinh tế thường cho rằng các tác nhân trong mô hình của họ rất thông minh trong việc tìm kiếm chiến lược tốt nhất… những nhà tiến hóa không e ngại về giả định hành vi có tầm nhìn gần. Thật vậy, hành vi có tầm nhìn gần là điều cốt yếu trong quan điểm của họ”.

Theo quan điểm của tôi, Krugman có nhiều điểm đúng và một vài điểm sai trong đánh giá của ông về khoa học tiến hóa chủ đạo năm 1996. Ông đã đúng khi cho rằng tư lợi được xem là nguyên tắc giải thích lớn. Ông cũng đúng khi cho rằng những nhà lý thuyết tiến hóa sử dụng các mô hình trạng thái cân bằng và tối ưu hóa, giống như các nhà kinh tế. Điểm lớn nhất mà ông đã sai liên quan đến thành phần thứ tư. Các nhà kinh tế giả định rằng khi các cá nhân tư lợi tương tác, họ được dẫn dắt như thể bởi một bàn tay vô hình đến việc làm có lợi cho lợi ích chung. Hầu hết các nhà lý thuyết tiến hóa năm 1996 đã có thể gọi giả định này là “chọn lọc nhóm ngây thơ”.

5.Một gia đình mắc nợ thì nợ tiền người khác, còn nền kinh tế thế giới với tư cách một tổng thể lại nợ tiền chính nó. Và mặc dù đúng là các quốc gia có thể vay mượn từ các quốc gia khác, Hoa Kỳ thực tế đã ít vay mượn từ nước ngoài kể từ năm 2008 hơn so với giai đoạn trước đó, và châu Âu là chủ nợ ròng (net lender) đối với phần còn lại của thế giới.

Bởi vì nợ là khoản tiền mà chúng ta tự nợ bản thân nên nó không trực tiếp khiến nền kinh tế nghèo đi (và trả nợ cũng không khiến chúng ta giàu lên). Đúng là nợ có thể đem lại nguy cơ cho sự ổn định tài chính – nhưng tình hình sẽ không được cải thiện nếu các nỗ lực nhằm giảm nợ dẫn tới việc đẩy nền kinh tế vào giảm phát và suy thoái.

Điều này đưa đẩy chúng ta đến những sự kiện gần đây, bởi có một mối liên hệ trực tiếp giữa thất bại trong việc thoái nợ trên bình diện tổng thể và cuộc khủng hoảng chính trị mới nổi lên ở châu Âu.

Các nhà lãnh đạo châu Âu hoàn toàn bị cuốn vào khái niệm cho rằng cuộc khủng hoảng kinh tế xuất hiện bởi chi tiêu quá mức, bởi những quốc gia chi tiêu vượt quá khả năng làm ra của cải của họ. Con đường phía trước, mà Thủ tướng Đức Angela Merkel liên tục khẳng định, là quay lại với tính tiết kiệm. Châu Âu, bà tuyên bố, nên học theo tấm gương của những bà nội trợ tiết kiệm nổi tiếng ở vùng Swabia.

6.Lý thuyết thương mại mới bắt đầu nổi lên từ thập kỷ 1970 của thế kỷ XX khi mà một số nhà kinh tế đặt vấn đề về giả thuyết hiệu suất giảm dần theo chuyên môn hoá trong lý thuyết về thương mại quốc tế. Theo họ, tồn tại trường hợp hiệu suất tăng dần trong một số ngành kinh tế và lợi ích kinh tế nhờ quy mô chính là một  trong các trường hợp đặc biệt của hiệu suất tăng dần. Đây là một trong các yếu tố ảnh hưởng tới mô hình thương mại quốc tế.

Lợi ích kinh tế nhờ quy mô là hiện tượng giảm chi phí đơn vị kết hợp với sản lượng đầu ra tăng cao. Nếu như thương mại quốc tế mang lại kết quả là một nước chuyên môn hoá vào sản xuất một sản phẩm nhất định, và nếu có được lợi ích kinh tế nhờ quy mô trong việc sản xuất sản phẩm này thì khi đó sản lượng đầu ra sẽ tăng lên, và chi phí đơn vị sẽ giảm xuống. Trong trường hợp đó, sẽ xuất hiện lợi ích tăng dần đối với việc chuyên môn hoá chứ không phải là lợi ích giảm dần. Nói cách khác, khi một nước sản xuất nhiều hơn, do đạt được lợi ích kinh tế theo quy mô, năng suất lao động sẽ tăng lên và các chi phí đơn vị sẽ giảm xuống.

=========

Liên hệ :

Người viết : Nguyễn Công Trình 

Kênh youtube: kỹ thuật y sinh 

Partager :

  • Partager
  • X
  • Facebook
  • Imprimer
  • LinkedIn
  • Reddit
  • Tumblr
  • Pinterest
  • Pocket
  • Telegram
  • WhatsApp
  • E-mail
J’aime chargement…

Similaire

Navigation des articles

Article précédent : 05 SAI LẦM MẤT TIỀN KHI ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN – Nguyễn Công Trình Article suivant : Cách góp ý ở trường đại học – Nguyễn Công Trình

Laisser un commentaire Annuler la réponse.

Δ

Confidentialité & Cookies : Ce site utilise des cookies. En continuant à utiliser ce site, vous acceptez leur utilisation. Pour en savoir davantage, y compris comment contrôler les cookies, voir : Politique relative aux cookies
  • Commentaire
  • Rebloguer
  • S'abonner Abonné
    • Viết cho vui - Nguyễn Công Trình
    • M’inscrire
    • Vous disposez déjà dʼun compte WordPress ? Connectez-vous maintenant.
    • Viết cho vui - Nguyễn Công Trình
    • S'abonner Abonné
    • S’inscrire
    • Connexion
    • Copier lien court
    • Signaler ce contenu
    • Voir la publication dans le Lecteur
    • Gérer les abonnements
    • Réduire cette barre
%d Concevoir un site comme celui-ci avec WordPress.comCommencer

Từ khóa » Trình Bày Lý Thuyết Thương Mại Mới