Một Cuộc đời Tràn Cảm Hứng - Báo Nhân Dân
Có thể bạn quan tâm
Những người con của Hawking, Lucy, Robert và Tim chia sẻ: “Ông là một nhà khoa học vĩ đại và là một người đàn ông phi thường. Sự nghiệp và di sản ông để lại sẽ sống tiếp trong lòng người nhiều năm tới. Lòng dũng cảm và tinh thần bền bỉ của ông, cũng như bộ óc thiên tài và tính hài hước của ông đã truyền cảm hứng cho nhiều người trên khắp thế giới”. Ông từng nói: “Vũ trụ sẽ chẳng có gì to tát nếu như vũ trụ không phải là quê hương của những người mà bạn yêu thương”.
Đối với các nhà khoa học đồng nghiệp và những người thân yêu bên cạnh, trực giác và tính hài hước sắc bén của Stephen Hawking để lại một dấu ấn đặc biệt bên cạnh một trí tuệ siêu việt. Bệnh tật của Hawking không làm xấu đi hình ảnh của nhà khoa học, mà ngược lại khiến ông trở thành một biểu tượng cho những khả năng vô biên của bộ óc con người.
Hawking bị chẩn đoán mắc bệnh về tế bào thần kinh vận động vào năm 1963 ở tuổi 21. Các bác sĩ khi ấy tin rằng ông chỉ sống thêm được hai năm nữa. Trên thực tế căn bệnh của nhà vật lý tiến triển ở mức chậm hơn nhiều bình thường, và phải hơn nửa thế kỷ sau nó mới có thể đánh bại nhà khoa học. Đối với Hawking, sự chẩn đoán sớm về căn bệnh của ông và việc phải chứng kiến cái chết của một cậu bé mà ông quen biết trong bệnh viện vì bệnh bạch cầu đã soi sáng một lý tưởng sống mới trong lòng nhà khoa học: “Mặc dù có một đám mây mù chờ đợi trong tương lai của tôi, thật ngạc nhiên, tôi thấy rằng tôi có thể tận hưởng cuộc sống nhiều hơn trước. Khi đó tôi bắt đầu thành công trong nghiên cứu của mình. Mục tiêu của tôi rất đơn giản: đem đến sự hiểu biết đầy đủ về vũ trụ, tại sao vũ trụ hiện hữu như vậy và tại sao vũ trụ lại tồn tại”.
Ông bắt đầu sử dụng nạng trong những năm 1960, nhưng từ chối việc sử dụng xe lăn. Đến lúc bắt buộc phải nhờ đến xe lăn, nhà khoa học trở nên nổi tiếng vì những màn lái xe “mạo hiểm” dọc theo các đường phố của Cambridge, không kể đến việc “cố tình” cán lên chân của học sinh hay quay vòng vòng ở sàn nhảy ở các trường đại học.
Bước đột phá đầu tiên của Hawking trong sự nghiệp của ông là vào năm 1970, khi ông và Roger Penrose sử dụng các công trình toán học về các hố đen vào giải thích vũ trụ và tìm ra một điểm dị thường, một vùng có độ cong vô hạn trong không gian và thời gian, nằm trong quá khứ xa xưa của chúng ta: điểm đến bắt đầu của vụ nổ Big Bang.
Penrose phát hiện ra ông có thể nói chuyện với Hawking ngay cả khi khả năng giao tiếp của nhà khoa học bị bệnh tật cướp đi. Hawking, ông cho biết, đã có một quyết tâm tuyệt đối không để cho bất cứ điều gì có thể ngăn cản mình. “Anh ấy nghĩ rằng mình không còn nhiều thời gian để sống, và anh ấy thực sự muốn làm được nhiều nhất có thể vào thời điểm đó”.
Năm 1974, Hawking đã dựa vào lý thuyết lượng tử để khẳng định rằng các hố đen sẽ phát ra bức xạ và cuối cùng sẽ biến mất hoàn toàn. Đối với các lỗ đen có kích thước bình thường, quá trình này rất chậm, nhưng các hố đen nhỏ sẽ phát ra bức xạ với một tốc độ đáng kinh ngạc, và cuối cùng sẽ phát nổ với năng lượng tương đương một triệu quả bom hydro.
Đề xuất của ông rằng các lỗ đen phát ra bức xạ đã khuấy động một trong những cuộc tranh luận sôi nổi nhất trong vũ trụ học hiện đại. Hawking lập luận rằng nếu một hố đen có thể biến mất, tất cả những dữ liệu bị hút vào trong suốt sự tồn tại của hố đen sẽ bị biến mất mãi mãi. Nó mâu thuẫn với một trong những luật cơ bản nhất của cơ học lượng tử, và rất nhiều nhà vật lý không đồng ý với quan điểm này. Cuối cùng Hawking công nhận rằng dữ liệu được lưu giữ trong lỗ đen sẽ được mở rộng, rồi được mã hóa trở lại thành bức xạ theo quá trình bức xạ của hố đen.
Marika Taylor, cựu sinh viên của Hawking và bây giờ là giáo sư vật lý lý thuyết tại Đại học Southampton, nhớ lại thời khắc Hawking thông báo việc ông từ bỏ nghịch lý này với sinh viên của mình. Lúc ấy mọi người đang bàn chuyện trong quán rượu, Taylor nhìn thấy giáo sư của mình đẩy âm lượng của bộ tổng hợp giọng nói của mình lên tối đa: “Tôi bỏ đây!”. Toàn bộ quán rượu quay lại nhìn nhóm nhà khoa học. “Tôi bỏ giả thuyết của mình và thừa nhận rằng việc mất hẳn dữ liệu sẽ không xảy ra”, Hawking nói tiếp một cách nhỏ nhẹ - một thí dụ điển hình về tính hài hước của ông.
Những nghiên cứu của Hawking đã giúp ông gia nhập Hội khoa học Hoàng gia Anh (Royal Society) vào năm 1974 ở tuổi 32. Năm năm sau, ông trở thành giáo sư toán học Lucasian tại Cambridge, một trong những vị trí tiếng tăm nhất của Anh quốc, trước đó từng thuộc về Isaac Newton, Charles Babbage và Paul Dirac, một trong những cha đẻ của cơ học lượng tử.
Những nghiên cứu của Hawking tiếp tục ra đời trong những năm 1980. Lý thuyết về sự giãn nở của vũ trụ cho rằng vũ trụ non trẻ của chúng ta đã trải qua một giai đoạn mở rộng mạnh mẽ. Vào năm 1982, Hawking là một trong những người đầu tiên chứng minh được sự dao động lượng tử - những biến đổi nhỏ trong phân bố vật chất - có thể tăng lên thông qua sự mở rộng này để gia tăng khoảng cách của các thiên hà trong vũ trụ. Những gợn sóng nhỏ này là nền móng của các vì sao, hành tinh và sự sống trong vũ trụ.
Cuốn sách Lược sử thời gian của ông xuất bản lần đầu tiên vào năm 1988, đã đạt Kỷ lục Guinness sau khi nó nằm trong danh sách bán chạy nhất của tờ Sunday Times trong liên tục 237 tuần. Tựa sách này hiện đã bán được hơn 10 triệu bản trên toàn thế giới và được dịch ra 40 ngôn ngữ.
Hawking kết hôn với người yêu trường đại học Jane Wilde, vào năm 1965, hai năm sau khi bị chẩn đoán về căn bệnh của mình. Lần đầu tiên hai người gặp nhau là vào năm 1962, trên đường phố ở St Albans. Một người bạn từng cảnh báo Jane rằng cô sẽ kết hôn vào “một gia đình điên rồ”. Cô gái trẻ 21 tuổi khi ấy tin rằng Stephen sẽ luôn yêu thương mình, theo như trong cuốn sách năm 2013 của Jane, “Traveling to Infinity: My Life with Stephen”.
Năm 1985, trong một chuyến đi đến Cern, Hawking đã được đưa đến bệnh viện trong một ca viêm phổi. Tình hình nguy cấp đến mức người ta còn đề nghị Jane rút dây hỗ trợ sự sống để cho Hawking ra đi một cách nhẹ nhàng. Cô từ chối, và Hawking đã được đưa trở lại bệnh viện Addenbrooke ở Cambridge trong một ca phẫu thuật ngặt nghèo. Ca điều trị này cứu mạng của ông nhưng cướp đi giọng nói của Hawking. Hai vợ chồng có ba người con, nhưng cuộc hôn nhân cuối cũng đã tan vỡ vào năm 1991 vì tình trạng bệnh của Hawking và những mâu thuẫn ngày càng trầm trọng giữa hai người. Bốn năm sau, Hawking kết hôn với Elaine Mason, một trong những y tá từng làm việc chăm sóc ông, cuộc hôn nhân kéo dài 11 năm.
Hawking có thể không phải là nhà vật lý vĩ đại nhất trong thời đại của mình, nhưng trong vũ trụ học ông lại là một nhân vật có vị trí không thể so sánh. Hawking đã giành vô số giải thưởng danh giá về khoa học như giải Albert Einstein, giải Wolf, Huy chương Copley và Giải thưởng Vật lý cơ bản…Cuộc đời của ông là nguồn cảm hứng cho nhiều bộ phim, chương trình truyền hình gần đây nhất là bộ phim “Thuyết vạn vật”, trong đó Eddie Redmayne thủ vai Hawking, một bộ phim đầy cảm động về cuộc đời của nhà khoa học lỗi lạc này.
Nguyên Tổng thống Mỹ B.Obama nói chuyện với S.Hawking tại Nhà Trắng năm 2009.
THANH TRÚC
Từ khóa » Cuộc Sống Của Nhà Khoa Học
-
Marie Curie – Cuộc Đời “Phi Thường” Của Nhà Khoa Học Nữ Vĩ Đại ...
-
"Ngã Ngửa" Với Những Thói Quen Lạ đời Của Các Nhà Khoa Học Nổi Tiếng
-
Top 19 Nhà Khoa Học Nổi Tiếng Nhất Thế Giới
-
Các Nhà Khoa Học Nổi Tiếng Trên Thế Giới - VNTOWORLD
-
10 Nhà Khoa Học Lỗi Lạc Nhất Trong Lịch Sử-10 Nha Khoa Hoc Loi Lac ...
-
Cuộc đời 3 Nhà Vật Lý Nổi Tiếng - Sách Hay - Zing
-
Top 19 Nhà Khoa Học Vĩ đại Và Nổi Tiếng Nhất Lịch Sử | Hegka
-
Nhà Khoa Học – Wikipedia Tiếng Việt
-
Nhà Khoa Học Huyền Thoại Và Nghị Lực Phi Thường - Công An Nhân Dân
-
Những Nhà Khoa Học Lỗi Lạc Nhất Trong Lịch Sử
-
Thiên Tài Stephen Hawking - Một Câu Chuyện Cổ Tích - Báo Nhân Dân
-
Stephen Hawking: “Cuộc Sống Là Bi Kịch Nếu Thiếu Tiếng ... - Facebook
-
Cuộc đời Phi Thường Của Nhà Bác Học Vĩ đại Stephen Hawking