Một Số Thiên Can Và Tứ Hóa - Tử Vi Luận Giải
Có thể bạn quan tâm
Tử Vi Luận Giải 



Số lượt xem trang
Tử Vi
Được thời yếu cũng thành mạnh, bại chuyển thành thắng. Thất thời mạnh nhược thành yếu, thắng chuyển thành bại. Âm Dương Ngũ Hành tác hóa biểu hiện ra bên ngoài là thời vận, đắc cách là gặp thời, phá cách là thất thời. Thành bại không chỉ do nhân mệnh, phần đa do dụng thời vận.Kiến Thức Tử Vi
Trong tử vi có ba cách cục quý. Tinh hệ chính tinh thành cách là quý. Phụ tinh phân bố đúng vị là quý. Hành vận thuận số là quý. Có ba cách cục hung. Tinh hệ chính tinh phá cách là hung. Phụ tinh phân bố thiên lệch là hung. Hành vận bất hợp cách là hung.Chuyên Mục
Tử Vi Lý Số
- Bài Báo Về Tử Vi (1)
- Bài Viết Quan Trọng (71)
- Bạch Hổ (1)
- Bại Tinh (6)
- Cung An Thân (21)
- Cung Dần Thân (4)
- Cung Mão Dậu (3)
- Cung Phu Thê (1)
- Cung Phúc Đức (5)
- Cung Quan Lộc (2)
- Cung Sửu Mùi (3)
- Cung Tài Bạch (2)
- Cung Tí Ngọ (3)
- Cách cục (35)
- Cơ Nguyệt Đồng Lương (4)
- Duyên Số (3)
- Hoa Cái (1)
- Hóa Khoa (1)
- Hóa Kỵ (7)
- Hóa Quyền (3)
- Hỏa Linh (3)
- Khôi Việt (2)
- Không Kiếp (15)
- Không Vong (5)
- Khốc Hư (1)
- Kiến Thức Chung (156)
- Kình Dương (2)
- Kình Đà (9)
- Lá số Tử Vi (74)
- Phượng Khốc (3)
- Phụ Tinh (23)
- Phủ Tướng (2)
- Song Hao (4)
- Sát Tinh (9)
- Tang Môn (4)
- Thanh Long (1)
- Thiên Can (4)
- Tinh Hệ Cự Môn (27)
- Tinh Hệ Liêm Trinh (12)
- Tinh Hệ Phá Quân (18)
- Tinh Hệ Tham Lang (15)
- Tinh Hệ Thiên Cơ (17)
- Tinh Hệ Thiên Lương (19)
- Tinh Hệ Thiên Phủ (14)
- Tinh Hệ Thiên Tướng (13)
- Tinh Hệ Thiên Đồng (13)
- Tinh Hệ Thái Dương (14)
- Tinh Hệ Thái Âm (15)
- Tinh hệ Thất Sát (15)
- Tiểu Hạn (3)
- Tứ Hóa (16)
- Tứ Sát (9)
- Vòng Lộc Tồn (5)
- Vòng Thái Tuế (4)
- Xương Khúc (3)
- Âm Dương Lương (9)
- Đinh Dậu (1)
- Đào Hoa (2)
Tuesday, February 21, 2017
Một số thiên can và tứ hóa
Một số Thiên Can và Tứ Hóa Tứ Hóa được an theo Thiên Can, là hóa khí của Chính Tinh tùy từng tính chất ban đầu mà ra các khí Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Kỵ. Trong tử vi có 14 chính tinh và 4 phụ tinh là Tả Hữu Xương Khúc có hóa khí. Trong các chính tinh có các sao Thiên Tướng, Thiên Phủ, Thất Sát là không có hóa khí. Điều đáng bàn đến rằng các chính tinh không hóa khí hết mà chỉ có một số, có sao hóa ra cả Tứ Hóa, có sao lại không thể Hóa Khí. Với phụ tinh, bộ sao Tả Hữu chỉ hóa thành Khoa, với bộ Xương Khúc có thể Hóa Khoa và Hóa Kỵ. Nhìn chung, nếu giải thích bằng các cách ngũ hành hay tinh tượng có nhiều thuyết giải thích. Bản thân người viết chỉ thử nghiệm cách an các sao Hóa cho chính tinh hay phụ tinh của các thiên can có thực sự chính xác và ý nghĩa của các hóa khí theo các Chính Tinh khác nhau. Trên lá số Tử Vi luôn xuất hiện bộ Tứ Hóa tại các cung, không phải ở tại cường cung hay hơn nhược cung, mà việc phân bổ Tứ Hóa có thực sự hợp cách. Cát Tinh không hợp cũng vô dụng, hung tinh hợp cách thì quyền sát phạt uy lực. Vì nhìn Tứ Hóa tức nhìn bố cục của Chính Tinh, hai sao Xương Khúc và Tả Hữu cũng rất quan trọng tạo nên tính cách ban đầu. Với tuổi Giáp có Tứ hóa là Liêm Phá Vũ Dương theo thứ tự Lộc Quyền Khoa Kỵ. Thái Dương hóa thành Kỵ, Liêm Trinh thành Lộc, Phá Quân thành Quyền và Vũ Khúc thành Khoa, thì bố cục Chính Tinh có sự thay đổi về tính chất ban đầu. Tứ Hóa làm mặt tính chất cơ bản của Chính Tinh tăng lên theo hóa khí. Khi Thái Dương hoá thành Kỵ, các tính chất cơ bản bị cản trở, biến thành khuyết điểm. Các Thiên Can thực chất cũng là những khí ngũ hành phân làm hai nửa Âm Dương như Mộc gồm Giáp- Ất, Hỏa gồm Bính- Đinh, Thổ gồm Mậu- Kỷ, Thủy gồm Nhâm- Quý, Kim gồm Canh- Tân. Các Thiên Can theo năm tác động tới tính cách của con người theo nguyên lí Tứ Trụ tức Giờ- Ngày- Tháng- Năm. Lộc Tồn lấy từ vòng Trường Sinh chu trình của Thiên Can, can Dương thì xếp tại địa bàn cung Tạp khí, can Âm thì xếp tại cung thuần khí. Như Đinh thuộc Âm Hỏa lấy Lộc Tồn tại cung Ngọ, Bính thuộc Dương Hỏa an tại cung Tị, các khí khác cũng như vậy, ngũ hành Thổ an như tại Hỏa. Khôi Việt lấy từ sự hợp hóa của Thiên Can hữu tình mà an theo. Với Tứ Hóa thì lấy của Thiên Can và Chính Tinh tức đủ cả dữ kiện của Tứ Trụ nên sức ảnh hưởng rất lớn tới Mệnh cục. Với tuổi Đinh nếu đủ bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương thuộc văn đoàn thì có được cả bộ Khoa Quyền Lộc. Nếu tuổi Giáp nếu có nhóm Tử Vũ Liêm được bộ Khoa Lộc, nếu giao hội Sát Phá Tham và Tử Vũ Liêm được bộ Khoa Quyền Lộc. Với tuổi Ất nếu được bộ Cơ Lương thì có Quyền Lộc, tuy nhiên cách này luôn có bộ Cơ Đồng phối hợp Âm Lương nên cách Quyền Lộc Kỵ. Với tuổi Bính ta có bộ Cơ Đồng thuộc Cơ Nguyệt Đồng Lương sẽ được bộ Quyền Lộc, nếu có Xương được tam hóa. Với tuổi Mậu khó đạt được nhị hóa, cần thiết có Hữu Bật. Với tuổi Kỷ khó đạt được nhị hóa, cần giao hội Tử Vũ Liêm và Sát Phá Tham. Với tuổi Canh nếu có Nhật Nguyệt được bộ Khoa Lộc. Với tuổi Tân có bộ Cự Nhật sẽ được Quyền Lộc, nếu có thêm Khúc thêm Khoa, dễ có Xương thêm Kỵ. Với tuổi Nhâm khó được nhị hoá cần thiết có Tả Phụ được Khoa. Với tuổi Quý khó được bộ nhị hóa. Vậy xét theo 10 Thiên Can, tuổi Đinh, Giáp, Bính, Tân có thể được Tam Hóa. Trong đó một cách khi bộ Tử Vũ Liêm rối loạn với Sát Phá Tham của tuổi Giáp. Hai cách Cơ Nguyệt Đồng Lương của tuổi Bính Đinh. Tuổi Tân dành cho bộ Cự Nhật. Nhìn chung tỉ lệ đạt tam hóa khó khăn, không tính trường hợp xung chiếu không thành cách luận khác. Bài viết liên quan: Newer Post Older Post Home0 comments:
Subscribe to: Post Comments (Atom)Kết Nối



