Một Số Trò Chơi Học Tập Trong Tiếng Việt Lớp 5 Thu Hút Học Sinh Tích Cực

Phần A / Mở đầu

I . Lí do chọn đề tài

Môn Tiếng Việt ở cấp tiểu học là môn học hình thành ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt ( nghe, đọc, nói, viết ) để học tập và để giao tiếp, có thể nói môn Tiếng Việt là mộn công cụ để học các môn học khác. Do đó môn Tiếng Việt rất quan trọng. Trong điều kiện dạy học ở Tiểu học hiện nay, việc sử dụng các loại trò chơi ngôn ngữ vào hoạt động học tập đã là một phương pháp dạy học có hiệu quả, được các giáo viên xem như một hình thức tổ chức dạy học mới, tích cực, cần phát huy thường xuyên trong các bài giảng môn Tiếng Việt của mình. Việc xây dựng và tổ chức một số trò chơi vui vẻ nhẹ nhàng về môn Tiếng Việt theo yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng là một việc cần thiết để học sinh có thể tự học hoặc tham gia vào các trò chơi cùng bạn bè theo tinh thần “Học vui - vui học”.

Trong quá trình làm việc, học tập của con người, vui chơi là một hoạt động bổ ích ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là ở lứa tuổi tiểu học. Vui chơi không những giúp cho các em được thoả mái rèn luyện thể lực, rèn luyện các giác quan mà nó còn tạo cơ hội cho các em được giao lưu với nhau, được hợp tác với bạn bè, đồng đội trong nhóm, trong tổ…thông qua đó, các em sẽ dần được hòan thiện những kĩ năng giao tiếp. Đó là kĩ năng được đặt ra hàng đầu trong mục tiệu của môn Tiếng Việt bậc Tiểu học nói chung và của môn Tiếng Việt ở lớp 5 nói riêng. Điều đó chứng tỏ: hoạt động vui chơi là hoạt động hỗ trợ việc học.

Trò chơi học tập là một hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn học sinh, có hai đặc điểm cơ bản sau:

+Mục tiêu và nội dung trò chơi phục vụ cho kiến thức và kĩ năng trọng tâm của bài học, đó là nội dung chính của bài học

+Mang đầy đủ tính chất của một trò chơi: Có luật chơi, cách chơi, gây hứng thú và sự thi đua giữa học sinh các nhóm.

Tóm lại, trò chơi không chỉ là phương tiện mà còn là phương pháp giáo dục. Vậy làm thế nào để tổ chức được các trò chơi học tập thật sự hiệu quả trong những giờ học Tiếng Việt. Đó là điều khiến tôi nghĩ đến một số trò chơi phục vụ cho việc học tập và chọn đó làm đề tài cho sáng kiến kinh nghiệm của bản thân : “ Một số trò chơi học tập trong Tiếng Việt 5 thu hút học sinh học tích cực”

II. Cơ sở lí luận và thực tiễn

Bài tập Tiếng Việt trong sách giáo khoa lớp 5 bao giờ cũng nhằm hình thành cho học sinh một đơn vị kiến thức hay rèn luyện cho học sinh một kĩ năng sử dụng kiến thức Tiếng Việt đã học vào một tình huống cụ thể. Mỗi bài tập thường đề cập đến một khía cạnh của nội dung bài học từ mức độ thấp đến mức độ cao, từ hiểu - biết đến vận dụng- phân tích rồi đến tổng hợp- đánh giá nhằm rèn luyện các thao tác tư duy cho học sinh.

Hầu như các bài tập tiếng Việt nào ở lớp 5 cũng là một sự luyện tập để nắm vững một kiến thức tiếng Việt hoặc rèn luyện một kĩ năng sử dụng tiếng Việt, rèn luyện các thao tác tư duy. Vì vậy, trò chơi học tập phải thể hiện được yêu cầu rèn luyện của bài tập. Có nghĩa là trò chơi học tập phải mang được nội dung của bài tập, phải rèn được kĩ năng sử dụng Tiếng Việt, phải rèn luyện các thao tác tư duy từ mức độ thấp đến mức độ cao theo yêu cầu của bài tập.

Trong thực tế khi dạy học Tiếng Việt, giờ học nào tổ chức trò chơi cũng đều gây được không khí học tập hào hứng, thoải mái, vui nhộn. Trò chơi học tập có khả năng kích thích hứng thú và trí tưởng tượng của trẻ em, kích thích sự tư duy và nhận thức trí tuệ của các em. Trò chơi học tập Tiếng Việt là những trò chơi được lồng ghép trong một giờ học, một hoạt động trong tiết học biến việc học tập trên lớp

thành một cuộc chơi, giúp học sinh tiếp nhận kiến thức và rèn kĩ năng dễ dàng hơn, hào hứng hơn.

Dạy học Tiếng Việt 5 với trò chơi cuốn hút học sinh tiểu học bởi các đặc trưng của nó: Trò chơi là một hoạt động tự nguyện, không gò ép, bắt buộc. Trò chơi mang tính tự do nên khi tham gia học sinh hoàn toàn chủ động trong suy nghĩ, trong hành động suốt quá trình vui chơi, do đó có thể phát huy cao nhất khả năng sáng tạo của mình mà không bị phụ thuộc vào các yếu tố xung quanh, không bị người khác chi phối. Trong sự tự do vui chơi, trong không khí cổ vũ sôi nổi của tập thể, học sinh sẽ phát huy mọi khả năng vốn có của mình, làm cho quá trình nhận thức trở nên dễ dàng, hiệu quả hơn. Trò chơi là một hoạt động sáng tạo, đầy yếu tố mới mẻ, bất ngờ; nhiều trò chơi được sử dụng nhiều lần nhưng vẫn lôi cuốn người tham gia, người xem và người tổ chức. Trong khi tham gia, người chơi luôn thể hiện sự sáng tạo của mình, luôn tạo ra kịch tính, tạo ra những tình huống bất ngờ, khó dự đoán trước, khiến khán giả phải chăm chú, say sưa theo dõi.

Dạy học Tiếng Việt với trò chơi học tập cùng lúc đáp ứng cả hai nhu cầu của học sinh, nhu cầu vui chơi và nhu cầu học tập. Trò chơi học tập tạo nên hình thức “chơi mà học, học mà chơi” đang được khuyến khích ở tiểu học và việc sử dụng trò chơi trong giờ học là biện pháp hữu hiệu nhất giúp học sinh học tập và tiếp thu kiến thức tốt hơn. Vì vậy trò chơi học tập Tiếng Việt rất cần thiết trong giờ học Tiếng Việt ở lớp 5 nói riêng và ở tiểu học nói chung.

Phần B / Nội dung

Học sinh tiểu học luôn thích thú những điều mới lạ. Vì vậy, để mỗi giờ học Tiếng Việt hấp dẫn, thu hút học sinh, đòi hỏi người giáo viên phải luôn luôn sáng tạo trong việc vận dụng những trò chơi học tập cũ đồng thời tìm tòi, nghiên cứu để thiết kế những trò chơi học tập mới.

I. Quy trình tổ chức trò chơi

Trò chơi học tập môn Tiếng Việt thông qua 5 bước :

- Giới thiệu tên trò chơi.

- Phổ biến luật chơi.

- Tiến hành chơi.

- Rút ra kiến thức.

- Đánh giá kết luận.

II. Vai trò của trò chơi trong dạy học Tiếng Việt

1. Chức năng luyện tập thực hành.

Dạy học Tiếng Việt với trò chơi thực hiện chức năng của hoạt động thực hành vì các em có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học khi tham gia vào trò chơi. Các em được hình thành những kĩ năng phân biệt được bản chất trong các kiến thức tiếng Việt ở mỗi trò chơi, hiểu được sâu sắc và đầy đủ hơn các tri thức đã học. Qua đó, những thiếu sót trong hoạt động trí tuệ và trong tri thức của các em cũng được phát hiện. Từ đó giáo viên có biện pháp bổ sung và điều chỉnh kịp thời cho các em.

2. Phương tiện hình thành các năng lực trí tuệ

Dạy học Tiếng Việt với trò chơi đẩy mạnh sự phát triển năng lực trí tuệ và phục vụ cho mục đích ấy vì đôi khi trò chơi đề ra cho các em “bài toán” trí tuệ, và việc giải quyết các “bài toán” này đòi hỏi phải thể hiện những hình thức hoạt động trí tuệ muôn hình, muôn vẻ. Trong khi tham gia trò chơi, để giành phần thắng, các em phải linh hoạt, tự chủ, phải độc lập suy nghĩ, phải sáng tạo và có lúc phải tỏ ra quyết đoán.

3. Kích thích hứng thú nhận thức.

Các tiết học có trò chơi sẽ thu hút mức độ tập trung của học sinh mà không một phương pháp nào sánh được. Những kiến thức khô khan và cứng nhắc sẽ sinh động, hấp dẫn nếu được tổ chức dưới hình thức trò chơi và nhờ đó kết quả học tập của học sinh sẽ tăng lên. Các em thể hiện niềm vui, hứng thú với những thành tích mà mình đạt được, thể hiện niềm vui do trò chơi mang lại và cảm thấy vui sướng khi được tham gia vào trò chơi. Từ đó hình thành ở các em tính tích cực, ý thức tự giác trong học tập, bởi vì: “Trong giờ lên lớp nào mà tư duy tích cực được kích thích thì cũng sẽ xuất hiện thái độ tích cực đối với học tập, sẽ hình thành hứng thú nhận thức”.

4. Ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển ngôn ngữ và trí tưởng tượng

Tình huống trò chơi đòi hỏi mỗi đứa trẻ tham gia vào trò chơi phải có một trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định. Nếu các em không diễn đạt được mạch lạc nguyện vọng và ý kiến của mình đối với trò chơi không thể nào tham gia vào trò chơi được (hoặc tham gia không có kết quả). Để đáp ứng được những yêu cầu của việc cùng chơi, trẻ phải phát triển ngôn ngữ một cách rõ ràng, mạch lạc. Trò chơi chính là điều kiện kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ một cách nhanh chóng.

5. Hình thành tính trung thực, có kỉ luật, tính độc lập, có ý thức cao

Khi tham gia vào trò chơi, nhập vai quan hệ với các bạn cùng chơi buộc các em phải đem những hành động của mình phục tùng những yêu cầu nhất định bắt nguồn từ ý đồ chung của trò chơi. Để giành phần thắng trong các trò chơi tập thể, các em phải biết cùng chơi, biết giúp đỡ lẫn nhau, biết dung hoà lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, tức là các em biết điều tiết hành vi của mình theo chuẩn mực của xã hội.

Hơn nữa, dưới sự tổ chức, điều khiển của giáo viên, để tổ (nhóm) mình giành phần thắng, các em ở trong tổ thi đua nhau cùng làm bài và giữ gìn trật tự. Qua đó, có thể giáo dục đức tính trung thực, thật thà, ý thức tổ chức kỉ luật, ý thức tự giác, tính độc lập, tự chủ và ý thức tôn trọng tập thể của các em.

Khi đã xác nhận rằng vui chơi là một hoạt động cần thiết của học sinh tiểu học, thì đồng thời cũng cần nhận biết rằng việc tổ chức các trò chơi cho trẻ là cực kì quan trọng và có ý nghĩa giáo dục to lớn. Tổ chức trò chơi chính là tổ chức cuộc sống của trẻ, vì trò chơi là phương tiện để trẻ học làm người

III. Vận dụng trò chơi học tập vào giảng dạy Tiếng Việt

Khi vận dụng cần lưu ý một số điểm sau :

1. Các yêu cầu khi vận dụng:

- Giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ mục tiêu của bài tập vì nó quyết định việc chọn trò chơi cho phù hợp.

- Giáo viên cần phải nắm được khả năng của từng học sinh để việc phân nhóm chơi hợp lí. Cần chọn hình thức nào lôi cuốn được đông đảo học sinh tham gia nhất.

- Khi vận dụng các trò chơi trong học tập Tiếng Việt, người giáo viên nên hoạch định trước việc sử dụng những phương tiện nào để nâng cao hiệu quả của trò chơi . Có thể gồm :

+ Phương tiện theo nội dung trò chơi quy định ( Ví dụ như : trang phục cho các nhân vật sắm vai….Loại phương tiện này thường được sử dụng trong phân môn Tập đọc, kể chuyện…giúp học sinh tái hiện lại nội dung câu chuyện hay nội dung bài đọc…. )

+ Phương tiện phục vụ cho việc đánh giá ( Ví dụ như : Bảng đúng / sai, mặt khóc/ mặt cười …)

+ Phương tiện vật chất : phần thưởng cho đội thắng cuộc như các phiếu khen tặng, một bông hoa điểm thưởng, bánh , kẹo…Học sinh sẽ rất thích thú khi biết được chơi

thắng cuộc sẽ được thưởng. Đó là động lực để các em tham gia trò chơi nhiệt tình, năng động hơn.

- Mục tiêu của trò chơi học tập là cung cấp kiến thức và rèn kĩ năng do đó:

+ Sau mỗi trò chơi, giáo viên cần gợi ý để học sinh rút ra các nội dung, kĩ năng mà các em đã học được qua trò chơi.

+ Việc đánh giá tổng kết trò chơi có thể giao cho học sinh tự nhận xét, đánh giá và tổng kết để phát huy tối đa khả năng của các em, giúp học sinh rèn luyện óc suy luận, kĩ năng tư duy, kĩ năng giao tiếp từ đó các em sẽ trở nên tự tin, mạnh dạn hơn.

- Ngoài ra, khi tổ chức các trò chơi học tập cho học sinh, giáo viên cũng cần lưu ý đến điều kiện cơ sở vật chất của trường, thời gian khi chơi và sức khỏe của học sinh.

2. Cách vận dụng :

Có rất nhiều cách xếp loại trò chơi học tập :

-Theo mục đích sử dụng :

+Trò chơi dẫn dắt học sinh tiếp cận tri thức.

+Trò chơi rèn kĩ năng thực hành và củng cố kiến thức.

+Trò chơi nhằm ôn tập tổng hợp và rèn óc tư duy.

-Theo yêu cầu rèn kĩ năng : Nghe-Nói- Đọc-Viết

-Theo phân môn :

+Luyện từ và câu

+Tập làm văn

+Chính tả

+Kể chuyện

+Tập đọc

- Theo số lượng học sinh:

+Theo cá nhân

+Theo nhóm, dãy, bàn…

Tóm lại, viêc vận dụng trò chơi học tập trong môn Tiếng Việt là rất cần thiết. Thông qua trò chơi, các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói được rèn luyện, đồng thời kích thích khả năng ứng xử ngôn ngữ của học sinh, rèn luyện tư duy linh hoạt và tác phong nhanh nhẹn , tháo vát , tự tin cho học sinh. Tuy nhiên, việc vận dụng trò chơi học tập phải luôn đi kèm với việc sáng tạo thiết kế ra trò chơi mới bởi học

IV. Thiết kế trò chơi học tập

Để dạy học với trò chơi hiệu quả, giáo viên phải biết thiết kế hoặc sáng tạo một số trò chơi sẵn có để giảng dạy. Trước khi thiết kế cần :

  • Xác định rõ mục tiêu của bài tập để chọn trò chơi phù hợp.

- Việc xác định yêu cầu của bài tập rất quan trọng, mục tiêu của bài tập là cơ sở để lựa chọn trò chơi sao cho phù hợp. Một bài tập có thể tạo nên những trò chơi khác nhau.

Ví dụ : Bài tập 2 tiết Chính tả SGK TV tập 1/ 46 . Tìm các tiếng có chứa uô, ua trong bài văn ‘’ Anh hùng Núp tại Cu-ba ‘’. Mục tiêu của bài tập là học sinh nhận diện được các tiếng có chứa vần uô, ua .

Khi đó ta có thể tổ chức trò chơi có nội dung : Xếp các tiếng trong tập hợp sau thành 2 nhóm, một nhóm gồm các tiếng có vần và một nhóm gồm các tiếng có vần ua. Nếu yêu cầu của bài tập chỉ là tìm từ có tiếng chứa vần hoặc ua thì mục

tiêu của bài tập sẽ là mở rộng vốn từ. Khi đó ta có thể tổ chức trò chơi có nội dung : tìm từ chứa tiếng ua dưới hình thức thi đua giữa hai dãy….

  • Tiến hành thiết kế trò chơi

Giáo viên tiến hành thiết kế trò chơi có hình thức chơi rõ ràng (người chơi, cách chơi,luật chơi…), nội dung thực hiện trò chơi phải đảm bảo nội dung bài tập của Sách giáo khoa hoặc bổ sung thêm nội dung tùy vào việc xác định mục tiêu bài tập cần rèn của giáo viên. Đồng thời thông qua đó rèn những kĩ năng cần thiết cho học sinh.

Một nội dung trò chơi có thể được thể hiện thành các hình thức tổ chức trò chơi khác nhau.

Ví dụ :

- Nội dung trò chơi xếp các từ trong tập hợp sau thành hai nhóm : một nhóm gồm các từ chỉ người, cơ quan, tổ chức thực hiện công việc bảo vệ trật tự- an ninh, một nhóm gồm các từ chỉ hoạt động bảo vệ trật tự, an ninh hoặc yêu cầu của việc bảo vệ trật tự, an ninh.

- Ta có thể có các hình thức tổ chức chơi như sau :

  • Trò chơi chung sức.

Giáo viên phát cho mỗi nhóm một tờ giấy. Theo lệnh của giáo viên, từng nhóm bàn bạc với nhau để thực hiện yêu cầu của trò chơi. Khi nhóm đã thống nhất thì ghi kết quả vào giấy. Ghi xong, dán tờ giấy của nhóm lên bảng lớp. Giáo viên sẽ tính điểm các nhóm theo hai chuẩn : Chuẩn chính xác và chuẩn nhanh nhẹn.

  • Trò chơi đối đáp.

Giáo viên phân thành hai nhóm. Từng thành viên hiểu từ nào thì hỏi thành viên khác của nhóm bạn xem từ đó thuộc nhóm nào. Trả lời đúng thì được 1 điểm. Sau đó đổi ngược lại thành viên nhóm bạn hỏi lại nhóm mình. Cuối cùng tổng hợp điểm của hai nhóm. Nhóm nào được nhiều điểm thì nhóm đó thắng cuộc.

  • Trò chơi Tìm nhà.

Giáo viên phát cho mỗi học sinh một thẻ từ. Từ đó có thể là chỉ người, cơ quan, tổ chức thực hiện công việc bảo vệ trật tự, an ninh, một nhóm gồm các từ chỉ hoạt động bảo vệ trật tự, an ninh hoặc yêu cầu của việc bảo vệ trật tự, an ninh. Học sinh cầm thẻ thuộc nhóm từ nào thì đi về nhóm từ đó. Căn cứ vào kết quả sẽ biết được em nào hiểu bài.

  • Tiến hành làm các đồ dùng phục vụ trò chơi :

Để tổ chức được các trò chơi thì cần phải có những đồ dùng phục vụ nên khi thiết kế các trò chơi, người giáo viên cần phải làm thêm các đồ dùng dạy học phục vụ cho trò chơi đó. Đồ dùng dạy học cần phải đảm bảo được tính thẩm mỹ và khoa học.

V. Một số trò chơi học tập môn Tiếng Việt lớp 5

v Trò chơi ‘’Chọn ô số ‘’

Trò chơi được vận dụng vào phân môn Tập làm văn, bài :Luyện tập tả người, Tiếng Việt 5, tập 1, trang 132.

- Mục tiêu : Giúp học sinh :

+Phát triển vốn từ ngữ miêu tả người, đặc biệt là các từ miêu tả về ngoại hình.

+Phát triển kĩ năng trình bày.

- Chuẩn bị :

+Một bộ ảnh chụp nhiều người ở các độ tuổi, giới tính, nơi chốn khác nhau có đánh số từ 1 đến n ( n là số ảnh chuẩn bị được ).

+Bảng phụ có kẻ sẵn ô số như sau :

- Tiến hành:

+Giáo viên gọi một học sinh lên bảng tham gia trò chơi ( khuyến khích học sinh xung phong ).

+Học sinh được gọi lên chọn một số bất kì trên bảng phụ. Sau đó giáo viên ( hoặc cử một học sinh khác) dán bức ảnh có số tương ứng lên bảng, người chơi có nhiệm vụ miêu tả về người trong ảnh ( từ 2-3 câu ).

+Giáo viên gọi tiếp một số học sinh khác tham gia trò chơi ( số lượng phụ thuộc vào thời gian dành cho trò chơi. )

+Khi trò chơi kết thúc, giáo viên và cả lớp bình chọn người chơi miêu tả hay nhất.

+Học sinh nào có số phiếu bình chọn nhiều nhất sẽ là người thắng cuộc.

- Lưu ý :

+Trò chơi này còn có thể vận dụng vào phân môn luyện từ và câu bài :Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ .Giáo viên chỉ cần thay thế các ảnh chụp bằng những phiếu yêu cầu như : Em hãy đặt câu có sử dụng cặp từ quan hệ nguyên nhân-kết quả; Điều kiện – kết quả ; Tương phản…….

+Giáo viên có thể thay đổi hình thức chơi bằng cách chia số học sinh trong lớp thành 3 dãy thi đua với nhau.

v Trò chơi ‘’Đếm số cánh hoa ‘’

Trò chơi được vận dụng để củng cố lại kiến thức của bài chính tả ở sách Tiếng Việt 5, tập 1 , trang 87.

Bài tập 3 : thi tìm nhanh :

+Các từ láy âm đầu l.

+Các từ láy vần có âm cuối ng .

- Mục tiêu : Giúp học sinh :

+Ôn lại cách viết những từ ngữ có tiếng chứa âm đầu l và âm cuối ng.

+Nhằm để khắc phục lỗi chính tả n/l , n/ng.

- Chuẩn bị :

+Nhiều miếng bìa cắt theo hình cánh hoa ( hình 1)

+Vẽ trực tiếp lên một tờ giấy to 2 vòng tròn làm hai nhị hoa. Trong mỗi nhị hoa ghi : các từ láy âm đầu l ; các từ láy vần có âm cuối ng.( hình 2 )

Hình 1: Cánh hoa Hình 2 : Nhị hoa

- Tiến hành:

+Giáo viên chia học sinh thành nhiều nhóm chơi tùy theo số bộ nhị hoa và cánh hoa chuẩn bị được.

+Khi trò chơi bắt đầu, các nhóm chơi có nhiệm vụ ghi từ theo yêu cầu vào các cánh hoa ( mỗi cánh hoa chỉ ghi một từ ) rồi dán vào nhị hoa cho phù hợp.

+Sau 5-7 phút, giáo viên hô : ‘’ Dừng chơi ! ‘’Nhóm nào dán được nhiều cánh hoa đúng và đẹp sẽ thắng cuộc.

- Lưu ý :

+Trò chơi này còn có thể vận dụng vào phân môn luyện từ và câu ở các bài : Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, ôn tập về từ loại …chỉ cần thay đổi yêu cầu ghi trên nhị hoa.

+Khi kết thúc trò chơi, để khắc sâu kiến thức của bài, giáo viên có thể yêu cầu học sinh đặt câu với một vài từ tìm được và chuẩn bị sẵn các phiếu khen thưởng để động viên các em.

v Trò chơi ‘’Xem ai nhớ nhất ‘’

Trò chơi thường được vận dụng vào các bài ôn tập củng cố kiến thức đã học ở phân môn Luyện từ và câu. Cụ thể là bài :’’ Ôn tập về dấu câu ( dấu phẩy ) ‘’,bài tập 1, Tiếng Việt 5, tập 2, trang 124.

- Mục tiêu : Giúp học sinh :

+Củng cố , khắc sâu kiến thức về tác dụng của dấu phẩy.

+Rèn luyện khả năng tập trung, chú ý.

+Rèn luyện các kĩ năng tư duy bậc cao như : phân tích- tổng hợp.

- Chuẩn bị :

+Bộ bìa gồm 3 thẻ ghi các chữ A, B, C ( mỗi thẻ 1 màu ) tương ứng với các tác dụng của dấu phẩy :

A : Ngăn cách các bộ phận cùng chức vụ trong câu.

B : Ngăn cách trạng ngữ với chủ ngữ và vị ngữ.

C : Ngăn cách các vế câu trong câu ghép.

+Một số thẻ từ ghi các câu học sinh cần phân tích :

  • Khi phương đông vừa vẩn bụi hồng, con họa mi ấy lại hót vang long.
  • Thế kỉ XX là thế kỉ giải phóng phụ nữ, còn thế kỉ XXI phải là thế kỉ hoàn thành sự nghiệp đó.

- Tiến hành:

+Giáo viên chia học sinh thành các đội chơi theo dãy bàn. Phát cho mỗi học sinh một bộ thẻ chữ.

+Khi giáo viên đọc và dán một thẻ ghi câu cần phân tích tác dụng của dấu phẩy lên bảng thì học sinh phải chọn một thẻ chữ tương ứng để giơ lên. Ví dụ, giáo viên đưa thẻ ghi câu đầu tiên thì học sinh phải giơ thẻ chữ B mới đúng.

+Sau mỗi một câu ( một lượt chơi ), giáo viên hoặc 1 học sinh được cử làm trọng tài sẽ đếm số người trả lời đúng ở mỗi đội.

+Khi trò chơi kết thúc, giáo viên sẽ thống kê số học sinh làm đúng ở các lượt chơi.

+Đội nào có số người trả lời đúng nhiều nhất, đội đó thắng cuộc.

- Lưu ý :

+Để kiến thức về tác dụng của dấu phẩy được khắc sâu hơn, sau mỗi lượt chơi, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo của từng câu ghi trong thẻ.

+Trò chơi này còn có thể vận dụng được vào rất nhiều bài ở phân môn Luyện từ và câu, nhằm củng cồ các kiến thức đã học như : củng cố kiến thức về từ đồng âm,từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ trái nghĩa; củng cố kiến thức về cách nối các vế câu ghép; củng cố kiến thức về cách liên kết các câu trong bài…….chỉ cần ta thay đổi các thẻ ghi các bài tập tương ứng.

v Trò chơi “Thi tìm từ mới’’

Mục tiêu:

- Mở rộng vốn từ ngữ cho học sinh .

Chuẩn bị:

- Bảng ô chữ ( hàng dọc 8, hàng ngang 8 đến 10 ô)

- Bút dạ

B

A

O

H

I

Ê

M

B

B

B

B

B

B

B

Tiến hành:

- Chia nhóm, mỗi nhóm 4- 5 học sinh.

- Phát cho mỗi nhóm 1 bảng, trên bảng ở đầu ô ghi chữ cái theo từng bài; ví dụ chữ B

- Yêu cầu các nhóm tìm chữ cái thích hợp điền vào ô trống ở từng hàng để được những từ có nghĩa. Nhóm nào hoàn thành trước sẽ thắng cuộc.

v Trò chơi “Tìm bạn”

Mục tiêu:

- HS hiểu nghĩa từ, ghép đúng các cặp từ trái nghĩa.

- Tạo thói quen nhanh nhẹn cho học sinh

Chuẩn bị:

Thẻ từ

đêm

ngày

dài

ngắn

ghét

yêu

vui vuivuivuivuichậm

nhanh

chê

thấp

cao

dưới

trên

lạnh

nóng

Tiến hành:

- Giáo viên phát cho học sinh 1 thẻ từ.

- Học sinh đọc lại thẻ từ của mình.

- Một học sinh đính thẻ lên bảng.

- Ví dụ: ngắn

+ Một học sinh khác tìm thẻ từ của mình trái nghĩa với nghĩa với thể từ này là dài.

v Trò chơi “Tìm nơi cư trú”

Trò chơi được sử dụng vào phân môn Luyện từ và câu.

Mục tiêu:

- Xác định được đúng các từ loại: danh từ, động từ, tính từ.

- Mở rộng vốn từ.

Chuẩn bị: Một số thẻ thuộc 3 dạng từ loại: danh từ, động từ, tính từ.

TÌM NƠI CƯ TRÚ

danh từ

động từ

tính từ.

………………………

………………………

………………………

………………………

………………………

………………………

Chạy

Múa

Vui vẻ

Nha Trang

Nhường nhịn

Bay

Chăm chỉ

Đăk Nông

Hà Nội

Tiến hành:

- Chia lớp thành 5 nhóm, phát cho mỗi nhóm một bảng nhóm để viết hoặc đính từ loại và một số thẻ thuộc 3 từ loại danh từ, động từ, tính từ.

- Các nhóm chọn thẻ từ và đính vào cột tương ứng.

- Nhóm nào hoàn thành nhanh, đúng thì nhóm đó thắng cuộc.

Lưu ý:

- Có thể cho các nhóm nhận xét chéo sản phẩm của nhau và có thể đặt câu hỏi để nâng cao, khắc sâu

VD: Đây là danh từ chung hay danh từ riêng? Bạn biết thêm từ nào cùng loại?

VI. Kết qu

Việc vận dụng các trò chơi học tập vào thực tế giảng dạy môn Tiếng Việt ở tiểu học làm không khí trong những giờ học trở nên sôi nổi hơn, học sinh rất tích

cực, các em chuyển từ thụ động sang chủ động chiếm lĩnh kiến thức, thích thú với những hình thức học tập mới lạ. Ngoài ra những kĩ năng sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp của các em phát triển vượt bậc. Những học sinh giỏi thì ngày càng tự tin năng động, có trách nhiệm cao trong việc học tập còn những học sinh thụ động thì trở nên tích cực hơn, bắt đầu biết chia sẻ, hợp tác với các bạn để hoàn thành một nhiệm vụ học tập.

Về phía người giáo viên cảm thấy nhẹ nhàng hơn, không còn mệt mỏi khi truyền thụ kiến thức cho học sinh. Vì kiến thức được các em tiếp thu một cách chủ động tích cực thông qua trò chơi. Kĩ năng vận dụng trò chơi linh hoạt hơn, thành thạo hơn. Có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc lựa chọn trò chơi sao cho phù hợp nhất , đảm bảo rèn đúng kĩ năng cho học sinh theo mục tiêu bài tập. Từ đó khả năng sáng tạo được nâng lên một bước, giúp cho cho giáo viên thiết kế được nhiều trò chơi học tập một cách nhanh nhạy hơn.

Phần C / Kết luận

Khi được học Tiếng Việt với trò chơi các em thấy thoải mãi, tự tin mạnh dạn tham gia thể hiện trong các hoạt động. Từ đó những kĩ năng giao tiếp được phát triển. Sự say mê học tập của các em là nguồn động viên thúc đẩy tôi phải luôn sử dụng các trò chơi học tập vào tiết học. Đồng thời luôn tìm tòi, nghiên cứu thiết kế các trò chơi mới để lôi cuốn các em tham gia vào các hoạt động học tập.

Khi vận dụng các trò chơi học tập cần lưu ý một số điều sau đây :

- Trò chơi học tập phải có luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, không đòi hỏi thời gian dài cho việc huấn luyện.

- Trò chơi cần diễn ra trong một thời gian hợp lí, phù hợp với tất cả các đối tượng học sinh.

- Sử dụng đúng lúc, đúng chỗ các trò chơi học tập sẽ có tác dụng rất tích cực, kích thích hứng thú học tập giúp tiết học đạt hiệu quả cao.

- Không lam dụng trò chơi học tập, biến cả tiết học thành tiết chơi hoặc tổ chức quá nhiều trò chơi trong tiết học gây cho học sinh sự mệt mỏi.

- Tránh lặp đi lặp lại trò chơi học tập trong tiết học sẽ không hấp dẫn học sinh, không thu hút học sinh.

Khi sáng tạo các trò chơi học tập cần lưu ý :

- Sáng tạo trên cơ sở phù hợp với mục tiêu bài học cũng như đặc trưng của từng phân môn.

- Việc làm đồ dùng phục vụ cho trò chơi phải đảm bảo tính khoa học, thẩm mỹ, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi tiểu học.

Trên đây là một số suy nghĩ của tôi về cách thiết kế và sử dụng trò chơi học tập Tiếng Việt lớp 5 để thu hút học sinh học tích cực. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp chân thành!

Người thực hiện

Đỗ Thị Thúy Ái

tÀI LIỆU THAM KHẢO

- Trò chơi học tập cấp tiểu học - Nhà Xuất bản Đại học sư phạm

- Lê Phương Nga, “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học”, Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội

- Trần Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga, “Trò chơi học tập tiếng Việt” Nhà xuất bản Thanh niên (2004)

- Sách giáo khoa, sách giáo viên, sách thiết kế bài dạy Tiếng Việt 5, Nhà xuất bản Giáo dục.

-Phương Anh, “Vui chơi và sự phát triển của trẻ”, Báo Khoa học & Đời sống (2006)

- Bạch Văn Quế, “Giáo dục bằng trò chơi”, Nhà xuất bản Thanh niên (2002) .

- www.violet.vn

MỤC LỤC

Phần A / Mở đầu……………………………………………….… trang 1

I . Lí do chọn đề tài………………………………………………. trang 1

II. Cơ sở lí luận và thực tiễn........................................................... trang 2

Phần B / Nội dung……………………………………….………. trang 3

I.Quy trình tổ chức trò chơi........................................................... trang 4

II. Vai trò của trò chơi trong dạy học Tiếng Việt............................trang 4

III.Vận dụng trò chơi học tập vào giảng dạy Tiếng Việt….…...… trang 6

IV. Thiết kế trò chơi học tập……………………………………... trang 8

V. Một số trò chơi học tập môn Tiếng Việt lớp 5……..……...… trang 10

v Trò chơi ‘’Chọn ô số ‘’……………………..………. trang 10

v Trò chơi ‘’Đếm số cánh hoa ‘’…………………….... trang 11

v Trò chơi ‘’Xem ai nhớ nhất ‘’……………………… trang 12

v Trò chơi “Thi tìm từ mới’’……………….…………..trang 14

v Trò chơi “Tìm bạn”…………………………….…….trang 15

v Trò chơi “Tìm nơi cư trú” …………………..……….trang 15

VI. Kết quả…………………………………………..…...….…. trang 17

Phần C / Kết luận……………………………..…...………….… trang 17

Tài liệu ham khảo………………………………………….…… trang 19

Nhắn tin cho tác giả Chung Tuấn Thanh @ 07:01 11/12/2012 Số lượt xem: 6336 Số lượt thích: 0 người

Từ khóa » Trò Chơi Học Tập Tiếng Việt 5