Một Thời để Nhớ - Báo Nhân Dân

Nhân Ngày báo chí cách mạng Việt Nam (21-6), tôi có cái may mắn được ban Biên tập báo Nhân Dân cử đi làm phóng viên chiến tranh ở khu 4, đường Trường Sơn tính ra từ tháng 8-1964, bảy, tám năm liên tục trong đó. Cũng vì có ít nhiều kinh nghiệm hoạt động ở tuyến lửa nên mỗi lần giặc Mỹ leo thang chiến tranh đánh phá ác liệt thủ đô, tôi lại là người được điều động, phân công làm tổ trưởng tổ phóng viên chiến tranh tại Hà Nội. Tổ Hà Nội được sự giúp đỡ cụ thể của ban quân sự, mà người giúp nhiều nhất là anh Lưu Thanh, phái viên của Tổng cục Chính trị tại báo Nhân Dân. Tùy theo tình hình chiến sự, tổ Hà Nội thường có sự bổ sung, thay đổi.

Lực lượng báo Nhân Dân thời ấy cũng chẳng mấy dồi dào, số phóng viên chính thức cho tổ Hà Nội lúc nhiều nhất vẻn vẹn có bốn người viết và hai phóng viên ảnh là các anh Văn Bang, Trịnh Hải. Anh Thế Long (Thế Văn) chú ý viết những bài tố cáo tội ác giặc Mỹ như bài "Lửa từ thăm thẳm hố bom", kể về nỗi đau của một gia đình công nhân hai cha con bị bom Mỹ giết hại đúng bữa cơm trưa. Anh Trần Quỳnh thường chú ý mảng đề tài cứu thương cứu hỏa, những tấm gương anh dũng chiến đấu. Ðỗ Quảng, cùng với tôi, vốn là những phóng viên Ban Quân sự, được phân công theo dõi các đơn vị pháo cao xạ, tên lửa, không quân... Bài viết "Viết bên bệ phóng..." của Ðỗ Quảng được thực hiện giữa hai trận đánh ở một đơn vị tên lửa, mà muốn đến được đơn vị đó, xe của chúng tôi phải dò đường theo vết xe tên lửa và khí tài mới tìm ra trận địa được ngụy trang kín đáo giữa một vùng đồng ruộng phía bắc Hà Nội.

Tổ Hà Nội khi cần còn được Ban Biên tập tăng cường cho nhiều cây bút như các anh Hữu Thọ, Chính Yên, Hồng Vinh, các chị Kim Anh, Phạm Thị Sửu (Phạm Hồ Thu)... Chúng tôi không có phòng làm việc riêng, anh em là người của ban nào thì về ban ấy ngồi viết bài. Nơi họp bàn thường vào buổi trưa, ngồi quanh mấy chiếc ghế ở gốc đa. Buổi sáng hội ý nhanh đầu giờ ở ngay phòng thường trực bảo vệ, ban đêm, sau mỗi trận đánh, gặp nhau hoặc ở trong hầm phòng không, hoặc ở nhà bếp.

Ðiều kiện và phương tiện làm việc hết sức thiếu thốn, ngoài tổ trưởng được phát một chiếc mũ sắt, một đài Xiongmao - loại "xịn" nhất thời bấy giờ, còn anh em nói chung chỉ được phát mỗi người một cây bút Hồng Hà và một cuốn sổ ghi, bìa giấy xanh đỏ hoặc giấy xi-măng. Về phương tiện đi lại, ngoài chiếc xe đạp cá nhân, tổ được bố trí một com-măng-ca đít vuông, có lúc là chiếc U-oát đít tròn do anh Nguyễn Ðăng Dung chuyên trách. Trước mũi xe có cắm cờ đuôi nheo với bốn chữ PKND (phòng không nhân dân).

Danh sách phóng viên chiến tranh được lập gửi sang Bộ chỉ huy phòng không Hà Nội để được phát cho mỗi người một tấm biển bằng vải mầu vàng in chữ đỏ PKND. Tấm biển này là bảo bối, được ghim bằng kim băng trên vai áo, trước túi ngực của từng người. Thật sự, thì chiếc ô-tô và những tấm biển ấy chính là những tờ giấy giới thiệu oách nhất, có hiệu lực nhất, để phóng viên được xông pha trên đường phố, dù đang báo động, hoặc đến các trận địa, làm việc bất cứ lúc nào.

Ðối với phóng viên chiến tranh, mệnh lệnh tập hợp về trụ sở chính là tiếng còi báo động phát ra từ trên nóc Nhà hát Lớn thành phố, hoặc tiếng bom rơi, tiếng súng bắn trả máy bay Mỹ ở một khu vực nào đó. Không có một sự kiện nào, dù xảy ra ban ngày hay ban đêm, dù máy bay Mỹ rơi tại chỗ hay bắt giặc lái Mỹ ở xa tận bên Ðông Anh hay gần như Khâm Thiên, Bạch Mai, hồ Trúc Bạch..., đều có mặt rất sớm phóng viên báo Nhân Dân. Ðến hiện trường, ngoài việc quan sát lấy tài liệu, chứng kiến tội ác và ghi chép chiến công, anh em còn tham gia bới hầm, cứu sập, khênh người lớn, bế trẻ em bị thương đến địa điểm cấp cứu.

Sôi sục, hào hứng, và cũng vất vả nhất là 12 ngày đêm Hà Nội đánh trả B52 của Mỹ. Mở đầu cho trận chiến "Ðiện Biên Phủ trên không" mà chúng tôi được chứng kiến vào đêm 18-12 năm ấy là tại đài quan sát trên nóc nhà Ngân hàng. Giữa tổ chúng tôi và đài quan sát này đã thiết lập được một đường dây thông tin đặc biệt. Sau trận đánh mở màn, lực lượng phòng không của ta bắn rơi tại chỗ hai máy bay tiêm kích, tôi gọi điện lên đài quan sát, chỗ anh Tín, tiểu đội trưởng trinh sát của Bộ tư lệnh thủ đô hỏi xem có gì đặc biệt mới, anh sảng khoái trả lời: "Bắn rơi mấy thằng chiến thuật chưa nhằm nhò gì, đêm nay sẽ ra đòn cho bọn "bò đen" biết thế nào là lễ độ!". Lên đài, tôi mới được giải thích "bò đen" là B52, lần đầu xuất hiện trên vùng trời Hà Nội.

Từ sau cái đêm 18 này, giặc lái B52 gọi Hà Nội là "tọa độ chết" đối với chúng. Trên đài quan sát không chỉ có tiểu đội trinh sát của Bộ tư lệnh thủ đô, còn có tiểu đội trinh sát của Bộ Tư lệnh phòng không Hà Nội do anh Chính làm tiểu đội trưởng. Hai tiểu đội phối hợp tạo thành một đôi mắt tinh nhanh, sắc sảo bao quát mọi hướng trời, mọi vùng ô thành phố. Cùng với các chiến sĩ trinh sát, chúng tôi là những phóng viên đầu tiên ghi sổ tội ác của B52 và chứng kiến sức mạnh đánh trả của Hà Nội anh hùng. Trên cao, trời lạnh, tôi phải cắn chặt hai hàm răng, cố nghe đầy đủ những thông báo nóng của đài quan sát báo về Bộ chỉ huy: Bom rải thảm, ba loạt, phía Cổ Loa, bom rải thảm, ba loạt, phía Ðức Giang... Một B52 vào hướng đông, ba tên lửa, sáu tên lửa, chín tên lửa đuổi theo. Một B52 bay theo hướng nam, một tên lửa đuổi, nổ. Pháo tầm cao bắn tốt, máy bay ta xuất kích...

Một đêm chiến đấu liên tục hết trận này đến trận khác, một đêm bầu trời Hà Nội rực lửa, một đêm đường phố yên ắng theo lệnh của Hội đồng PKND thành phố. Khi có báo động mọi người nhất thiết phải xuống hầm, không ai được đi lại, đứng ngồi trên mặt đất. Rời đài quan sát, xe của phóng viên chiến tranh vẫn chạy trên đường phố, nghe rõ tiếng loa: "Không ai được đi lại, đứng ngồi trên mặt đất". Biết lệnh là thế, nhưng đêm ấy, làm sao chúng tôi lại có quyền vắng mặt nơi hai máy bay B52 đầu tiên của Mỹ bị bắn rơi tại chỗ: một ở xã Yên Thường, Gia Lâm, một ở gần Núi Ðôi, Vĩnh Phú bấy giờ.

Kết thúc một đêm chiến đấu, bao nhiêu vất vả nguy hiểm bỗng dưng tan biến vào sáng sớm 19-12, khi xe chúng tôi chạy qua phố Tràng Tiền, thấy bà con rồng rắn xếp hàng mua báo, ai nấy mặt mũi rạng rỡ đọc tin chiến thắng B52.

Sau 12 ngày đêm ấy, có người hỏi tổ Hà Nội chúng tôi ăn uống, ngủ ngáy thế nào? Ngủ chẳng bao giờ ngon giấc, mệt quá thì gà gật ở một góc phòng, một góc hầm. Ăn thì có bữa được chén cơm tập thể với "canh toàn quốc", anh em gọi vui là "canh bà Sáu". Món thường xuyên nhất là bánh nắp hầm. Sang nhất và tiện nhất là đổi bánh mỳ phiếu, mua một gói kẹo bột nhét vào trong bánh mỳ làm nhân rồi vừa đi trên xe vừa ăn, uống thì mỗi người có một bi-đông nước. Nghĩ lại, thấy khổ quá nhỉ. Biết làm sao, chiến tranh ai chẳng phải chịu đựng gian khổ, miễn là khổ, nhưng thấy vui, thấy tự hào vì mình đã hòa vào cuộc sống chiến đấu của đồng bào, chiến sĩ, đã viết được tin, bài kịp thời phản ánh cuộc chiến đấu vĩ đại của quân dân.

Tôi nhớ có đêm, ngoài anh em tổ Hà Nội, còn có nhiều anh chị em trẻ ở ban khác xin được đi thực tế. Chúng tôi xuống Nhà máy cơ khí Quang Trung lấy tài liệu, vì tự vệ pháo tầm cao ở đây bắn rơi máy bay Mỹ; rồi lại sang bãi đá Khương Trung nơi bắt sống giặc lái B52; rồi lại lên Bách Thảo xem xác máy bay rơi lả tả trên đường Hoàng Hoa Thám, trên hồ làng Ngọc Hà... Ði cả đêm, đói và mệt, về đến phố Hàng Mành, gần Hàng Trống, thấy một hàng phở đã nổi lửa đun nước dùng. Một nữ phóng viên kêu: Ðói quá sếp Thanh ơi! Thì dừng lại, ngồi chờ, chờ gần một giờ để ăn được mỗi người một bát phở bánh pha toàn bột dong riềng.

Chuyện làm báo trong chiến tranh rất dài, nhiều chuyện vui đáng nhớ, cũng có lắm chuyện buồn. Vui buồn có thể phai nhạt dần với thời gian, nhưng cái không bao giờ để cho nó phai nhạt là lòng say mê nghề nghiệp, lòng tự trọng của người cầm bút. Ai cũng có một thời để nhớ, để tự hỏi: Thời đó mình sống và cống hiến được những gì?

PHẠM THANH

Từ khóa » đài Xiongmao