MƯỜI PHÁP BA LA MẬT (PÀRAMÌ) -U Thittila
Có thể bạn quan tâm
Trang
- Trang chủ
- - Hướng dẫn sử dụng trang Web
MƯỜI PHÁP BA LA MẬT (PÀRAMÌ) -U Thittila
MƯỜI PHÁP BA LA MẬT (PÀRAMÌ) Bồ Tát là một vị Phật đang thành, và như vậy Bồ Tát là một chúng sanh đang thực hành, trải qua một giai đoạn không thể tính kể được của chu kỳ thế gian, để đạt đến mức độ cao tột của sự thành tựu về đạo đức, tri thức và tâm linh. Là một vị Bồ Tát, trong mỗi kiếp tái sanh, vị ấy thực hành 10 pháp ba la mật (Pàramì), đây là điều kiện tiên khởi dành cho một vị Bồ Tát.Chúng ta không nên nghĩ rằng lý tưởng Bồ Tát này chỉ dành cho những con người phi thường; điều gì người khác làm được, chúng ta cũng có thể làm được nếu chúng ta nỗ lực và nhiệt tâm cần thiết. Chúng ta cần cố gắng làm việc một cách vô tư vì lợi ích của bản thân cũng như lợi ích của tha nhân. Như vậy, chúng ta đã có mục đích trong cuộc đời này - có lý tưởng cao quý để phục vụ và hoàn thiện mình. Mười pháp ba la mật đó là: 1) Bố thí (Dàna) 2) Trì giới (Sìla) 3) Xuất gia (Nekkhamma) 4) Trí tuệ (Pannà) 5) Tinh tấn (Viriya) 6) Kham nhẫn (Khanti) 7) Chân thật (Sacca) 8) Quyết định (Adhitthàna) 9) Tâm từ (Mettà) 10) Hành xả (Upekkhà). 1. DÀNA (Bố thí) Bố thí là ba la mật đầu tiên. Thực hành bố thí tạo cơ hội cho Bồ Tát được công đức hay phước báu gấp đôi đó là, một mặt nó diệt trừ những tư tưởng bất thiện của lòng ích kỷ, và mặt khác nó làm phát triển những tư tưởng thuần khiết của lòng vị tha.Mục đích của bố thí là để diệt trừ tham ái ngủ ngầm trong tâm chúng ta; ngoài ra nó còn có những phước báu của bố thí đi kèm như tâm hoan hỷ phục vụ, đem lại hạnh phúc, niềm an ủi và xoa dịu khổ đau. Vị Bồ Tát luôn mở rộng lòng thương không phân biệt trong lúc thực hành bố thí, đồng thời cũng không quên dùng óc suy xét sáng suốt của mình trong lúc bố thí. Chẳng hạn, nếu một gã say rượu muốn xin Ngài giúp đỡ, nhưng Ngài tin chắc rằng người say rượu này sẽ lạm dụng vật thí của mình, Bồ Tát sẽ không ngại ngùng từ chối anh ta, vì lòng quảng đại trong trường hợp này sẽ không kiến tạo bố thí Ba la mật được. Tuy nhiên, nếu có người cầu xin giúp đỡ vì mục đích chính đáng, Ngài sẽ bày tở lòng biết ơn sâu xa đối với cơ hội được cho này, và cho họ mọi trợ giúp có thể được một cách sẵn lòng và khiêm tốn, không hề có chút thái độ miễn cưỡng hay đưa ra những lời thoái thác giả dối nào. Vị Bồ Tát luôn sẵn lòng gia ơn cho kẻ khác, nhưng Ngài sẽ không bao giờ cúi đầu van xin chút ân huệ nào cho cá nhân mình. Bồ Tát Bố Thí rộng rãi, không phân biệt đẳng cấp xã hội, tín ngưỡng hay màu da, nhưng bản thân Ngài không mong cầu gì cả, vì Ngài không vị kỷ cũng không tư hữu. Bồ Tát thực hành đức hạnh bố thí đến mức không những có thể từ bỏ những tài sản sở hữu thân yêu khác, mà cả đến quốc thành, thê tử, thậm chí chân tay nếu ai xin Ngài cũng sẵn sàng bố thí. Bố thí ba la mật có thể xem là sự hy sinh cao cả của một vị Bồ Tát vì lợi ích của nhân loại. 2) TRÌ GIỚI (Sìla) Ba la mật thứ hai là trì giới, thanh lọc hành vi cư xử của bản thân. Nếu Bồ Tát đang sống cuộc đời của bậc xuất gia, Ngài sẽ cố gắng hết sức để giữ gìn những giới hạnh liên quan đến đời sống xuất gia; tuy nhiên, nếu sống cuộc đời của một gia chủ, Ngài sẽ nghiêm trì ngũ giới của người tại gia đến mức tối đa, cho dù những quyền lợi của Ngài có bị đe doạ. Bồ Tát sẽ tránh không sát sanh, trộm cắp, nói dối, hoặc nói ly gián, Ngài cũng tránh xa sự tà dâm, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm và uống các chất say. Nói chung một vị Bồ Tát luôn luôn cố gắng giữ gìn những nguyên tắc sơ đẳng nhất (tức ngũ giới) với hết khả năng của mình, vì nếu phạm vào một giới nào trong đó có nghĩa là đã tạo thêm những phiền não và chướng ngại mới trên bước đường giác ngộ giải thoát. Tuy nhiên, cũng không nên hiểu rằng một vị Bồ Tát là hoàn toàn không phạm sai lầm và hoàn toàn không còn bất thiện pháp (xem Jàtaka 318, chuyện tiền thân kể về kiếp Bồ Tát làm tướng cướp), vì một người toàn thiện hoàn toàn, vị đó chắc hẳn đã chứng đắc Phật quả rồi. 3) XUẤT GIA (Nekkhamma) Ba la mật thứ ba là sự Từ Bỏ hay Xuất Gia. Ba la mật này bao hàm hai ý nghĩa, thứ nhất là sự từ bỏ nếp sống trần tục và những lạc thú thế gian để chọn cho mình đời sống thanh cao của một tu sĩ, và thứ hai là việc thực hành tu tiến thiền định nhờ đó chế ngự tạm thời các triền cái ngăn che tiến bộ tâm linh (năm triền cái là: Tham Dục, Sân Hận, Hôn Trầm - Thuỵ Miên; Trạo Cử, Phóng Dật và Hoài Nghi). Mặc dầu vị Bồ Tát có thể sống trong cảnh xa hoa, đắm chìm trong dục lạc thế gian, nhưng cái ý niệm luôn luôn hiện khởi trong tâm của Ngài, là đời sống của một gia chủ quả thật giống như hang ổ của tranh chấp, nếu đem so với đời sống không gia đình của bậc xuất gia ví như bầu trời rộng mở thênh thang. Nhận thức rõ tính chất hư ảo của đời sống trần tục như vậy, Bồ Tát tự nguyện từ bỏ những sở hữu thế gian của mình, và khoác vào người chiếc y vàng giản dị của một nhà tu, Ngài cố gắng sống cuộc sống thánh thiện với tất cả sự trong sạch của nó. Trong đời sống xuất gia này Ngài thực hành giới luật đến một mức độ rất cao hầu như trở thành vô ngã hoàn toàn trong mọi hoạt động của mình; không vì danh, không vì lợi và những điều này cũng không thể khiến Ngài hành động ngược lại với những nguyên tắc thánh thiện của mình. Ðôi khi chỉ một sợi tóc bạc xuất hiện trên đầu (xem Jàtaka số 9) cũng đủ khiến một vị Bồ Tát rời bỏ bầu không khí không còn phù hợp với mình nữa, để hướng về cuộc sống viễn ly, độc lập của một ẩn sĩ; tuy nhiên, việc thực hành hạnh xuất gia này không phải là một quy luật mà một vị Bồ Tát buộc phải tuân thủ. Trong Túc Sanh chuyện số 531, kiếp Bồ Tát là hoàng tử Kusa chẳng hạn, kiếp này Bồ Tát phải chịu đựng rất nhiều tủi nhục bẽ bàng do lòng tham ái không chế ngự được, vì Ngài muốn chiếm đoạt tình yêu của nàng công chúa xinh đẹp Pabhàvatì. 4) TRÍ TUỆ (Pannà) Ba la mật thứ tư là trí tuệ; trí tuệ có nghĩa là sự hiểu biết chân chánh thực chất của thế gian, thấy các pháp như chúng thực sự là. Bồ Tát nỗ lực thu thập kiến thức từ mọi nguồn có thể được, mặc dù vậy, chưa từng có lần nào Ngài biểu lộ lòng mong muốn phô trương những kiến thức của mình, Ngài cũng chưa hề cảm thấy hổ thẹn nhìn nhận sự si mê của mình. Ðiều gì Ngài biết luôn luôn là để phục vụ tha nhân, và Ngài cũng sẵn sàng chia sẻ nó với mọi người không chút giấu giếm. 5) TINH TẤN (Vìriya) Ba la mật thứ năm là tinh tấn. Tinh tấn ở đây không chỉ có nghĩa là sức mạnh thể chất như mọi người thường hiểu, mà nó là sinh lực hay sức mạnh tinh thần, hiển nhiên sức mạnh này siêu việt hơn sức mạnh thể xác rất nhiều, và được định nghĩa như một nỗ lực không hề suy giảm nhằm phục vụ tha nhân cả trong tư tưởng lẫn hành động, củng cố vững chắc đức hạnh tinh tấn này. Bồ Tát phát triển lòng tự tin và tạo cho nó thành phẩm chất đặc biệt của mình, với quan niệm thất bại là mẹ thành công; sự áp bức chỉ làm tăng thêm nỗ lực và hiểm nguy giúp lòng can đảm của mình phát triển mạnh hơn. 6) KHAM NHẪÂN (Khanti) Ba la mật thứ sáu là lòng kham nhẫn. Ở đây kham nhẫn là sự chịu đựng, hình thức cao nhất của lòng chịu đựng khi phải đương đầu với khổ đau có thể do người khác giáng xuống cho mình; và nó cũng còn có nghĩa là lòng kiên nhẫn đối với những sai trái của kẻ khác. Một vị Bồ Tát thực hành kham nhẫn đến mức độ khi tay chân của mình bị người khác chặt đứt đi, Ngài cũng không khởi tâm phẫn nộ. 7) CHÂN THẬT (Sacca) Ba la mật thứ bảy là chân thật. Khi nói đến chân thật có nghĩa là muốn nói đến sự giữ lời hứa của mình, đây là một trong những phẩm cách nổi bật của một vị Bồ Tát. Theo chuyện tiền thân Haritaca (431), không vị Bồ Tát nào trong quá trình luân hồi đã từng nói một lời không chân thật; dù rằng, vị Bồ Tát có thể phạm vào những giới khác, Bồ Tát lấy chân thật làm sự hướng đạo của mình và giữ vững lập trường đó; Bồ Tát luôn luôn cân nhắc kỹ lưỡng trước khi hứa một điều gì, nhưng một khi đã hứa rồi Ngài sẽ hoàn tất với bất cứ giá nào. Trong Túc Sanh chuyện Mahà - Suttasoma có kể lại rằng, vì một lời hứa mà Bồ Tát thậm chí đã hy sinh cả cuộc đời mình để thực hiện nó. Ngài là một người rất đáng tin, thành thực và lương thiện, Ngài nói như thế nào thì làm như vậy, và làm thế nào Ngài nói y như thế, không thêm không bớt. Trong lời nói và hành động của Ngài có một sự hài hoà hoàn hảo, Ngài không bao giờ hạ mình để ve vãn hay tâng bốc kẻ khác để chiếm cảm tình; Ngài cũng chẳng bao giờ đề cao cá nhân mình để được sự kính trọng. 8) QUYẾT ÐỊNH (Adhitthàna) Ba la mật thứ tám là tâm quyết định. Ðiều này có thể được giải thích như là sự quyết tâm vững chắc, nhờ sức mạnh ý chí này mà Ngài đã buộc mọi chướng ngại phải rời khỏi hướng đi của mình, và dù cho bất cứ điều gì xảy đến, có thể đó là tai hoạ hay chuyện đau buồn cũng không làm Ngài xao lãng mục tiêu của mình. Ngài có thể dễ bị thuyết phục để làm điều thiện, nhưng không dễ cám dỗ Ngài làm những điều trái với lý tưởng và đạo đức, và tuỳ từng trường hợp, có thể Ngài mềm mỏng dịu dàng như một cánh hoa, nhưng cũng có thể vững như thái sơn. 9) TÂM TỪ (Mettà) Ba la mật thứ chín là tâm từ. Trong trường hợp này tâm từ có ý nghĩa thâm sâu hơn thiện chí, tình thân thiện hoặc từ ái. chính tâm từ này đã thúc đẩy Bồ Tát từ khước sự giải thoát cá nhân để thực hiện lợi ích cho tha nhân, đây là lòng từ vĩ đại mà Ngài dành cho tất cả chúng sanh, không phân biệt giai cấp, tín ngưỡng hoặc mầu da; và vì Ngài là hiện thân của lòng từ bao la như vậy nên Ngài không sợ hãi điều gì, và Ngài cũng không gieo rắc sự sợ hãi cho chúng sanh nào, ngay đến những loài thú hung tợn sống đơn độc trong rừng già cũng là những người bạn thân thiết của Ngài, vì Ngài luôn luôn ôm ấp trong lòng một tình thương vô biên cho muôn loài chúng sanh. 10) XẢ (Upekkhà) Ba la mật thứ mười là tâm xả. Nghĩa đen của từ này là nhận thức một cách đúng đắn, quan niệm một cách chính đáng, hoặc nhìn một cách vô tư, nghĩa là không thương, không ghét, không thủ không xả, và ở đây từ ngữ không được dùng trong ý nghĩa của một cảm xúc lãnh đạm hay trung tính. Có thể nói xả là một trong những pháp khó thực hiện nhất và cần yếu nhất trong 10 pháp ba la mật, đặc biệt đối với hàng tại gia cư sĩ còn phải sinh hoạt trong những mất cân đối của thế gian với những cơ may thất thường, trong thế gian này những điều như khinh rẻ và phỉ báng là lẽ thường của nhân loại. Cũng như khen - chê, được - mất; thế nhưng, trước những thăng trầm của cuộc sống này, một vị Bồ Tát cố gắng đứng vững như núi đá kiên cố, giữ tâm xả hoàn toàn. Trong những lúc hạnh phúc và trong những lúc nghịch cảnh, giữa lời khen tiếng chê, Ngài vẫn thản nhiên vô tư. TÌNH HỮU NGHỊ THẾ GIỚI QUA LÝ TƯỞNG ÐẠO PHẬT Ngày nay chúng ta đang sống trong một thế giới bị giằng co bởi hai tâm trạng tuyệt vọng và hy vọng; tình trạng tuyệt vọng của chúng ta là do nhiều nguyên nhân, nghiêm trọng nhất trong số đó là nỗi lo sợ thường xuyên về viễn cảnh chiến tranh; vì, mặc dầu nhân loại ước muốn hoà bình, và lòng khát khao hoà bình này hiện diện khắp mọi nơi trên toàn thế giới. Thế nhưng, thay vì nỗ lực tạo hiệu quả cho lòng khát khao hoà bình hầu như là chung ấy, mỗi quốc gia lại đua nhau trang bị quân sự với hết khả năng của mình, đã có hơn phân nửa số lợi tức quốc gia của thế giới này được người ta sử dụng vào việc chuẩn bị chiến tranh, và phần lớn năng lực, chất xám, tài chánh và cơ cấu tổ chức của chúng ta đã bị chuyển sang hướng khám phá ra cách làm thế nào để có thể sát hại đồng bào mình một cách tàn nhẫn hơn. Tăng cường sức mạnh quân sự không phải để gìn giữ những hạnh phúc do hoà bình đem lại, mà để lao vào cuộc chạy đua vũ trang, điều này hiển nhiên sẽ phải kết thúc bằng chiến tranh mà thôi. Phần lớn mọi người chúng ta còn nhớ cuộc đại chiến Châu Âu lần thứ nhất và cũng gần đây thôi, hết quốc gia này đến quốc gia khác đã trở thành nạn nhân của chế độ chuyên chế bất công, man rợ và tàn ác, tương lai của nhân loại rồi sẽ ra sao nếu như cái khuynh hướng hiện nay của các quốc gia cứ tiếp tục như vậy.Dù sao chúng ta cũng không tuyệt hết hy vọng, vì đồng thời cũng còn có các nhà văn, các nhà diễn thuyết lý tưởng và những người đang làm việc vì lợi ích chung của nhân loại, những người đang mơ và hy vọng cho một tương lai tốt đẹp hơn, nhiều sách báo xuất bản hiện nay trong tinh thần hướng về việc "toàn cầu hoá". Hội nghị quốc tế về đức tin, Bần Tăng xem đó như là một phong trào hết sức quan trọng, bởi vì hội nghị này không chỉ quan tâm đến những điều chỉnh bên ngoài thuộc nhu cầu vật chất, mà nó còn chú trọng đến những thực tại của cuộc sống trên căn bản tinh thần. Mục đích chính của hội nghị là nhằm cổ vũ cho tinh thần hữu nghị thế giới qua lý tưởng tôn giáo, chính vì vậy mà công việc hiện nay của bần Tăng là để trình bày cho mọi người thấy đạo Phật có thể giúp đỡ như thế nào để thành tựu mục tiêu này.Trong Kinh Pháp Cú, Ðức Phật có dạy: "Sabbapàpassa akaranamï Kusalassa upasampadà Sacittapariyodapanamï Etamï Buddhàna sàsanamï"."Không làm các điều ác Luôn làm các việc thiện Giữ cho tâm thanh tịnh Là lời chư Phật dạy" (Pháp Cú, 183) Ðể hiểu rõ bài kệ trên, trước tiên chúng ta phải xác định rõ điều ác ở đây muốn nói là gì và gốc của điều ác nằm ở đâu; cũng như điều thiện là gì và gốc của nó. Vậy thì điều gì được gọi là điều ác?| 1) Huỷ diệt sanh mạng của chúng sanh khác là ác 2) Trộm cắp là ác 3) Tà dâm là ác | Hành động của khẩu (vacì kamma) |
| 4) Nói dối là ác 5) Nói ly gián là ác 6) Nói lời thô lỗ là ác 7) Nói lời thêu dệt là ác. | Hành động của ý (mano kamma) |
| 8) Tham là ác 9) Sân là ác 10) Si là ác | Hành động của thân (Kàya kamma) |
| 1) Không sát sanh là thiện. 2) Không trộm cắp là thiện. 3) Không tà dâm là thiện. | Thân hành thiện (kàya kamma) |
| 4) Không nói dối là thiện. 5) Không nói ly gián là thiện. 6) Không nói lời thô ác là thiện. 7) Không nói thêu dệt là thiện. | Khẩu nghiệp thiện (vacì kamma) |
| 8) Không tham là thiện. 9) Không sân là thiện. 10) Không si là thiện | Ý nghiệp thiện (mano kamma) |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ Đăng ký: Đăng Nhận xét (Atom)Tìm kiếm trong Phật Pháp Chân Thật (this site)
Phân loại
- Cuộc đời Đức Phật Gotama (11)
- Các Pháp Chân Thật (110)
- Cơ bản Phật Pháp (Hãy đến để thấy) (65)
- Cơ bản hành thiền (27)
- Giáo Trình và Đạo Lộ (17)
- Giới (35)
- Hỏi đáp Phật Pháp (19)
- Khoa Học Pháp (38)
- Không phân loại (162)
- Kinh Nguyên Thủy (67)
- Luân Hồi Tái Sinh (41)
- Niết Bàn (19)
- Suy nghĩ... (38)
- Sự thật phũ phàng (39)
- Thiền đi vào cuộc sống (20)
- Thần Thông Pháp (8)
- Tuệ (Huệ) (12)
- Vi Diệu Pháp (35)
- z Bài viết quan điểm riêng (7)
- z Bí mật Pháp (109)
- z Các tông phái Phật Giáo Hiện Nay (10)
- z Có thể hiền giả chưa biết (19)
- z Cảm động Pháp (5)
- z Hãy coi chừng (20)
- z Mê tín dị đoan (21)
- z Nói trước công chúng (5)
- z Pháp Luận Thời Đại (38)
- z Phật Pháp nhập Phật Tử (29)
- z Song Ngữ (15)
- z Thiền Pháp Bốn Phương (8)
- z Tôn giáo - tâm linh (29)
- z Từ Điển (3)
- z Xã hội pháp (43)
- z2 Sách Lưu Trữ (79)
- z4 Video tổng hợp (2)
Bài phổ biến trong năm
-
Nguồn gốc Kinh Đại Thừa là do các sư viết ra - Nguyễn Trung Hiếu Sau hơn 500 năm kể từ khi Phật nhập diệt, Phật giáo Đại thừa mới bắt đầu xuất hiện và từ đó những bộ phái khác đều bị Phật giáo Đại th...
-
Sư ông Thích Thông Lạc nêu ra những giả dối của pháp Đại Thừa Ngày nay không còn ngăn sông cách núi và không “đói” thông tin như ngày xưa nữa. Cho nên, mọi thứ điều được rõ ràng: “Kinh Giả”, “Kin...
-
Trạng thái tâm (Sở hữu tâm) - Vi diệu pháp - TK Giác Chánh Về môn học Vi Diệu Pháp thì quan trọng nhất là phần Sở hữu tâm (trạng thái của tâm), các kiến thức khác liên quan đến Vi Diệu Pháp có thể ...
- MƯỜI PHÁP BA LA MẬT (PÀRAMÌ) -U Thittila MƯỜI PHÁP BA LA MẬT (PÀRAMÌ) Bồ Tát là một vị Phật đang thành, và như vậy Bồ Tát là một chúng sanh đang thực...
- Phật A di đà không có thật Ai tu theo đạo Phật đều biết Phật A di đà nhưng ít ai hiểu rằng Phật A di đà thật sự không có thật, chỉ là ông Phật tưởng tượng do các sư ...
- Chỉ có 1 pháp môn giải thoát chứ không phải có 84 ngàn pháp môn như các sư Đại Thừa nói Pháp môn giải thoát duy nhất khỏi sinh tử luân hồi, đau khổ mà Đức Phật đã dạy trong Tạng Kinh Nguyên Thủy là Bát Chánh Đạo. Các sư Đại Thừ...
-
Những Hiểu Lầm Về Đạo Phật (tỳ kheo Giới Đức) NHỮNG HIỂU LẦM VỀ ĐẠO PHẬT HT. Giới Đức ( Minh Đức Triều Tâm Ảnh ) ( Pháp thoại giảng tại Hội Phật học Đuốc Tuệ -Trung tâm...
-
NHƯ LÝ TÁC Ý (YONISO MANASIKĀRA) - Nguyên Kim và Như Thủy NHƯ LÝ TÁC Ý Nguyên Kim Như lý tác ý (Yoniso manasikàra) hay còn gọi là như lý khởi tư duy là một thuật ngữ Phật học dùng để... - Kinh Ðại Hạnh Phúc (Maha Mangala Sutta)
-
THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN (Viên Minh) THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN Thời gian Tiến trình ...
Lưu trữ bài viết
- ► 2019 (20)
- ► tháng 4 2019 (2)
- ► tháng 3 2019 (1)
- ► tháng 1 2019 (17)
- ► 2018 (5)
- ► tháng 12 2018 (5)
- ► 2017 (4)
- ► tháng 12 2017 (4)
- ► 2014 (20)
- ► tháng 10 2014 (2)
- ► tháng 8 2014 (1)
- ► tháng 7 2014 (4)
- ► tháng 6 2014 (1)
- ► tháng 5 2014 (1)
- ► tháng 4 2014 (1)
- ► tháng 2 2014 (10)
- ► 2013 (46)
- ► tháng 12 2013 (17)
- ► tháng 11 2013 (17)
- ► tháng 3 2013 (12)
- ► 2012 (118)
- ► tháng 11 2012 (24)
- ► tháng 10 2012 (84)
- ► tháng 5 2012 (2)
- ► tháng 2 2012 (6)
- ► tháng 1 2012 (2)
Phổ biến trong tháng
-
Những Hiểu Lầm Về Đạo Phật (tỳ kheo Giới Đức) NHỮNG HIỂU LẦM VỀ ĐẠO PHẬT HT. Giới Đức ( Minh Đức Triều Tâm Ảnh ) ( Pháp thoại giảng tại Hội Phật học Đuốc Tuệ -Trung tâm...
-
Nguồn gốc Kinh Đại Thừa là do các sư viết ra - Nguyễn Trung Hiếu Sau hơn 500 năm kể từ khi Phật nhập diệt, Phật giáo Đại thừa mới bắt đầu xuất hiện và từ đó những bộ phái khác đều bị Phật giáo Đại th...
-
Sư ông Thích Thông Lạc nêu ra những giả dối của pháp Đại Thừa Ngày nay không còn ngăn sông cách núi và không “đói” thông tin như ngày xưa nữa. Cho nên, mọi thứ điều được rõ ràng: “Kinh Giả”, “Kin...
- Phật A di đà không có thật Ai tu theo đạo Phật đều biết Phật A di đà nhưng ít ai hiểu rằng Phật A di đà thật sự không có thật, chỉ là ông Phật tưởng tượng do các sư ...
-
Trạng thái tâm (Sở hữu tâm) - Vi diệu pháp - TK Giác Chánh Về môn học Vi Diệu Pháp thì quan trọng nhất là phần Sở hữu tâm (trạng thái của tâm), các kiến thức khác liên quan đến Vi Diệu Pháp có thể ...
- MƯỜI PHÁP BA LA MẬT (PÀRAMÌ) -U Thittila MƯỜI PHÁP BA LA MẬT (PÀRAMÌ) Bồ Tát là một vị Phật đang thành, và như vậy Bồ Tát là một chúng sanh đang thực...
-
THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN (Viên Minh) THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN Thời gian Tiến trình ...
-
Bốn chu kỳ sinh diệt của Vũ trụ Bốn chu kỳ sinh diệt của Vũ trụ Kinh điển của người Ấn Độ cổ quan niệm: một thế giới hình thành, tồn tại và hủy diệt đi phải qua bốn chu ...
-
NHƯ LÝ TÁC Ý (YONISO MANASIKĀRA) - Nguyên Kim và Như Thủy NHƯ LÝ TÁC Ý Nguyên Kim Như lý tác ý (Yoniso manasikàra) hay còn gọi là như lý khởi tư duy là một thuật ngữ Phật học dùng để... - Chỉ có 1 pháp môn giải thoát chứ không phải có 84 ngàn pháp môn như các sư Đại Thừa nói Pháp môn giải thoát duy nhất khỏi sinh tử luân hồi, đau khổ mà Đức Phật đã dạy trong Tạng Kinh Nguyên Thủy là Bát Chánh Đạo. Các sư Đại Thừ...
Bài đăng toàn thời gian
-
Sư ông Thích Thông Lạc nêu ra những giả dối của pháp Đại Thừa Ngày nay không còn ngăn sông cách núi và không “đói” thông tin như ngày xưa nữa. Cho nên, mọi thứ điều được rõ ràng: “Kinh Giả”, “Kin...
-
Nguồn gốc Kinh Đại Thừa là do các sư viết ra - Nguyễn Trung Hiếu Sau hơn 500 năm kể từ khi Phật nhập diệt, Phật giáo Đại thừa mới bắt đầu xuất hiện và từ đó những bộ phái khác đều bị Phật giáo Đại th...
- Phật A di đà không có thật Ai tu theo đạo Phật đều biết Phật A di đà nhưng ít ai hiểu rằng Phật A di đà thật sự không có thật, chỉ là ông Phật tưởng tượng do các sư ...
- Chỉ có 1 pháp môn giải thoát chứ không phải có 84 ngàn pháp môn như các sư Đại Thừa nói Pháp môn giải thoát duy nhất khỏi sinh tử luân hồi, đau khổ mà Đức Phật đã dạy trong Tạng Kinh Nguyên Thủy là Bát Chánh Đạo. Các sư Đại Thừ...
-
Đừng nghĩ bạn là người bất hạnh nhất! Bạn ít tiền? Bạn không sở hữu một gương mặt đẹp? Một đôi chân dài thon thả ngút ngàn? Một thân hình nam tính? Tinh thần bạ...
- Kinh Ðại Hạnh Phúc (Maha Mangala Sutta)
-
Chọn Đường Tu Phật - Tiểu Thừa (Nguyên Thủy) hay Đại Thừa (Tân Tiến)? Bài viết này sẽ tóm lược con đường Giải thoát thật sự của Phật Gotama và những con đường tu tắt của chư vị Tổ-... -
Cách Ngồi Thiền Đúng Phương Pháp Tọa thiền cần một căn phòng yên tĩnh. Ăn uống chừng mực , giảm thiểu những mối giao tiếp thế sự . Chớ tính toán nghĩ suy phải quấy ...
-
Trạng thái tâm (Sở hữu tâm) - Vi diệu pháp - TK Giác Chánh Về môn học Vi Diệu Pháp thì quan trọng nhất là phần Sở hữu tâm (trạng thái của tâm), các kiến thức khác liên quan đến Vi Diệu Pháp có thể ...
Trang ngoài
-
Con đường giải thoát
-
Phật Giáo Nguyên Thủy
-
Phật Học Chuyên Đề Thiền Trong Hơi Thở – TT Giác Chánh 10 năm trước
-
Phật Pháp Chân Thật NHƯ LÝ TÁC Ý (YONISO MANASIKĀRA) - Nguyên Kim và Như Thủy 6 năm trước
-
Trung Tâm Hộ Tông
Từ khóa » Pháp Ba La Mật đa
-
Nguồn Gốc Và ý Nghĩa Của Mười Pháp Ba La Mật - .vn
-
Lục Độ Ba-la-mật-đa - Phật Học Cơ Bản
-
12 Lục Độ Ba La Mật (Sáu Pháp Ba La Mật)
-
Ba La Mật Là Gì ? Cách Hiểu đúng Khái Niệm Ba La Mật Theo Đạo Phật
-
Mười Ba-La-Mật (Dasa-pāramī) Trong Đạo Phật Là Gì ?
-
Lục Độ Ba La Mật Trong Kinh Pháp Cú | Phật Giáo Việt Nam
-
10 Pháp Ba-la-mật - Phần I - Narada Maha Thera
-
8. Phẩm Ba-la-mật-đa | Đại Bảo Tháp Mandala Tây Thiên
-
[PDF] PHÁP-HẠNH BA-LA-MẬT 1 - Trung Tâm Hộ Tông
-
Ba La Mật Là Gì? Nguồn Gốc Và ý Nghĩa Của Mười Pháp Ba La Mật
-
BA LA MẬT Nghĩa Là Gì ? - Thầy Thích Pháp Hòa (nên Nghe 2019)
-
Sự Hoàn Hảo Của Mười Pháp Ba La Mật - Phật Học đời Sống