MỸ HỌC ĐẠI CƯƠNG ( P4 ) - NGUYỄN VĂN PHÚC
Có thể bạn quan tâm
NGUYỄN VĂN PHÚC
của con ngườiNhững khó khăn trở ngại trên con đường đi tới, cần phải giải quyết như thế nào . Mục đích cao cả ( lí tưởng ) Nếu chỉ có mục tiêu lí tưởng mà thiếu 2 giai đoạn trước thì nó mới chỉ là “ước mơ”, có thể là “ảo tưởng” viển vông [nếu thiếu (1) và (2) ]. Lí tưởng phải là toàn bộ quá trình 3 giai đoạn đó. Con người có lí tưởng là con người hình dung được cả quá trình đi tới mục tiêu cao cả của cuộc đời. Chẳng hạn, lí tưởng của nhân dân ta ngày nay là xây dựng một xã hội cộng sản chủ nghĩa, nhưng cần phải đi qua giai đoạn chủ nghĩa xã hội. Và ngay cả trước khi bước vào chủ nghĩa xã hội cũng còn phải trải qua một thời kì quá độ nữa (quá độ đi qua tư bản chủ nghĩa). Bên cạnh lí tưởng chung ấy, mỗi người vẫn có một lí tưởng riêng căn cứ vào điểm xuất phát của mình. Khi hình thành lí tưởng của cuộc đời mình, chúng ta cần tránh những ảo tưởng viển vông thiếu cơ sở xuất phát. Khi con người đã xác định lí tưởng, nó sẽ trở thành động cơ thúc đẩy họ, tạo ra hứng thú cao độ và bền vững. Có thể chia lí tưởng ra 5 yếu tố: 1. Nhu cầu đòi hỏi một lí tưởng 2. Động cơ (cụ thể) của lí tưởng 3. Hứng thú thực hiện 4. Hiệu quả của lí tưởng (cao cả nhưng cụ thể ) 5. Thế giới quan (kiến thức về thế giới) Nhu cầu của con người bao gồm cả vật chất và tinh thần cần được thỏa mãn. Trong nhu cầu tinh thần có khát vọng nhận thức, tình cảm ( yêu thương ), giao tiếp xã hội, được tự do, giải phóng, xây dựng xã hội mới, tiến bộ. Nhu cầu là khởi điểm của mọi lí tưởng, nhưng trong đó nhu cầu vật chất không được quyền lấn át nhu cầu tinh thần (No ấm và sạch sẽ là tối ưu, nhưng đói cho sạch, rách cho thơm). Ngay cả nhu cầu vật chất cũng phải thăng hoa để mang giá trị tinh thần. Động cơ của lí tưởng Một đối tượng vật chất hoặc tinh thần nào đó đang có tác dụng lôi cuốn cá nhân hành động nhằm đạt tới nó, để thỏa mãn một nhu cầu của bản thân – gọi là động cơ của người ấy. Tóm lại, người có lí tưởng là người có nhu cầu tinh thần trong sáng, cao đẹp, có niềm vui lớn trong lao động, sáng tạo, vì mọi người và vì tiến bộ xã hội. Lí tưởng cần phải mang tính người cao cả và tính xã hội rộng rãi, gọi chung là lí tưởng nhân văn. Suốt đời phấn đấu cho lí tưởng nhân văn của cộng đồng là phẩm chất cơ bản của những con người trác tuyệt, lí tưởng ấy thúc đẩy họ hành động có hiệu quả và được nhân dân thừa nhận, biết ơn, nêu gương và ca tụng. Hứng thú thực hiện lí tưởng Với một động cơ đã định, con người say mê đeo đuổi hoạt động để đạt tới lí tưởng. Đó chính là lí tưởng thẩm mĩ. Động cơ tạo ra hứng thú, đó là sức mạnh nội tại vững bền. Thế giới quan giữ vai trò định hướng lí tưởng: Thế giới quan là toàn bộ cách nhìn đời, nhìn người, nhìn xã hội và nhìn mình. Thế giới quan có 3 yếu tố:
- Home
- Lịch sử
- Menu 1
- Menu 2
- Menu 3
- Menu 4
- Menu 5
- Trường phái
- Menu 1
- Menu 2
- Menu 3
- Menu 3.1
- Menu 3.2
- Menu 3.3
- Menu 3.4
- Menu 4
- Menu 5
- Học thuyết
- Menu 1
- Menu 2
- Menu 3
- Menu 4
- Menu 5
- Học thuyết
- Menu 1
- Menu 2
- Menu 3
- Menu 4
- Menu 5
- Học thuyết
- Menu 1
- Menu 2
- Menu 3
- Menu 4
- Menu 5
- Học thuyết
- Menu 1
- Menu 2
- Menu 3
- Menu 4
- Menu 5
- Trang chủ
MỸ HỌC ĐẠI CƯƠNG ( P4 )
Written By kinhtehoc on Thứ Năm, 10 tháng 11, 2011 | 23:42
BÀI 6 CHỦ THỂ THẨM MĨ 6.1 Con người là chủ thể thẩm mỹ Karl Marx khẳng định “Bản chất con người là luôn luôn sáng tạo theo qui luật của cái đẹp”. Nhưng không phải loài người vừa sinh ra đã là chủ thể thẩm mỹ. Trải qua một thời gian dài của lịch sử, con người mới trở nên chủ thể thẩm mỹ. Ngay cả khi đã có năng lực thẩm mỹ, con người vẫn chưa tự đánh giá được điều ấy cho đến khi con người nhận thức và khẳng định được cái tôi – cái tôi sáng tạo và cái tôi thưởng thức nghệ thuật. Khi chủ nghĩa tư bản phát triển, ở phương Tây người ta mới nhận thức được cái tôi (trong triết học) như là chủ thể của hoạt động nhận thức, định hướng và sáng tạo nghệ thuật . Descartes nhà triết học toán học, nhà văn Pháp nói: Tôi tư duy tức là tôi tồn tại Chủ thể thẩm mỹ chính là “cái tôi” trong đời sống thẩm mỹ. Chủ thể ấy là một hệ thống cấu trúc phức tạp gồm các thành tố có mối quan hệ biện chứng với nhau dưới đây: Chủ thể thẩm mỹ gồm 7 thành tố sau: 1 . Cảm xúc thẩm mỹ 2 . Biểu tượng thẩm mỹ 3. Thị hiếu thẩm mỹ 4. Tình cảm thẩm mỹ 5. Hình tượng thẩm mỹ 6 . Lý tưởng thẩm mỹ 7. Ý thức thẩm mỹ ( thể tổng hợp của 6 thành tố trên ) Mỗi thành tố trên tồn tại độc lập nhưng cũng liên quan mật thiết với nhau. Trước hết, chúng ta chọn “ thị hiếu thẩm mỹ ” làm điểm tựa để từ đó tìm hiểu các thành tố khác. Chủ thể tiếp nhận, thưởng thức thẩm mĩ: tất cả mọi người. Chủ thể sáng tạo thẩm mĩ: tất cả mọi người bình thường đều có khả năng sáng tạo thẩm mĩ. Khi xã hội phát triển thì có những người chuyên nghiệp tạo ra giá trị thẩm mĩ như: nghệ nhân (chế tác đồ thủ công, đồ chơi trẻ em, thợ may, các loại dịch vụ thẩm mĩ . . .) và đặc biệt những nghệ sĩ (tạo ra các loại hình nghệ thuật). Chủ thể nghiên cứu giảng dạy đánh giá phê bình thẩm mĩ: Chính là một phần của loại 2 nhưng được chuyên nghiệp hoá. Đó là nhà báo, nhà giáo, nhà nghiên cứu (hội hoạ, âm nhạc, văn học, sân khấu điện ảnh múa) kể cả những cán bộ quản lý, lãnh đạo các ngành văn học nghệ thuật, văn hoá. 6.2 Thị hiếu, thị hiếu thẩm mĩ và thị hiếu nghệ thuật Thị hiếu Thị hiếu 嗜 好 (thích, yêu) shì hào 爱好 ài hào: ái hiếu喜爱 xǐ ài : hỉ ái Là sở thích của chủ thể trong cuộc sống, bộc lộ thái độ đánh giá của chủ thể với mọi sự vật trong cuộc sống. Sở thích cá nhân được tồn tại trong một cộng đồng khiến cho cuộc sống phong phú, con người cảm thấy tự do. Thị hiếu tồn tại trong nhiều mặt cuộc sống, từ việc ăn uống, giải trí, lao động cho đến những vấn đề lớn hơn như chính trị, đạo đức, tôn giáo, khoa học và sinh hoạt thẩm mỹ. Thị hiếu của cá nhân được bộc lộ thường xuyên, liên tục trong cuộc sống, có khi giữ nguyên, có khi thay đổi. Thị hiếu thẩm mỹ Một bộ phận của thị hiếu, là hành vi nhạy cảm nhất, bộc lộ tức thời khi con người tiếp xúc và đánh giá giá trị thẩm mỹ của mọi thứ xung quanh – những “cái đẹp, cái bi, cái hài, cái trác tuyệt “ đang tồn tại trong cuộc sống. Thị hiếu thẩm mỹ, nói gọn lại, là sự nhạy cảm về cái đẹp, là “thú chơi”, thú thưởng ngoạn tinh thần hơn là thực dụng về vật chất. Từ việc chọn lựa hàng hóa đến việc chọn trang phục (thời trang), chơi cây hoa cảnh, trang trí nhà ở, chọn sách, xem phim nghe nhạc … đến việc chọn nghề nghiệp, kết bạn, tìm người yêu. Mục tiêu lựa chọn là sao cho thỏa mãn khát vọng tinh thần, hướng tới cái đẹp. Cái đẹp luôn luôn gắn bó với cái Chân và Thiện (trong bộ ba Chân Thiện Mỹ, Mỹ khiêm tốn đứng thứ 3) Thị hiếu thẩm mỹ còn được coi là “tính trội của hành vi”. Nghĩa là, qua thị hiếu thẩm mỹ, ta có thể đánh giá năng lực của chủ thể thẩm mỹ. Thị hiếu thẩm mỹ là sự kết hợp thống nhất giữa cảm tính và lí tính, thể hiện rõ nhất bản chất con người xã hội hài hòa với con người tự nhiên và đi cùng sự tiến hóa của xã hội loài người. Lịch sử mĩ học đã trải qua hai xu hướng đối lập: thị hiếu thẩm mĩ là duy cảm hay là duy lí ? Mĩ học Mác- Lê nin khẳng định: thị hiếu thẩm mĩ của mỗi cá nhân có sự vận động thay đổi. Nó là thái độ, tình cảm của con người gây ra phản ứng mau lẹ trước cái đẹp, cái bi, hài và trác tuyệt trong cuộc sống và trong nghệ thuật. Nhưng nếu thiếu tư duy thì chưa thể có thị hiếu thẩm mĩ. Thời cộng đồng nguyên thủy – chế độ mẫu hệ, thị hiếu thẩm mĩ của cả bộ tộc hướng về hình tượng người đàn bà, theo tín ngưỡng phồn thực. Đến thời kì văn minh rực rỡ Hi Lạp – La Mã, thị hiếu thẩm mĩ lại hướng tới những hình tượng đàn ông hoàn thiện như: nhà hiền triết (nhà thông thái, nhà tiên tri), anh hùng và quán quân thể thao (đặc biệt Olympiade ). Sang thời Trung cổ, do sự áp đặt của giáo lí, kinh thánh, nhà thờ, thị hiếu thẩm mĩ hướng về cái đẹp hoàn hảo, cao cả của Chúa Trời, Đức Mẹ, Chúa Jesus và các thánh thần. Đến thời kì Phục Hưng, người ta ngưỡng mộ, mơ ước cái đẹp của những con người đầy đặn, phúc hậu, thanh khiết, thánh thiện, trong sáng và “khổng lồ” (thị hiếu thẩm mĩ khá phong phú, vừa quen thuộc trong đời sống, vừa cao cả …). Thế kỉ XX hiện đại, khoa học phát triển cao độ, nhanh chóng, nhip độ vận động xã hội rất lớn, đặc biệt trong hai lĩnh vực Sản xuất hàng hóa tiêu dùng và Nghệ thuật. Chủ thể sáng tạo có nhiều tìm tòi ý tưởng với những rung cảm mới, khiến cho thị hiếu thẩm mĩ của con người hiện đại càng phát triển cao và cực kì phong phú nhưng khá phức tạp, đôi khi như hỗn loạn. Thị hiếu thẩm mĩ không còn thiên về cảm tính, mà ngày càng mang tính triết lí cao siêu hơn. Mấy năm qua, thị hiếu thẩm mĩ ở Việt Nam đang trong tình trạng xáo trộn, đổi thay dữ dội, từ thưởng thức đến sáng tạo. Chẳng hạn, trong lĩnh vực điện ảnh, làn sóng ưa chuộng phim thay đổi từng đợt ngắn qua phim Mĩ, Trung quốc, Đài Loan, Hồng kông, Hàn quốc, trở lại Việt Nam, rồi lại hướng ra ngoài… Chưa thể xác định thị hiếu thẩm mĩ điện ảnh của người Việt là gì ! Trong các lĩnh vực văn học, âm mhạc, thời trang, nhà cửa, xe cộ… cũng vậy. Các nhà phê bình và báo chí bối rối, không dám hoặc khó lên tiếng phê phán những thị hiếu thẩm mĩ tầm thường, a- dua, lộn xộn, lo chạy theo “mốt”. Trước tình hình đó, việc giáo dục thẩm mĩ cho công chúng, đặc biệt là lứa tuổi trẻ đã trở nên một vấn đề quan trọng và cần thiết. Tính chất của thị hiếu thẩm mĩ- Tính phản ứng mau lẹ
- Tính hài hoà vô tư
- Tính cá biệt và tính xã hội
- Tính giai cấp
- Tính dân tộc và tính nhân loại Trải qua lịch sử, mỗi dân tộc hình thành một thị hiếu thẩm mĩ riêng, có khi trái ngược với dân tộc khác phương Đông: con rồng là đẹp đẽ cao quí, còn phương Tây, con rồng là độc ác, xảo quyệt …).
- Tính thời đại
- Cảm giác
- Tri giác
- Biểu tượng
- Phán đoán
- Khái niệm
| Khởi điểm hành động |
- Tính giai cấp: Trong một xã hội có nhiều giai cấp, ắt có một giai cấp tiên tiến nhất, cách mạng nhất. Lí tưởng phải gắn liền với tính giai cấp tiên tiến nhất ấy.
- Tính khoa học: đó là kiến thức đúng đắn, phù hợp qui luật khách quan và lịch sử, khác với những ý tưởng viển vông và lỗi thời hoặc phiêu lưu mạo hiểm.
- Tính tổ chức: để thực hiện lí tưởng, không chỉ dựa vào nỗ lực cá nhân, mà phải vận động, tổ chức xã hội cùng thực hiện. Đó là năng lực tổ chức khi thực hiện lí tưởng.
Tổng số lượt xem trang
TIÊU ĐIỂM
-
DỰ ĐOÁN VẬN MỆNH BẰNG TỬ VI ĐẨU SỐ-PHẦN 3 - TÁC PHẨM CỦA HÀN PHI TỬ
- MỸ HỌC ĐẠI CƯƠNG ( P4 )
-
Nghịch lý Russell (Russell’s Paradox) -
NHỮNG CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN - Từ điển truyện cổ tích Nhật Bản
- Chuyện tình giữa Hồ Chí Minh và Đỗ Thị Lạc
- THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN THUYẾT THƯỜNG THANH TỊNH KINH
-
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG VĂN HỌC TRUNG QUỐC ( P1 )
Popular post
-
NHỮNG CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN -
SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN -
QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ CON NGƯỜI -
HAI NGUYÊN LÝ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT -
NHỮNG QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
.
. Support : Creating Website | phuctriethoc | NGUYỄN VĂN PHÚC Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved By Creating Website Published by KINH TẾ HỌC Proudly powered by NGUYỄN VĂN PHÚC NGUYỄN VĂN PHÚC : Website | Liên hệ | [email protected] Proudly powered by Triết học kinh tế Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved
Từ khóa » Ví Dụ Về Cảm Xúc Thẩm Mỹ
-
Cảm Xúc Thẩm Mỹ Là Gì?
-
Cảm Xúc Thẩm Mỹ Là Gì?
-
Ví Dụ Cảm Xúc Thẩm Mỹ - 123doc
-
Cảm Xúc Thẩm Mỹ Và Tình Cảm Thẩm Mỹ By Khanh Shin - Prezi
-
Cảm Xúc Thẩm Mỹ, Tác động Cảm Xúc Của Cái đẹp - Sainte Anastasie
-
19 Ví Dụ Về Các Giá Trị Thẩm Mỹ Nổi Bật / Văn Hóa Chung | Thpanorama
-
Cảm Xúc Trong Mỹ Học - Quả Cầu
-
Ý THỨC THẨM MỸ (tình Cảm Thẩm Mỹ)
-
Thị Hiếu Thẩm Mĩ Và Các đặc Trưng - Web Hỏi đáp
-
CẢM XÚC VÀ TÌNH CẢM | Luutrudrive
-
Tình Cảm Thẩm Mỹ - Weblog Đào Duy Thanh
-
NHÃN THỨC THẨM MỸ TRONG CA DAO VIỆT NAM
-
Một Số Ví Dụ Về Các Lý Thuyết Thẩm Mỹ Của Nghệ Thuật Là Gì?
-
Ví Dụ Và Các Loại Của Tất Cả Các Giá Trị Thẩm Mỹ Tồn Tại