Nghề Xưa Còn Lại Một Người - Báo Công An Nhân Dân điện Tử

Trên con đường đến xóm Hồng (làng Khương Hạ, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội) tôi phải dò hỏi rất nhiều người mới tìm được nhà nghệ nhân Nguyễn Văn Nhâm (còn gọi là Tư Nhâm). Khu vực đền Khương Hạ cách nhà ông “vua tàu thủy” thuở nào mấy trăm mét mà chẳng ai biết ông! Tôi cũng hoài công tìm kiếm một ngôi nhà rộn rã tiếng gò hàn, ngổn ngang tôn thiếc như tưởng tượng.

Lão nghệ nhân Tư Nhâm ngồi bên bàn nước trầm tư hoài vọng về quá khứ. Ngày xưa, cả xóm Hồng có hàng trăm hộ sống sung túc bằng nghề gò hàn thiếc, mà nổi tiếng nhất là đồ chơi trẻ em. Những người thợ quanh năm miệt mài vẽ vẽ, cắt cắt từng mảnh thiếc sáng lóa, tạo nên bao đồ chơi vô cùng thú vị: thỏ đánh trống, gà gáy, bướm biết “bay”, ông tiến sĩ, trái đào tiên v.v… Họ bán buôn cho các cửa hàng ở phố Hàng Mã, Hàng Da và vào dịp rằm tháng Tám ngồi bán thành dãy ở Hàng Lược. Người lớn, trẻ nhỏ tíu tít xung quanh tạo nên không khí vô cùng nhộn nhịp và đậm đặc âm hưởng Tết trẻ em Việt Nam. Tôi còn nhớ, thuở bé, Trung thu mà có được chú thỏ đánh trống tung tung hay chiếc kèn sơn màu đỏ chói để thổi toe toe thì đã là cả bầu trời mơ ước, chứ đâu ngước mắt lên đã thấy vô số đồ chơi ngoại giá mấy trăm ngàn như bây giờ! Vì thế, người dân xóm Hồng bình yên sống với nghề cha ông truyền lại…

Ông lão đã ngót 80 tuổi kể vanh vách rằng, lớn lên ông đã thấy xóm Hồng có nghề làm đồ chơi. 10 tuổi ông đã thạo nghề. Cùng làm đồ chơi, nhưng trong xóm mỗi nhà chuyên một sản phẩm với những “ngón” bí truyền: Nhà ông Cả Trí chuyên làm thỏ đánh trống, nhà ông Năm Thịnh chuyên mặt hàng súng, nhà ông Hảo chuyên sản xuất ôtô và bướm. Còn gia đình ông Tư Nhâm lại nổi tiếng với những chiếc tàu thủy. Chúng không chỉ được sơn màu rực rỡ, có đủ cả ống khói, súng đạn, mà còn có bộ phận đốt nóng là chiếc đèn dầu nhỏ để đẩy thuyền đi. Chỉ tàu thủy của nhà ông Tư Nhâm làm mới vừa chuyển động được trên mặt nước lại vừa có tiếng nổ giòn như tàu thật. Đây cũng là bí truyền của dòng họ. Ông bảo: “Tàu thủy của Pháp trước đây và của Trung Quốc bây giờ chạy được trên mặt nước nhưng đều không phát ra được tiếng nổ giống tàu thật như của gia đình tôi!”.

Thời Pháp, nguyên liệu có sẵn vì người Pháp mang sang cả những tấm tôn lớn. Sau hồi cư, lại chiến tranh nên nguyên liệu khan hơn. Những người thợ xóm Hồng phải gom nhặt ống bơ rồi cán phẳng ra để cắt, ghép thành những hình thù theo ý muốn. Thời bình, có đồ chơi thời bình; thời chiến, có đồ chơi thời chiến. Những chiếc xe tăng, máy bay in sao vàng năm cánh, những khẩu liên thanh phát tiếng kêu như thật v.v… đủ nuôi lớn ước mơ làm bộ đội, nên rất được các cô cậu bé yêu thích giai đoạn đất nước chưa thống nhất. Khi tiếng súng chiến tranh lùi vào quá khứ, gia đình ông Nhâm lại trở về với mặt hàng truyền thống.

Để làm chiếc tàu thủy chạy được trên mặt nước cũng khá phức tạp. Phải tính toán cân đối giữa độ dài, chiều rộng, chiều cao của tàu, đặt quả phao hai bên sao cho nước chỉ ngập đến đó để đẩy tàu đi. Phần sơn tàu cũng đòi hỏi kỹ thuật không kém vì đồ chơi cho trẻ cần nhiều màu mới bắt mắt: phải đều sơn, không chỗ dày, chỗ mỏng, các màu sơn không lẫn vào nhau. Tuy mẫu mã đã được các cụ định sẵn, nhưng sản phẩm của người khéo tay, hay mắt bao giờ cũng đắt khách hơn.

Bà Nguyễn Thị Sở, vợ ông Tư Nhâm, bồi hồi nhớ lại thời vàng son ấy: Hằng ngày cứ 3 giờ sáng bà đã vội gánh hàng ra bến tàu điện để kịp đáp chuyến tàu nhất lên chợ Hàng Da vào 4 giờ 30. Giao hàng, nhận hàng đặt xong, lại tất tả về nhà làm cho kịp hàng giao. Vất vả, nhưng thu nhập cũng khá. Tám đứa con cả trai lẫn gái của ông bà đều được truyền nghề chu đáo...

Nhưng rồi, mọi thứ bỗng thay đổi. Kinh tế mở, đồ chơi ngoại ồ ạt tràn vào. Hàng Trung Quốc đa dạng mẫu mã, màu sắc, sản xuất hàng loạt nên giá rẻ, đã nhanh chóng “bóp chết” mặt hàng đồ chơi thủ công của xóm Hồng. Lại thêm việc quản lý đô thị chặt chẽ nên những gánh đồ chơi bán rong trên vỉa hè phố cổ không có đất tồn tại. Chẳng ai bảo ai, các nhà đều không sản xuất đồ chơi nữa. Bởi làm thì bán ở đâu và bán cho ai khi các cửa hàng lớn chuyên bán đồ chơi xóm Hồng giờ đầy ắp đồ chơi ngoại nhập, từ khẩu súng, chiếc mặt nạ đến đèn ông sao! Sự hưng thịnh của xóm đồ chơi bỗng lụi tàn nhanh chóng. Thanh niên trong xóm lần lượt rời quê đi kiếm sống. Cả tám người con ông Tư Nhâm, người đi làm công nhân, người làm cán bộ. Đồ nghề bị lãng quên. Giá đất tăng, nhiều gia đình bán đất hoặc làm nhà trọ cho thuê. Chả ai muốn nhớ đến nghề truyền thống nữa!

“Nghề làm đồ chơi như của ông Nhâm là một phần của nền văn hóa Việt Nam và cần được bảo tồn. Chỉ một hai thế hệ nữa thôi, sẽ chẳng còn ai nhớ tới sự tồn tại của loại đồ chơi truyền thống này nếu chúng ta không chú trọng đúng mức ngay từ bây giờ” .Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Nguyễn Văn Huy

Sau nhiều năm xóm Hồng tắt lặng tiếng cắt thiếc, tiếng gò hàn, may sao, con trai út của ông Tư Nhâm, anh Nguyễn Mạnh Hùng, đã nối lại nghề xưa. Cái xóm làm đồ chơi nhộn nhịp năm nào giờ còn duy nhất mình anh neo lại với nghề. Năm 2002, anh Hùng được Bảo tàng Dân tộc học mời ra trình diễn làm đồ chơi tại Bảo tàng. Những sản phẩm của anh trưng bày tại Bảo tàng đã thu hút sự quan tâm của du khách. Một công ty thương mại của Pháp đã đặt ngay một lô hàng hơn trăm chiếc tàu thủy.

Từ đó, nơi giới thiệu và tiêu thụ chính đồ chơi của anh Hùng là Bảo tàng Dân tộc học. Mỗi năm vài trăm chiếc. Còn lại, dịp Trung thu anh mang lên phố cổ bán. Không chỉ làm những con tàu nhỏ như trước, anh Hùng mạnh dạn tìm tòi, sáng chế những sản phẩm lạ mắt để thu hút khách hàng: những chiếc tàu thủy to gấp nhiều lần tàu cũ, chi tiết tinh xảo hơn, lại chạy bằng pin rất tiện lợi. Điều đó đã hấp dẫn du khách nước ngoài và những nhà hàng lớn. Dĩ nhiên, họ để bày chứ không phải để chơi. Con tàu lớn nhất dài 1,6m, rộng 60cm đã được một người mua đưa vào Chùa Hương cung tiến. Trên chiếc tủ cao ở nhà ông Tư Nhâm vẫn còn chiếc tàu dài chừng 1m, rộng hơn 20cm, có động cơ chạy bằng pin do một khách nước ngoài đặt. Giá một chiếc tàu nhỏ 25 đến 30.000đ/chiếc, còn chiếc lớn vài trăm ngàn hoặc tiền triệu.

Nhìn chiếc tàu thủy được hàn rất khéo, sơn kẻ đẹp mắt, có đủ cả xe tăng, chảo thu phát sóng và tiện nghi hiện đại, ông Nhâm tư lự: “May là còn được cậu con trai nối nghề. Thôi thì được ngày nào hay ngày ấy! Nhưng chắc cũng chỉ đến đời anh Hùng thôi, vì thực ra làm để nhớ lại nghề chứ chả tiêu thụ được mấy!”.

Nỗi lo âu của lão nghệ nhân là có lý khi anh Hùng cho biết, thu nhập từ sản phẩm đồ chơi mỗi tháng từ 300 đến 400.000 đồng. Tôi tự cắt nghĩa được sự ngạc nhiên của mình khi nhìn thấy “xưởng” của anh chỉ rộng chưa đầy 2m2 với vài xấp thiếc được cán phẳng từ ống bơ. Dĩ nhiên, anh không thể sống bằng nghề như thời ông Tư Nhâm.

Đó cũng là lý do để dẫu đắm đuối lắm với nghề, ông Nhâm cũng không thực hiện được đề nghị tốt đẹp của Bảo tàng Dân tộc học là khôi phục lại nghề truyền thống. Ông sẵn sàng mở lớp dạy nghề, thậm chí dạy cả bí quyết gia truyền, nhưng lấy đâu mặt bằng sản xuất và bán hàng? Học rồi mà sản phẩm không tiêu thụ được, các cháu lại bỏ thì truyền nghề cũng vô dụng. Đó là chưa nói, nghề này đòi hỏi phải nhiều loại nguyên liệu mới làm ra sản phẩm mà không tiêu thụ được thì mất nghiệp!

Gần 20 năm nay ông Tư Nhâm không còn làm đồ chơi nữa. Những chiếc tàu thủy nhỏ xinh đang lạc vào ký ức. Nhưng ông vẫn tha thiết lắm với nghề. Ông buồn rầu: “Cứ nghĩ đến nghề truyền thống của cha ông đã có lịch sử mấy trăm năm giờ chẳng tồn tại được lại thấy đau lòng. Tiếc lắm! Những người làm nghề giỏi chẳng còn ai. Cụ Năm Thịnh vừa mất… Làng nghề chỉ còn tôi cao tuổi nhất. Nghề của làng sắp lụi hẳn rồi”. Niềm đau đáu của lão nghệ nhân làng Khương Hạ dâng lên trên gương mặt u trầm. Nếu không có hướng đi hợp lý thì nghề làm đồ chơi truyền thống của xóm Hồng sẽ bị xóa bỏ

Từ khóa » đền Chúa Cây Si Khương Hạ