Ngọc Hồi (xã) – Wikipedia Tiếng Việt
Có thể bạn quan tâm
| Ngọc Hồi | ||
|---|---|---|
| Xã | ||
| Hành chính | ||
| Quốc gia | ||
| Vùng | Đồng bằng sông Hồng | |
| Thành phố | Hà Nội | |
| Trụ sở UBND | thôn Đại Áng | |
| Địa lý | ||
| Tọa độ: 20°54′29″B 105°49′51″Đ / 20,908032714072°B 105,83079739506°Đ | ||
| | ||
| Diện tích | 13,34 km² | |
| Dân số (2025) | ||
| Tổng cộng | 43.864 người | |
| Mật độ | 3.288 người/km² | |
| ||
Ngọc Hồi là một xã ngoại thành thuộc thành phố Hà Nội, Việt Nam. Xã cách trung tâm thành phố Hà Nội 14 km về phía nam, nằm cạnh quốc lộ 1. Nơi đây từng diễn ra trận Ngọc Hồi nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam.
Vị trí địa lý
[sửa | sửa mã nguồn]Vị trí địa lý xã Ngọc Hồi sau sáp nhập như sau:
- Phía tây giáp xã Đại Thanh và Tam Hưng
- Phía bắc giáp các xã Thanh Trì
- Phía đông giáp xã Nam Phù, Hồng Vân
- Phía nam giáp xã Thường Tín
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 16 tháng 6 năm 2025, Quốc hội Việt Nam quyết định sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Ngọc Hồi, một phần của các xã Đại Áng, Liên Ninh (huyện Thanh Trì), một phần của các xã Duyên Thái, Khánh Hà (huyện Thường Tín), thành xã mới có tên gọi là xã Ngọc Hồi.[1]
Di tích - Tham quan
[sửa | sửa mã nguồn]Làng Ngọc Hồi
[sửa | sửa mã nguồn]Làng Ngọc Hồi trước Cách mạng thuộc tổng Cổ Điển, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Làng nằm ở cửa ngõ phía Nam thủ đô, trên đầu mối giao thông thủy bộ quan trọng. Quốc lộ 1 song song với đường sắt Bắc- Nam dọc theo làng khoảng hơn một cây số.[2] Làng Ngọc Hồi nay thuộc xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì.
Làng còn có con đường cổ, xưa gọi là "đường Quai " hay "đường cái cao" vốn là con đường Thiên Lý từ Quán Gánh về Duyên Trường, Hạ Thái lên, qua làng Yên Kiện đến đầu làng Quỳnh Đô (xã Vĩnh Quỳnh) để vào Chợ Mơ, Thăng Long. Đường thủy có sông Tô Lịch từ Hồ Tây - Ngã Tư Sở chảy qua xuôi về Thường Tín.[2]
Đầu thế kỷ 13, Ngọc Hồi có tên là Vĩnh Khang, là làng đông đúc, do ba anh em ông Bảo Công, ả Mô nương và Nhị Mô nương cai quản, trở thành một thế lực quân sự mạnh, ảnh hưởng đến cơ nghiệp của nhà Trần, nên Trần Thủ Độ đã mang quân đến trấn dẹp, song bị anh em Bảo Công đánh bại. Sau, Bảo Công đem quân của mình về với triều Trần, được gia phong làm tướng và lập nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống Nguyên- Mông. Sau khi ba anh em mất, Vua Trần phong tặng Bảo Công là Quảng hoá đại vương, ả Mô nương là ả Mô công chúa và Nhị Mô nương là Nhị Mô công chúa, giao cho làng Ngọc Hồi đời đời thờ phụng. Hiện trong đình Ngọc Hồi còn 16 đạo sắc phong cho 3 anh em.[2]
Cuối thế kỷ XVIII, mảnh đất Ngọc Hồi đã đi vào lịch sử đất nước với trận công phá đồn Ngọc Hồi vào rạng sáng mồng 5 Tết Kỷ Dậu (30 -1- 1789). Vết tích của hệ thống đồn luỹ Ngọc Hồi được xác định qua các địa danh Đồng Đồn, Nền Đồn, Cây đa Đồn. Vua Quang Trung đầu chít khăn vàng, cưỡi voi đích thân chỉ huy đội quân cảm tử, có các bức ván gỗ bện rơm ngấm nước phủ kín làm áo giáp, dàn hàng ngang đồng loạt tấn công vào đồn. Quân Thanh bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Số sống sót chạy về phía Bắc làng Ngọc Hồi. Một cuộc quyết chiến diễn ra tại đây.. Sử cũ ghi lại, "thây giặc nằm đầy đồng, máu chảy thành suối". Tại liệu địa danh minh chứng thêm: các gò Mả Cả, Mả Ngô là nơi chôn xác giặc, "Ao máu" là nơi máu giặc ngập ngụa. Các tướng giặc là Hứa Thế Hanh, Trương Triều Long đều tử trận. Sầm Nghi Đống cũng thắt cổ tự tử tại Ngọc Hồi. Quân Tây Sơn thừa thắng tiến vào Khương Thượng - Đống Đa, giải phóng kinh thành Thăng Long vào chiều mồng 5 Tết.[2]
Đồn Ngọc Hồi
[sửa | sửa mã nguồn]Tại làng Ngọc Hồi vào tháng 12 năm 1788, quân Thanh đã xây dựng một tiền đồn mạnh để bảo vệ nam thành Thăng Long. Sau khi đồn Hà Hồi bị hạ vào ngày 28 tháng 1 năm 1789, đồn Ngọc Hồi được tăng cường tới 30.000 quân tinh nhuệ, hỏa lực mạnh để chặn quân Tây Sơn. Đồn ngoài lũy đất còn có hàng rào chông sắt, địa lôi. Tướng chỉ huy đồn là đề đốc Hứa Thế Hanh là phó tướng của Tôn Sĩ Nghị chỉ huy, phụ tá có tả dực Thượng Duy Thăng, tiên phong Trương Triều Long.
Trên đường tiến ra Thăng Long, quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ đã tiêu diệt đồn này vào ngày 30 tháng 1 năm 1789 (mùng 5 Tết Kỷ Dậu).
Vào dịp kỷ niệm 200 năm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa (1789 - 1989), tại đầu làng Ngọc Hồi đã xây dựng tượng đài chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa với ba mũi tên hướng thẳng về phía Thăng Long, thể hiện cho cuộc tiến công thần tốc của quân sĩ Tây Sơn.[2]
Di tích lịch sử, văn hóa
[sửa | sửa mã nguồn]Làng Ngọc Hồi có ngôi đình hướng Tây Nam được dựng vào giữa thế kỷ 18, có kết cấu "ngoài chữ Quốc, trong chữ Vương". Trong đình còn có bản hương ước khắc trên cột đá, lập ngày 10 tháng 5 năm Cảnh Hưng thứ 5 (1744), nội dung ghi công người họ Đình trong làng đã hiến 1 mẫu 6 sào đất cho làng dựng đình, làng cắm mốc giới đình, dựng bia, đề ra quy ước người nào xâm phạm đến đất đình sẽ bị phạt.[2]
Làng còn có chùa mang tên làng. Trong chùa còn một quả chuông đúc năm Minh Mệnh thứ 5 (1824).[2]
Lễ hội
[sửa | sửa mã nguồn]Lễ hội chính của làng diễn ra từ mồng 8 đến 10 tháng 2. Ngoài tế lễ, rước sắc còn có rước cỗ chay (mỗi giáp một người sửa).[2]
Làng Yên Kiện
[sửa | sửa mã nguồn]Làng Yên Kiện, xưa có tên là Khang Kiện, thường gọi là Chạ Yên. Chạ là từ Việt cổ, dùng để chỉ các đơn vị cư trú giống như các làng định cư của người Việt khi mới định hình thời dựng nước của các Vua Hùng. Theo các cụ già trong làng, lúc đầu, làng ở khu vực Đìa ổi, giáp làng Lạc Thị, nên hai làng có nhiều quan hệ mật thiết với nhau, gọi nhau là làng Trên, làng Dưới.[3]
Xưa kia, địa dư của làng rất rộng, có rất nhiều ruộng, cuộc sống của dân làng cũng tương đối phong lưu, làm được cả đình rất to. Nhưng rồi, do tranh chấp ruộng đất với một số làng trong vùng dẫn đến khiếu kiện kéo dài, làng không thắng kiện, phải bán cả đình, cả ruộng nên số đông dân làng phải phiêu bạt đi nơi khác và làng phải đổi tên thành Yên Kiện (bia hậu năm đầu đời Tự Đức - 1848) trong chùa đã ghi tên "Yên Kiện").[3]
Yên Kiện nằm ở cửa ngõ phía Nam Thăng Long, có con đường cổ gọi là "đường Quai " hay "đường cái cao" từ đầu cầu Ngọc Hồi hiện nay chạy qua, lên các làng Lạc Thị- ích Vịnh, nối với đường 70 từ thị xã Hà Đông- Văn Điển ở đầu làng Quỳnh Đô, rồi lại theo đường Cầu Tiên- Quán Sét ở trên, lên Chợ Mơ vào Thăng Long. Có nhà nghiên cứu cho rằng, đường cái cao này chính là con đường Thiên Lý từ Quán Gánh về Duyên Trường, Hạ Thái - Đông Phù, lên Ngọc Hồi để vào Kinh thành Thăng Long xưa.[3]
Đầu thế kỷ XX, Yên Kiện vẫn là một làng rất nhỏ, chỉ có 275 nhân khẩu (năm 2000 chỉ có 197 hộ với 773 nhân khẩu). Tuy vậy, làng vẫn trở thành một xã thuộc tổng Cổ Điển, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Tháng 1-1946, làng hợp nhất với các làng Ngọc Hồi, Lưu Phái thành xã Ngọc- Yên- Lưu. Từ đầu năm 1948, làng lần lượt nằm trong các xã Việt Hưng, Đại Hưng. Sau Cải cách ruộng đất, làng nằm trong xã Việt Hưng cùng với các làng Ngọc Hồi, Lạc Thị, Lưu Phái, thuộc huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (năm 1961 thuộc huyện Thường Tín và làng Lưu Phái cắt về xã Ngũ Hiệp). Năm 1968, xã Việt Hưng đổi tên thành xã Ngọc Hồi. Đầu năm 1979, xã Ngọc Hồi được cắt về huyện Thanh Trì của Hà Nội.[3]
Yên Kiện xưa rất nhiều ruộng, mỗi đinh nam từ 18 tuổi trở lên được chia 5 sào ruộng công. Nhưng ruộng ở đây đa phần là ruộng trũng, xấu, nên thu nhập từ nông nghiệp thấp và không ổn định. Để bảo đảm đời sống, nhân dân các làng làm thêm các nghề phụ, trong đó có nghề diu tôm.[3]
Do là làng nhỏ nên làng Yên Kiện không hình thành các xóm. Đinh nam trong làng được chia thành ba giáp (giáp của họ Hoàng, giáp của họ Nguyễn Viết, giáp của họ Nguyễn Văn và họ Phạm).[3]
Trước Cách mạng, tuy là làng nhỏ, nhưng các lệ tục về ngôi thứ, tế lễ của Yên Kiện rất phiền phức. Làng kết nghĩa với làng Lưu Phái. Người đến lượt làm cỗ đón Quan anh (ngày 10 tháng Hai) phải mổ trâu hoặc bò rất tốn kém, mặc dù được làng cấp cho 3 mẫu 3 sào ruộng. Cũng trong dịp này, có lệ làm cỗ bổn bàn: mỗi năm, mỗi mâm của những người từ 18 tuổi trở lên có một người phải đăng cai làm một mâm cỗ 3 tầng gồm thịt gà, giò chả, các chép luộc và nhiều món ăn khác để đãi người trong mâm.[3]
Làng Yên Kiện còn ngôi đình được tu sửa lại vào năm Duy Tân thứ 3 (1909), thờ Câu Mang đại vương cùng hai vợ của ông là Phương Dung và Phương Anh. Câu Mang là vị thần sống vào cuối thời Hùng Vương, có công giúp Hùng Duệ Vương đánh lại nhà Thục, được nhiều làng vùng chiêm trũng thờ. Tại đình làng hiện còn lưu 13 đạo sắc phong cho các vị thành hoàng.[3]
Làng có chùa Đại Bi, dựng vào năm Vĩnh Thịnh thứ 16 (1720), được tu bổ vào các năm Cảnh Hưng 28 (1767), Tự Đức nguyên niên (1848). Năm Thiệu Trị thứ hai (1842), đúc chuông.[3]
Làng Nguyệt Áng
[sửa | sửa mã nguồn]Nguyệt Áng (làng Nguyệt) là làng quê chiêm trũng thuộc xã Đại Áng, huyện Thanh Trì. Đây là một làng cổ, có từ thời Hùng Vương dựng nước. Làng thờ Công Ba đại vương, theo thần phả là người em thứ ba của Vua Hùng Vương thứ nhất, có công giúp dân mở mang làng xóm.[4]
Tại đầu đình làng, năm 1993 đã phát hiện được ngôi mộ thuyền, bên trong có bộ tuỳ táng là bộ vũ khí bằng đồng rất phong phú. Niên đại của mộ là khoảng 2400 cách thời điểm được phát hiện. Các nhà khảo cổ học đã xác định chủ nhân của một ngôi mộ là một chiến binh thuộc tầng lớp trên của xã hội đương thời.[4]
Thời phong kiến, Nguyệt Áng nổi danh là làng khoa bảng với 11 người đỗ đại khoa, gồm 1 Trạng nguyên, 1 Thám hoa, 9 Tiến sĩ, trong đó có năm người thuộc dòng họ Nguyễn Đình là Nguyễn Đình Trụ (đỗ năm 1656), anh ruột là Nguyễn Quốc Trinh (Trạng nguyên, 1659) và hai con là Nguyễn Đình Bách (1683), Nguyễn Đình Úc (Thám hoa, 1700) cùng cháu tằng tôn của Nguyễn Quốc Trinh là Nguyễn Đình Quỹ (1715); 3 người họ Lưu là Lưu Tiệp (1772) và em ruột (Lưu Định - 1775) cùng cháu nội là Lưu Quỹ (1835).[4]
Làng còn có 29 người đỗ trung khoa (hương cống, cử nhân), gồm 17 người họ Nguyễn Đình, 8 người họ Lưu và 4 người họ Nguyễn Danh. Nhiều trường hợp, cha con, anh em, bố con cùng đỗ, tiêu biểu nhất là gia đình Trạng nguyên Nguyễn Quốc Trinh: 4 người con của ông đều đỗ Hương cống; còn sinh đồ, tú tài thì rất nhiều.[4]
Trong những người đỗ đạt của làng Nguyệt, nhiều người thật sự có tài, đem hết tài năng phụng sự đất nước. Tiêu biểu nhất là Nguyễn Quốc Trinh (1625 - 1674). Năm 1667, ông cầm đầu đoàn sứ bộ nhà Lê sang đàm phán thành công với nhà Thanh cho gộp hai kỳ tiến cống (3 năm một kỳ) làm một, giảm được phần lớn sự tốn kém cho triều đình và nỗi vất vả cho các đoàn sứ bộ. Sau ông làm quan đến Bồi tụng (Phó Tể tướng), là người tin cẩn của chúa Trịnh Tạc. Tuy vậy ông là người khẳng khái, dám chỉ ra điều phải trái của chúa trước triều thần.[4]
Người thứ hai là Nguyễn Đình Trụ (1627 - 1703). Sau khi về hưu, ông về mở trường dạy học, học trò đông tới hàng nghìn. Hơn 70 người sau đó đỗ tiến sĩ và hương cống, thành đạt trên đường hoạn lộ. Thời bấy giờ coi ông là một "công phái thầy học".[4]
Người thứ ba là Lưu Quỹ (1811 - ?). Ông nổi tiếng ông là người thẳng thắn, dám tâu việc can ngăn vua nên bị giáng chức. Tháng 2 năm Tân Sửu (1841), Vua Thiệu Trị lên ngôi, Lưu Quỹ đã cùng Khoa đạo Nguyễn Bỉnh Đức dâng sớ khuyên Vua lưu ý đến 10 điều sách lược trị nước, trong đó, 2 điều được vua tâm đắc nhất là thận trọng trong sự ham chuộng và cẩn thận trong dùng người.[4]
Nguyệt Áng vẫn giữ được hệ thống đình, chùa, văn chỉ. Văn chỉ do Trạng nguyên Nguyễn Quốc Trinh cùng em là Tiến sĩ Nguyễn Đình Trụ lập năm 1667, trước khi ông đi sứ. Tại đây còn 2 tầm bia đá quý (dựng năm 1667, 1876), ghi tên những người đỗ đạt của làng, biểu tượng cho truyền thống hiếu học và khoa bảng, là niềm tự hào của dân làng.[4]
Lễ hội hàng năm được tổ chức vào 2 dịp chính: 12 tháng 2 (ngày hoá của thần) và 15 tháng 5 là ngày kỳ phúc. Lệ tháng 2 có rước bánh dày.[4]
Làng Vĩnh Trung
[sửa | sửa mã nguồn]Làng Vĩnh Trung (Kẻ Vanh) nay thuộc xã Đại Áng, huyện Thanh Trì, xưa thuộc tổng Vĩnh Ninh, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng. Làng nằm trong một vùng trũng ở phía Nam Hà Nội nên xưa kia, đồng ruộng quanh năm ngập nước, chỉ cấy được một vụ lúa chiêm. Để phụ thêm nông nghiệp, dân làng có nghề làm nón.[5]
Theo quan niệm về thuyết phong thủy của dân làng Vĩnh Trung thì sở dĩ làng có nghề làm nón là vì ở án đình làng từ xưa có 3 mô đất tượng trưng cho 3 ông công, một mô hình cái chảo, giống như một chiếc nón, một mô có hình cái giẻ lau để là lá nón. Sản phẩm chính của nghề làm nón ở đây là nón gủ, còn gọi là nón Ba Tầm, sau làm nón chóp dứa, khoảng 100 năm nay chuyển sang làm nón lá. Làm nón chủ yếu vào thời kì nông nhàn.[5]
Kỹ thuật làm nón tuy không cầu kì nhưng chu trình để tạo ra một sản phẩm đòi hỏi sức lao động của cả gia đình trong cả ngày: trẻ nhỏ và người già bóc lá và là lá; trung niên nam giới thì chẻ tre, vót, quấn vòng, đi xa mua nguyên vật liệu; phụ nữ thì lợp và khâu nón. Vào thời kì cao điểm, người các nơi thường về đây làm thuê. Làm nón tuy giá công không cao nhưng sản phẩm là vật dụng thường ngày của mọi đối tượng thôn quê nên dễ tiêu thụ, do vậy người làm nón luôn có nguồn thu phụ trợ cho nông nghiệp. Người làng Vĩnh Trung rất tự hào với nghề làm nón của mình:[5]
Muốn ăn cơm tám cá trê Muốn đội nón đẹp thì về Kẻ Vanh.Theo quan niệm từ xưa, Vĩnh Trung là đất tứ linh. Làng có 4 gò tạo thành 4 xóm (Ngoài, Chùa, Đình, Thượng) tượng trưng cho bốn con vật quý là Long - Ly - Quy - Phượng). Từ xưa, làng là một khối thống nhất, tất cả các dòng họ trong làng đều mang tên họ Nguyễn, sinh hoạt trong 6 giáp.[5]
Làng hiện có hai ngôi đình cùng thờ ba vị "Đại vương thần bắn" là 3 vị thần sống vào đời Hùng Vương thứ 18, có công diệt giặc cứu dân. Một ngôi gọi là Miếu đình Linh Linh hay Đình Ngoài, là đình gốc, được dựng vào năm Bảo Thái thứ 6 (1725). Một ngôi là Đình Trong được dựng vào năm Thành Thái thứ 6 (1894). Làng còn có chùa Ứng Linh. Cả hai đình và chùa đã được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.[5]
Lễ hội chính của làng diễn ra vào các dịp: 12- 5 là ngày sinh và ngày phong sắc của thần, tổ chức rước các vị thần từ đình Ngoài vào đình Trong rồi lại rước trả về đình Ngoài. Ngày 12-6: ngày hoá của thần, tổ chức tế lễ riêng tại các đình, bằng trâu hoặc bò của làng và lợn của các giáp. Ngày 2 tháng Chạp: ngày Khánh hạ, các đình tổ chức tế lễ riêng, có cỗ xôi thờ.[5]
Quá trình phát triển của các làng xã Đại áng làm nảy sinh những tục lệ tốt đẹp. Xưa kia, các đôi trai gái lấy nhau phải nộp cheo cho làng bằng việc lát một ngũ đường làng dài 7, 5 mét. Làng có tục kết nghĩa với làng Vĩnh Thịnh và Vĩnh Ninh gọi là "Hội kết nghĩa Tam Vĩnh".[5]
Làng Vĩnh Thịnh
[sửa | sửa mã nguồn]Làng Vĩnh Thịnh, đầu đời Thành Thái (1889 - 1907) vẫn mang tên Vĩnh Bảo thuộc tổng Vĩnh Ninh, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Làng xưa có 5 xóm: Nghè, Viềng, Giữa, xóm Chùa và xóm Sau và 5 giáp: Đông Nhất, Đông Nhì, Bắc, Nam, Đoài. Nay thuộc xã Đại Áng, huyện Thanh Trì.[6]
Nghề nghiệp chính của dân làng là làm ruộng, song làng còn có nghề làm nón. Theo lưu truyền dân gian thì ông Phạm Quảng quê ở xã Minh Linh, huyện Kinh Môn (Hải Dương) là người truyền nghề làm nón cho làng. Việc buôn bán cũng rất phát đạt, như đi buôn bè ở Lào Cai, Yên Bái, buôn các hàng thủ công ở trong vùng như nón Chuông (Thanh Oai), cót Vạn Phúc, các dụng cụ đánh cá của làng Đan Nhiễm... mang xuống Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định để bán. Nhiều người đã mua được cửa hàng ở các thành phố, tỉnh lỵ. Cuộc sống của những người buôn này ổn định, Nếu biết cách chi tiêu và phát triển nghề sẽ khấm khá. Người làng Vĩnh Thịnh rất tự hào với nghề buôn của mình:[6]
Hỡi cô thắt cái bao xanh Có về Vĩnh Thịnh với anh thì về Vĩnh Thịnh có nghiệp có nghề Có đất làm nón, có nghề đi buôn.Làng Vĩnh Thịnh hiện còn ngôi đình được dựng vào năm Bảo Thái thứ 6 (1725) và mới được tu sửa lại vào năm Nhâm Thân đời Bảo Đại (1932). Đình thờ Phạm Xạ - là người làng và là vị tướng của Lê Lợi. Theo truyền thuyết và thần phả, khi Lê Lợi đem quân ra Bắc diệt giặc Minh (1426), ông đã về làng Vĩnh Thịnh. Phạm Xạ khi đó là thanh niên giỏi võ, thông tinh binh pháp, được Lê Lợi tin cậy, giao cho ông tuyển mộ binh sĩ lên đường đánh giặc. 243 thanh niên làng Vĩnh Bảo đã xung phong theo Phạm Xạ gia nhập vào đội quân của Lê Lợi. Từ đó, Phạm Xạ đã tham gia chỉ huy chiến đấu gần 30 trận ở nhiều chiến trường. Đặc biệt ông đã tham gia trận Chi Lăng tháng 9 năm Đinh Mùi (1427) và tự tay chém chết tên tướng chỉ huy giặc là Liễu Thăng, được Lê Lợi phong làm Thống chế Tả tướng quân. Hiện tại miếu còn ba bản sắc phong vào các đời Thành Thái, Duy Tân và Khải Định, 8 bức hoành phi, 19 câu đối khẳng định, ca ngợi tài đức và công lao của Phạm Xạ:[6]
Mưu dũng diệt giặc Minh, muôn thuở non Lam truyền tuấn kiệt Tiếng thơm ngời dấu thánh, nghìn thu làng cũ nhớ công ơn.Ngoài đình, làng còn có chùa Thanh Dương, có quả chuông đúc xong ngày 6 tháng 7 năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), có đền Hoành Sơn thờ Mẫu Liễu Hạnh.[6]
Lễ hội hàng năm diễn ra vào các ngày: 13- 2 (ngày sinh của thần), 12- 5 (ngày Khánh hạ) và ngày 10 tháng Một (ngày hoá của thần). Trong hội tháng 2 có tục đón tiếp các quan viên hai làng kết nghĩa là Vĩnh Trung và Vĩnh Ninh gọi là "Hội kết nghĩa Tam Vĩnh".[6]
Kinh tế
[sửa | sửa mã nguồn]Làng nghề
[sửa | sửa mã nguồn]- Làng nghề làm nón Vĩnh Thịnh
- Một số có nghề làm nón Lạc Thị
- Đan lát, lồng bàn Nhị Châu
- Nghề may thôn Vĩnh Trung
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Trận Ngọc Hồi
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ "Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 sắp xếp các ĐVHC cấp xã của thành phố Hà Nội năm 2025". xaydungchinhsach.chinhphu.vn. ngày 20 tháng 6 năm 2025.
- ^ a b c d e f g h TS. Bùi Xuân Đính. "Làng Ngọc Hồi". Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2010.
- ^ a b c d e f g h i TS. Bùi Xuân Đính. "Làng Yên Kiện". Báo Hà Nội Mới điện tử. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2010.[liên kết hỏng]
- ^ a b c d e f g h i TS. Bùi Xuân Đính. "Làng Nguyệt Áng". Báo Hà Nội Mới điện tử. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2010.[liên kết hỏng]
- ^ a b c d e f g TS. Bùi Xuân Đính. "Làng Vĩnh Trung". Báo Hà Nội Mới điện tử. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2010.[liên kết hỏng]
- ^ a b c d e TS. Bùi Xuân Đính. "Làng Vĩnh Thịnh". Báo Hà Nội Mới điện tử. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2010.[liên kết hỏng]
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Trang web trường THPT Ngọc Hồi Lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2013 tại Wayback Machine
| |
|---|---|
| Phường (51), xã (75) | |
| Phường (51) | Hoàn Kiếm · Ba Đình · Bạch Mai · Bồ Đề · Cầu Giấy · Chương Mỹ · Cửa Nam · Đại Mỗ · Định Công · Đống Đa · Đông Ngạc · Dương Nội · Giảng Võ · Hà Đông · Hai Bà Trưng · Hoàng Liệt · Hoàng Mai · Hồng Hà · Khương Đình · Kiến Hưng · Kim Liên · Láng · Lĩnh Nam · Long Biên · Nghĩa Đô · Ngọc Hà · Ô Chợ Dừa · Phú Diễn · Phú Lương · Phú Thượng · Phúc Lợi · Phương Liệt · Sơn Tây · Tây Hồ · Tây Mỗ · Tây Tựu · Thanh Liệt · Thanh Xuân · Thượng Cát · Từ Liêm · Tùng Thiện · Tương Mai · Văn Miếu – Quốc Tử Giám · Việt Hưng · Vĩnh Hưng · Vĩnh Tuy · Xuân Đỉnh · Xuân Phương · Yên Hòa · Yên Nghĩa · Yên Sở |
| Xã (75) | An Khánh · Ba Vì · Bất Bạt · Bát Tràng · Bình Minh · Chương Dương · Chuyên Mỹ · Cổ Đô · Dân Hòa · Dương Hòa · Đa Phúc · Đại Thanh · Đại Xuyên · Đan Phượng · Đoài Phương · Đông Anh · Gia Lâm · Hạ Bằng · Hát Môn · Hòa Lạc · Hòa Phú · Hòa Xá · Hoài Đức · Hồng Sơn · Hồng Vân · Hưng Đạo · Hương Sơn · Kiều Phú · Kim Anh · Liên Minh · Mê Linh · Minh Châu · Mỹ Đức · Nam Phù · Ngọc Hồi · Nội Bài · Ô Diên · Phú Cát · Phù Đổng · Phú Nghĩa · Phú Xuyên · Phúc Lộc · Phúc Sơn · Phúc Thịnh · Phúc Thọ · Phượng Dực · Quảng Bị · Quang Minh · Quảng Oai · Quốc Oai · Sóc Sơn · Sơn Đồng · Suối Hai · Tam Hưng · Tây Phương · Thạch Thất · Thanh Oai · Thanh Trì · Thiên Lộc · Thư Lâm · Thuận An · Thượng Phúc · Thường Tín · Tiến Thắng · Trần Phú · Trung Giã · Ứng Hòa · Ứng Thiên · Vân Đình · Vật Lại · Vĩnh Thanh · Xuân Mai · Yên Bài · Yên Lãng · Yên Xuân |
| Nguồn: Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 | |
Bài viết thành phố Hà Nội này vẫn còn sơ khai. Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. |
- x
- t
- s
Từ khóa » Ga Ngọc Hồi ở đâu
-
Ga Ngọc Hồi Thanh Trì Thông Tin【Quy Hoạch Mới Nhất】
-
[PDF] 4.3.5 Khu Vực Nhà Ga Ngọc Hồi (Tuyến 1-V16)
-
Khu Tổ Hợp Ga Ngọc Hồi Bị Tái Chiếm Mặt Bằng Làm Nhà Xưởng, Bến Bãi
-
Tổ Hợp Ga Ngọc Hồi Sẽ Hoàn Thành Vào Năm 2024
-
Ga Ngọc Hồi - BAOMOI.COM
-
Đường Sắt đầu Mối Hà Nội Thế Nào Trong 10 Năm Tới?
-
Tiếp Nhận Tuyến đường Sắt Yên Viên – Ngọc Hồi: Hà Nội Trước Một ...
-
Ga Văn Điển, 484 Ngọc Hồi, Văn Điển, Thanh Trì, Hà Nội
-
Vị Trí Rose Town Ngọc Hồi ở đâu? Tiềm Năng Ra Sao? | Nhà Today
-
4 đường Sẽ Mở Theo Quy Hoạch ở Xã Ngọc Hồi, Thanh Trì, Hà Nội
-
Khu Tổ Hợp Ga Ngọc Hồi Rộng Gần 171ha - Báo Kinh Tế đô Thị
-
Tuyến Metro Số 1 Ngọc Hồi – Yên Viên Giờ Ra Sao? - HDPro Land
-
Giới Thiệu Chung Về Huyện Ngọc Hồi, Tỉnh Kon Tum