Nguồn Gốc Ngày Tự Tứ - Ni Giới Khất Sĩ
Có thể bạn quan tâm
Nguồn gốc ngày Tự Tứ
TK. Minh Duy

Rằm tháng bảy được biết đến như là ngày Lễ Vu Lan, cũng chính là ngày Tự Tứ Tăng. Theo truyền thống Phật giáo, hàng đệ tử xuất gia của Phật phải cấm túc An cư trong ba tháng mùa mưa.[1] Nghi thức vào ngày cuối cùng của mùa An cư Kiết hạ, ngày đó tất cả chư Tăng hội họp lại, tự nêu ra các lỗi lầm mà mình mắc phải trước các Tỷ-kheo khác, và tự sám hối nên gọi là Tự Tứ.[2] Đây là pháp chế của nhà Phật trong truyền thống Bắc truyền lẫn Nam truyền.
Chữ Tự Tứ, tiếng Pāli là Pavāranā (Skt; Pravāranā), Trung Hoa phiên âm Bát-hòa-la, Bát-lợi-ba-lạt-noa, được dịch là mãn túc, hỷ duyệt, tuỳ thỉnh, tuỳ ý v.v... Tự Tứ nói đủ là Tự Tứ Thỉnh. Tự là tự mình, tứ là nêu lên, thỉnh là thỉnh nguyện, thỉnh cầu. Tự tứ thỉnh tức là tự mình nêu lên những lỗi lầm, sai sót hoặc thỉnh cầu đại Tăng chỉ dạy mọi lỗi lầm cho mình. Những lỗi lầm đó do chư Tăng thấy, nghe, hoặc nghi (kiến, văn, nghi).
Nghi thức trong ngày Tự Tứ: Mỗi vị Tỷ-kheo quỳ trước đại chúng Tăng tự thành tâm nói lên những lỗi lầm của mình đã phạm do vô tình hay cố ý từ thân - khẩu - ý tạo nên. Khi vị nào được chúng Tăng chỉ lỗi thì thành tâm sám hối, không được cãi lại, không được sanh tâm phiền não, giận hờn. Do đó, rằm tháng bảy là ngày nói lên tinh thần phục thiện, ngày trưởng dưỡng giới đức cao thâm. Sự phát lồ sám hối này làm cho chúng Tăng thanh tịnh, tự sanh vui mừng, nên ngày này cũng gọi là “ngày Phật hoan hỷ” vì thấy chúng đệ tử của mình có tinh thần hướng thiện, biết nhìn lại và sửa chữa những lỗi lầm để thăng hoa trên đạo lộ giải thoát.
Trong truyền thống Phật giáo, pháp Tự Tứ rất quan trọng đối với đời sống đạo đức của người xuất gia. Pháp Tự Tứ không chỉ biểu hiện sự thanh tịnh và hòa hiệp của Tăng đoàn mà còn biểu thị oai lực “đức chúng như hải” của đại Tăng. Người cử tội với lòng bi mẫn, người được cử tội cũng với tâm hướng thiện đầy hoan hỷ. Thế nên, ngày Tự Tứ là dịp để chư Tăng cùng nhau sách tấn, trưởng dưỡng đạo tâm. Xưa kia, chính Đức Thế Tôn - Bậc Đạo Sư của Nhơn Thiên cũng hành pháp Tự Tứ. Trong kinh tạng còn ghi lại rằng: Một thời Thế Tôn ở Srāvasti tại Lộc Mẫu giảng đường cùng với đại chúng Tỷ-kheo đã chứng quả A-la-hán. Lúc bấy giờ, nhân ngày trăng tròn Bố-tát Tự Tứ, Thế Tôn ngồi giữa trời, có đại chúng Tỷ-kheo xung quanh. Nhìn đại chúng Tỷ-kheo thanh tịnh, im lặng Ngài liền nói rằng: “Này các Tỷ-kheo, nay Ta mời các Ông nói lên, các Ông có điều gì chỉ trích Ta hay không, về thân hay về lời nói?”.[3]
Nghe Thế Tôn nói như vậy, Tôn giả Sāriputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, cung kính chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch rằng: “Bạch Thế Tôn, chúng con không có chỉ trích gì Thế Tôn về thân hay về lời nói. Bạch Thế Tôn, con đường chưa sanh khởi, Thế Tôn làm cho sanh khởi; con đường chưa được rõ biết, Thế Tôn làm cho rõ biết; con đường chưa được thuyết giảng, Thế Tôn thuyết giảng. Thế Tôn biết đạo, hiểu đạo, thiện xảo về đạo; và bạch Thế Tôn, các đệ tử nay là những vị sống hành đạo, và sẽ thành tựu (những pháp ấy) về sau”.[4]
Sau khi trình giải lên Thế Tôn và đại chúng như vậy xong. Tôn giả liền bạch Phật rằng: “Con xin mời Thế Tôn nói lên, Thế Tôn có điều gì chỉ trích con hay không, về thân hay về lời nói?”[5]
Đức Phật đáp rằng: “Này Sāriputta, Ta không có gì chỉ trích Ông về thân, hay về lời nói. Này Sāriputta, Ông là bậc Đại trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Quảng trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Tốc trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Tiệp trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Nhuệ trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Thể nhập trí. Này Sāriputta, ví như trưởng tử, con vua Chuyển luân vương, chơn chánh vận chuyển bánh xe đã được vua cha vận chuyển. Cũng vậy, này Sāriputta, Ông chơn chánh chuyển vận pháp luân vô thượng đã được Ta chuyển vận”.[6]
Thế Tôn dạy như thế xong, Tôn giả Sāriputta lại bạch: “Nếu Thế Tôn không có gì chỉ trích con về thân hay về lời nói, vậy bạch Thế Tôn, đối với khoảng năm trăm Tỷ-kheo này, Thế Tôn có gì chỉ trích hay không, về thân hay về lời nói?”.[7]
Đây cũng chính là nguồn gốc phát khởi pháp Tự Tứ, một truyền thống cao đẹp trong Phật giáo. Ngày nay, truyền thống này vẫn còn được gìn giữ và hành trì một cách trang trọng như một pháp chế của nhà Phật. Ngày Tự Tứ cũng là dịp để chúng Tăng thể hiện tinh thần hoà hợp - một yếu tố sống còn duy trì mạng mạch Phật giáo, đồng thời cùng nhau sách tấn phát khởi pháp lành, tiến tu đạo nghiệp.
[1] Truyền thống Phật giáo Bắc truyền, ba tháng An cư bắt đầu từ ngày 16 tháng 4 âm lịch, cho đến ngày rằm tháng 7 âm lịch. Phật giáo Nam truyền bắt đầu từ ngày 16 tháng 6 âm lịch cho đến ngày 15 tháng 9 âm lịch. [2] Phân viện Nghiên cứu Phật học, Tự điển Phật học Hán Việt, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 2004, trang 1474.
[3] HT. Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tương Ưng Bộ I – Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1993, trang 237.
[4] Sđd, trang 238.
[5] Sđd, trang 238.
[6] Sđd, trang 238.
[7] Sđd, trang 238.
---oOo---
Nguồn: Đạo Phật Khất Sĩ
Từ khóa » Giờ Tự Tứ Là Mấy Giờ
-
Ngày Tự Tứ | Giác Ngộ Online
-
Ngày Tự Tứ Mùa Vu Lan Trong Phật Giáo - .vn
-
Đôi điều Về Tự Tứ - .vn
-
The Nao La Tu Tu
-
Ý Nghĩa Lễ Tự Tứ - Tuyển Tập Vu Lan - THƯ VIỆN HOA SEN
-
Nguồn Gốc Và ý Nghĩa Của Lễ Tự Tứ Trong đạo Phật - Sống Đẹp
-
Rằm Tháng Bảy: Ngày Tự Tứ, Ngày Bụt Hoan Hỷ, Ngày Báo Hiếu, Ngày ...
-
Vu Lan - Ngày Tự Tứ - Thiền Viện Thường Chiếu
-
Kinh Vu Lan Và Báo Hiếu - Chùa Hoằng Pháp
-
Cần Hiểu Lại Nghi Lễ Tự Tứ - Phật Việt
-
21. Giáo Giới Ni Không được Tăng Sai - SuttaCentral
-
Rằm Tháng 7 Là Ngày Gì? Là Ngày Chư Tăng Tự Tứ, Ngày Lễ Vu Lan ...