Nguyễn Quốc Thước – Wikipedia Tiếng Việt

Nguyễn Quốc Thước
Sinh3 tháng 2, 1926 (100 tuổi)xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, Liên bang Đông Dương
Quốc tịch Việt Nam
Thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ1949–1997
Cấp bậc  Trung tướng
Chỉ huyCác đơn vị:
  • Quân đoàn 3
  • Quân khu 4
Tham chiếnChiến dịch Hồ Chí Minh

Nguyễn Quốc Thước (sinh ngày 3 tháng 2 năm 1926) là Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam và chính khách Việt Nam, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Ông nguyên là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI, Tư lệnh Quân khu 4, Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa VIII, IX, X, thuộc đoàn đại biểu Nghệ An.[1]

Thân thế và sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Quốc Thước sinh ngày 3 tháng 2 năm 1926 tại xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, (nay là xã Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) trong một gia đình thuần nông.[2][3] Năm 1944, ông học tại Trường Quốc học Vinh và tốt nghiệp bằng diplôme; nhưng thay vì học thêm để làm chốn quan trường thì ông lại chọn nghỉ học về nhà cày ruộng và đợi thời cơ theo cách mạng.[3] Ông tham gia Cách mạng từ tháng 4 năm 1945 trong phong trào Việt Minh tại địa phương, là cán bộ tiền khởi nghĩa, rồi nhập ngũ tháng 7 năm 1947, và được kết nạp vào Đảng ngày 1 tháng 7 năm 1947, chính thức ngày 1 tháng 12 năm 1947 trong bí mật.[2][4]

Sau khi giành chính quyền tại địa phương, từ tháng 4 năm 1945 đến tháng 12 năm 1945, ông hoạt động trong phong trào Việt Minh xã Nghi Diên. Tháng 1 năm 1947, ông là Bí thư huyện đoàn rồi nhân viên toà án huyện Nghi Lộc, tham gia phong trào Bình dân học vụ.[3] Tháng 7 năm 1947 ông nhập ngũ và được cử đi học tại Trường Sĩ quan Lục quân (nay là Trường Đại học Trần Quốc Tuấn). Từ tháng 12 năm 1949 đến tháng 12 năm 1951, ông là học viên Trường Sĩ quan Lục quân khóa 5; Chi ủy viên, Trung đội trưởng Huấn luyện Trường Sĩ quan Lục quân khóa 6.[4]

Tháng 1 năm 1952, ông là Trung đội trưởng thuộc Đại đội 123, Trung đoàn 101, Sư đoàn 325. Trong Chiến dịch Trung Hạ Lào cuối năm 1953, đầu năm 1954, với cương vị Phó Đại đội trưởng rồi Đại đội trưởng, ông đã chỉ huy đơn vị phối hợp cùng các đơn vị và bộ đội Pa-thét Lào chiến đấu tiêu diệt nhiều tiểu đoàn lính Âu-Phi, hoàn thành nhiệm vụ Quân ủy Trung ương và Tổng Tư lệnh giao.

Từ tháng 1 năm 1954 đến tháng 12 năm 1959, ông là Phó ban Tác huấn Sư đoàn 325. Tháng 1 năm 1960, Trưởng ban Tác huấn Sư đoàn 325. Tháng 6 năm 1965, đi B với bí danh Phương, là Phó ban Tác huấn Mặt trận Tây Nguyên. Năm 1968, là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 Mặt trận Tây Nguyên. Năm 1970, là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 28 Mặt trận Tây Nguyên.

Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975 là chiến dịch then chốt làm thay đổi cục diện chiến trường toàn miền Nam. Năm 1972, ông là Tham mưu trưởng Mặt trận Tây Nguyên rồi là Bí thư Đảng ủy Bộ tham mưu, Tham mưu trưởng chiến dịch Tây Nguyên từ tháng 3 năm 1975.[2][3][4]

Từ táng 4 năm 1975 đến năm 1977, ông là Đảng ủy liên quân đoàn, Tham mưu trưởng của Quân đoàn 3,[4] tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, rồi được cử đi học tại Học viện Quân sự cấp cao.

Từ tháng 7 năm 1978 đến tháng 12 năm 1979, ông là Phó tư lệnh, quyền Tư lệnh Quân đoàn 3, Phó bí thư Đảng uỷ Quân đoàn.

Tháng 1 năm 1980, Nguyễn Quốc Thước là học viên Học viện Quân sự cấp cao rồi Tư lệnh Quân đoàn 3 kiêm Bí thư Đảng uỷ Quân đoàn.

Năm 1981, học viên Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc.

Đầu năm 1983, đi học bổ túc tại Học viện Bộ Tổng Tham mưu Liên Xô mang tên Voroshilov.

Tháng 12 năm 1983, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 4.

Từ tháng 4 năm 1987 đến tháng 12 năm 1996, ông là Tư lệnh, Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu 4.

Tháng 12 năm 1986, ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng.

Tháng 4 năm 1987, ông trúng cử đại biểu Quốc hội khóa VIII và liên tục là thành viên của Quốc hội các Khóa IX và X. Ông nổi tiếng với những phát biểu, chất vấn thẳng thắn, trách nhiệm, được nhiều người ví như “lò thuốc súng giữa nghị trường”.[3][5] Tháng 1 năm 1997, ông nghỉ hưu.[5]

Từ tháng 12 năm 1997 đến tháng 12 năm 2002, ông tham gia Ban lãnh đạo Hội Cựu chiến binh Việt Nam trên cương vị Phó chủ tịch Hội.

Lịch sử thụ phong quân hàm

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm thụ phong 1980 1987
Cấp bậc Thiếu tướng Trung tướng

Khen thưởng

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Huân chương Độc lập hạng Nhì
  • Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba)
  • Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất
  • Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất
  • Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba)
  • Huân chương Chiến thắng hạng Ba
  • Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba)
  • Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba)
  • Huy chương Quân kỳ Quyết thắng
  • Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng
  • Huy chương Vì Thế hệ trẻ
  • Huy chương Vì sự nghiệp nhân đạo
  • Huy chương Vì sự nghiệp phụ nữ
  • Huy chương Vì sự nghiệp công đoàn.
  • Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.
  • Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng.[2][4]
  • Anh Hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân (Được phong tặng năm 2020).[5]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "Danh sách Đại biểu Quốc hội khóa X". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2012.
  2. ^ a b c d Quốc Toản (ngày 29 tháng 8 năm 2025). "Vị tướng luôn hết mình vì việc chung". Nhân Dân. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2026.
  3. ^ a b c d e "Trung tướng Nguyễn Quốc Thước Một tấm gương ưu tú vì nước vì dân". Theo Báo Nghệ An. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2026.
  4. ^ a b c d e Sóng Hữu (ngày 28 tháng 8 năm 2025). "Trung tướng Nguyễn Quốc Thước nhận Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng". Lao Động. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2026.
  5. ^ a b c Hồng Nhung (ngày 22 tháng 12 năm 2021). "Trung tướng Nguyễn Quốc Thước và chuyện tình cổ tích". Phụ nữ Thủ đô. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2026.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
Flag of Việt NamSoldier icon

Bài viết tiểu sử liên quan đến nhân vật quân sự Việt Nam này vẫn còn sơ khai. Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn.

  • x
  • t
  • s

Từ khóa » Trung Tướng Nguyễn Quốc Thước Cần Tôn Vinh