Nhà Nho Họ ĐÀM La Khê | HẠ LONG VĂN ĐÀN

Nhà Nho cuối cùng trong họ Đàm La Khê !

 

Những năm đầu vào miền Nam, 1954-60, khu đông dân di cư như Bàn Cờ, Vườn Chuối, còn lác đác vài cụ mặc áo dài thâm khăn xếp nghiêm túc đi giữa đô thành nắng chói.Ông Bác lớn anh mẹ tôi, Đàm Quang Lệ, vốn là một Nho sĩ từng dự kỳ thi Hương cuối cùng khoảng 1915, vẫn mặc áo the đen, đội khăn, quần vải trắng, cụ từng hoạt động với Xứ Nhu ở Bắc giang thời 1925. Tôi nhớ hai câu thơ cụ đọc cho Ba tôi nghe vào thời tố Cộng  1955-56 :

..Nghiến răng căm giận ông Trời

                              Sinh ra Cộng Sản ở đời làm chi..

              

Bà chị họ tôi, chị Tự, con gái cả của cụ, kể lại một giai thoại cười ra nước mắt : khi cụ bị Tây bắt vì hoạt động cách mạng với Xứ Nhu, khoảng 1930, bà mới lên mấy tuổi, reo lên mừng rỡ “ hôm nay bố được đi xe ô tô !”, xe ô tô đây là xe bắt tù của mật thám Pháp ! Giai thoại này, và nhìn một số ảnh chụp khoảng 1917-19 mà gia tộc lưu trữ được, mới thấy xã hội Việt Nam thời đó rất chậm tiến nghèo nàn, ăn mặc thô sơ, nhà cửa thấp bé, đa số mái tranh. Nhưng ưu điểm của xã hội Việt cổ là có nền nếp, trật tự, kẻ sĩ đứng đầu trên bảng Sĩ, Nông,Công,Thương. Sau Đề Thám, tới Xứ Nhu, Nguyễn Thái Học, sĩ phu Bắc Hà chống Pháp với tất cả tâm thành nhiệt huyết, mươi lăm năm sau, bó đuốc trao lại cho thế hệ mới, Tây học, thành thị, không nắm vững được quần chúng nên dễ thất bại vì mất nhiều huyết mạch làng xã bình dân.

Nhớ lại thời trước 1954, bác tôi lâu lâu lên Hà Nội, bảo tôi mang luận văn lớp Nhất ra đọc cho cụ nằm bình văn như thấy đồ ngày xưa, có khi bác tôi nổi hứng dậy võ, chỉ cách đứng tấn, đinh tấn, trảo tấn…nếu bị khoá tay thì chỉ còn cách nhổ bọt vào mắt nó, nó lúng túng là mình vùng ra…thời băng rừng đi họp mật với Xứ Nhu, đỉa bám đầy mình, anh hùng tới đâu mà nghe tiếng cọp gầm cũng phải run !…Có lần Bác tôi vỗ tay vào bụng : 13 thiên binh pháp Tôn Tử nằm ở đây này ! Nghe các anh bà con từ tỉnh Quảng Yên nghỉ Hè về làng Cụ dạy chữ Nho kể lại ( trước 1954) thì  Cụ  còn thuộc lòng đọc vanh vách Tứ Thư Ngũ Kinh như thuở sinh đồ đi thi Nho học.

Hè-1954 Bác tôi còn lên Hà Nội, nhỏ to cả buổi hàn huyên với thầy Mai Đình Niên là hiệu trưởng trường tiểu học Hàng Vôi, nơi tôi theo học suốt 4 năm Tiểu học, thầy Niên có lẽ là đồng chí với Cụ từ thời Xứ Nhu, tôi nhớ Ba tôi đi làm về ghé tai Bác tôi và thầy Niên : Điện Biên Phủ thất thủ rồi đấy…sau đó thầy Niên hàng đêm tới nhà thúc dục Ba tôi di cư vào Nam.

 

Sau này vào Nam bác tôi và bà con cả ra Hội An sống, nhân một người trong họ trong làng là Đại tá Đàm Quang Yêu đang giữ chức quyền ở vùng này, bác tôi nhận định : dân tứ Quảng có nghĩa khí, hơn dân Huế ! Thời 1948-49 ở Quảng Yên, Ba tôi thấy anh Đàm Quang Yêu trai tráng khoẻ mạnh, khuyên anh gia nhập quân đội, anh nghe lời, được vào học trường sĩ quan quốc gia ở Huế, đồng khoá với TT Nguyễn văn Thiệu, sau vì dính dáng tới vụ Phật giáo ở Đà Nẵng nên anh bị đưa vào Sài Gòn, rồi di tản, mất ở xứ lạnh Canada khoảng sau năm 2000, cũng như ông cậu họ đào hoa, Đàm Quang Hoàn, từng cai quản đảo Cát Hải, những con dân xuất phát từ đồng quê làng La Khê ven sông Bạch Đằng, họ thực thà yêu nhà yêu nước, nay vùi thây cách nửa vòng trái đất xứ Quebec băng giá ! Trời xanh kia ! sao lại oái oăm quái lạ đến như thế !

Thế hệ chót Nho học tan dần, tới thập niên 1970 thì đa số  các cụ đã dạo chơi miền tiên cảnh cả, hình ảnh các thầy đồ Nho như cụ Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Giác, cụ Á Nam Trần Tuấn Khải, ở trường Đại học Văn Khoa Sàigòn, các cụ thầy bói ngồi ở Lăng Ông xem quẻ, viết sớ, không còn nữa, mà thời cuộc lúc này khôn lường, các cụ sang quốc độ khác có lẽ yên ổn hơn là sống vào thời bát nháo loạn lạc múa rối “ văn minh Đông Á Trời thu sạch” này.

Riêng Bác tôi, Đàm Quang Lệ, mất khoảng 1967 ở Hội An, tro cốt sau này đã được mang về bản quán La Khê -Quảng yên như ý nguyện của cụ. Những cơn bão táp của Việt sử rồi cũng qua đi, hai chữ Thiện căn và Phúc đức trước sau vẫn là nền tảng xã hội, dòng họ ngàn năm như họ Đàm giống như cây cổ thụ, rễ sâu vào tận đáy lòng dân tộc, chẳng gì lay chuyển nổi.

( Họ ĐÀM chính quán Hương Mặc, Từ Sơn, Bắc Ninh, nổi tiếng với cụ TS Thượng Thư Đàm Thận Huy triều Lê ném nghiên mực vào mặt Mạc Đăng Dung, và từng có chân trong Nhị Thập Bát Tú đời Lê Thánh Tôn, thế kỷ 17 có cụ Đàm Quốc sư dậy học Chúa Trịnh Cương. Khoảng 1680 một nhánh di xuống miền Quảng Yên, lập làng La Khê ven sông Bạch Đằng, hơn 300 năm nay. Nét chung di truyền : nam nhân da trắng , trán cao rộng, óc thông minh có thể đạt tới mức thiên tài, đa số trung thực, rộng rãi, có làm quan như cụ Án Đàm Quang Mỹ vẫn không tham tiền, nên thanh bạch, giữ trọn nhân nghĩa Một chi Đàm Quang theo Tây Sơn ( ?), khi Gia Long thắng chi này trốn lên vùng dân tộc Thái hoà nhập sinh ra mấy ông Tướng Đàm Quang thời 1940, nhiều người vì thế tưởng họ Đàm là người Thái miền thượng du Bắc Việt ).Image

Bến đò RỪNG-sông Bạch Đằng 1993-đẹp như tranh vẽ-dân tình vẫn tốt, dọng nói không đổi, Quảng Yên nay là Thị xã.

37.297764 -121.808529

Rate this:

Share this:

  • X
  • Email
  • Print
  • Facebook
  • More
  • Tumblr
  • LinkedIn
Like Loading...

Related

Từ khóa » Họ đàm Là Dân Tộc Gì