Nhảy Dù VNCH - NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA
Có thể bạn quan tâm

Sư đoàn Nhẩy dù Quân lực Việt Nam Cộng hòa – hay Binh chủng Nhẩy Dù (tiếng Anh: Vietnamese Airborne Division, VNAD) – là một đơn vị Chính quy trực thuộc Không lực Việt Nam Cộng hòa, có lịch sử thành lập sớm nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Sau này là một Sư đoàn tác chiến độc lập và trở thành đơn vị Tổng trừ bị trực thuộc Bộ Tổng tham mưu. Thời Đệ nhất Cộng hòa
Ngày 29/9/1954 Pháp bàn giao quân đội lại cho chính phủ Việt Nam. Trong các trận đánh với quân đối phương, tiểu đoàn 4,7 bị thiệt hại nặng và giải tán để lấy quân số bổ sung cho Bộ chỉ huy và đội yểm trợ. Liên đoàn Nhẩy dù được thành lập từ 4 Tiểu đoàn 1, 3, 5 và 6. Chỉ huy trưởng Liên đoàn Dù là Thiếu tá Đỗ Cao Trí. Liên đoàn có khoảng 4.000 người gồm Bộ chỉ huy, các Tiểu đoàn 1, 3, 5, 6 và Tiểu đoàn Trợ chiến (Quân y, Công Binh, Kỹ thuật và Súng cối mỗi một Đại đội, Truyền tin 1 phân đội và Tiếp tế thả dù 1 Trung đội). Đến giữa năm 1955 toàn bộ Liên đoàn đã đóng quân tại Sài Gòn, Trung tâm Huấn luyện Nhẩy Dù cũng được thành lập tại căn cứ Tân Sơn Nhất.
Ngày 1/9/1956 Trung tá Nguyễn Chánh Thi thay thế Đại tá Đỗ Cao Trí nhận chức vụ Chỉ huy trưởng. Năm 1959 Liên đoàn đổi tên thành Lữ đoàn Nhẩy dù. Ngày 12/11/1960 Trung tá Cao Văn Viên được cử giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Lữ đoàn, thay thế Đại tá Nguyễn Chánh Thi tham gia đảo chính bất thành.
Năm 1961 Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8 Nhẩy Dù được thành lập. Năm 1962 Liên đoàn Nhẩy Dù tổ chức thành 2 Chiến đoàn Nhẩy Dù. Thiếu tá Dư Quốc Đống là Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 1 gồm các Tiểu đoàn 1, 3 và 8, đóng tại Căn cứ Hoàng Hoa Thám. Thiếu tá Đỗ Kế Giai là Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 2 gồm các Tiểu đoàn 5, 6 và 7, đóng tại Tam Hiệp, Biên Hòa. Đệ nhị Cộng hòa Quân kỳ
Năm 1964 Đại tá Cao Văn Viên được đặc cách thăng Thiếu tướng ngay tại mặt trận sau chiến thắng Hồng Ngự, bổ nhiệm về Bộ Tổng Tham mưu, Trung tá Dư Quốc Đống lên giữ chức vụ Tư lệnh Lữ đoàn Nhẩy Dù.
Giữa năm 1965 Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 9 Nhẩy Dù và Tiểu đoàn Pháo binh được thành lập. Đơn vị Quân y được nâng cấp thành Tiểu đoàn Quân y.
Ngày 1/12/1965 Lữ đoàn Nhẩy Dù tổ chức nâng cấp thành Sư đoàn Nhẩy Dù. (Bộ Tư lệnh Sư đoàn được đặt tại trại Hoàng Hoa Thám, Tân Bình, Gia Định). Các Chiến đoàn 1 và 2 đổi tên thành Lữ đoàn, do Trung tá Hồ Trung Hậu (Lữ đoàn 1) và Trung tá Đào Văn Hùng chỉ huy (Lữ đoàn 2). Lữ đoàn 3 Nhẩy Dù được thành lập, Trung tá Nguyễn Khoa Nam là Lữ đoàn trưởng. Lính dù Hoàng Ngọc Giao (trực thuộc Tiểu đoàn 5) chuẩn bị thực hiện một phi vụ nhảy toán.
Tiểu đoàn 11 Nhẩy dù được thành lập năm 1967. Tiểu đoàn Yểm trợ KBC 4759 (Tiền thân là Tiểu đoàn Trợ chiến) được thành lập ngày 1/11/1968, có 6 Đại đội là: Đại đội Chỉ huy và Công vụ, Đại đội kỹ thuật, Đại đội Tài chính, Đại đội Vận tải, Đại đội Tiếp liệu, Đại đội Bảo trì và 4 Phân đội Tiếp vận Hành quân, yểm trợ với 4 Lữ đoàn tác chiến. Đồn trú trong Căn cứ Hoàng Hoa Thám. Tiểu đoàn trưởng đầu tiên là Trung tá Tống Hồ Hàm. Tiểu đoàn trưởng cuối cùng là Thiếu tá Võ Văn Thu.
Năm 1968, Sư đoàn Dù đã hoàn chỉnh với 3 Lữ đoàn gồm 9 Tiểu đoàn tác chiến, 3 Đại đội Trinh sát và 3 Tiểu đoàn Pháo binh. Dù bị thiệt hại khá nặng qua các chiến dịch trong Tet Offensive, đơn vị vẫn kịp thời được bổ sung và giữ vững đội hình.
Đầu năm 1974, thành lập Lữ đoàn 4 với các Tiểu đoàn trực thuộc tân lập gồm: 3 Tiểu đoàn 12, 14 và 15. Đồng thời thành lập thêm 3 Tiểu đoàn biệt lập trực thuộc Bộ Tư lệnh Sư đoàn: Tiểu đoàn 16, 17 và 18. Dù là một đơn vị đặc biệt, tổng trừ bị của QLVNCH
Sư đoàn Nhẩy dù là một đơn vị tinh nhuệ và thiện chiến của Quân lực Việt Nam Việt Nam Cộng hòa, đặt dưới quyền điều động trực tiếp của Bộ Tổng Tham mưu. Quân nhân trong Sư đoàn từ binh sĩ đến sĩ quan đều là thành phần tình nguyện sau khi mãn khóa quân trường, tuy nhiên vẫn phải qua một quá trình tuyển chọn rất kỹ lưỡng mới được gia nhập vào binh chủng. Đặc biệt đa phần lực lượng là con em Công giáo, trong số đó cũng có khá nhiều người miền bắc di cư năm 1954. Được huấn luyện nhẩy dù và ôn tập tác chiến rất chu đáo, trang bị vũ khí tối tân. Những trận chiến và biến cố lớn
Từ khi thành lập đến khi hoàn thiện, sư đoàn Dù liên tiếp đối đầu với những đơn vị giỏi của đối phương. Sư đoàn tham gia chiến tranh cục bộ, những trận chiến Mậu Thân, Việt Nam hóa chiến tranh với những thương vong cực lớn và cũng được chính đối phương đánh giá cao.
Năm 1971, Sư đoàn Nhẩy dù đã tham gia Chiến dịch Lam Sơn 719. Dù có không quân Mỹ yểm trợ, vẫn mắc bẫy đối phương và bị Sư đoàn 320 (F320A) QĐNDVN tiêu diệt mất Lữ đoàn 3, bắt sống Lữ đoàn trưởng Nguyễn Văn Thọ. Quân Dù bị đánh thiệt hại rất nặng trong chiến dịch này.
Năm 1972, sau Mùa hè đỏ lửa Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng giữ chức vụ Sư đoàn trưởng. Đầu năm 1974 Lữ đoàn 4 Nhẩy Dù được thành lập, Trung tá Lê Minh Ngọc là Lữ đoàn trưởng. Ngày 20 tháng 4 năm 1975, Lữ đoàn phó là Trung tá Nguyễn Đình Ngọc lên thay và chỉ huy Lữ đoàn 4 phòng thủ Sài Gòn.
Năm 1974, Lữ đoàn 1 và 2 Nhẩy dù đã cùng với Sư đoàn 3 Bộ binh tái chiếm lại Thượng Đức, một tiền đồn quan trọng của Việt Nam Cộng Hòa đã bị F304 đánh chiếm trước đó.
Tái chiếm lần thứ nhất vào ngày 19-9-1974. Tái chiếm lần thứ hai vào ngày 11-11-1974. Đến cuối năm, đơn vị Dù thất bại và rút ra ngoài gần hết quân, chỉ để lại 2 tiểu đoàn cầm cự lẻ tẻ.
Năm 1975, Ban Mê Thuột thất thủ, Sư đoàn 23 Bộ binh bị đánh tan ở Nông Trại, Phước An và sân bay Hòa Bình, phía đông Ban Mê Thuột. Lữ đoàn 3 Nhẩy dù đã được điều từ Vùng 1 Chiến thuật vào giữ đèo Phụng Hoàng ngăn đối phương phát triển xuống đồng bằng; Lữ 3 kháng cự một thời gian và bị đánh tan.
Cùng với việc Lữ đoàn 3 Nhẩy dù được gửi đến đèo Phụng Hoàng, Lữ đoàn 1 và 2 Nhẩy dù được điều về miền đông phòng thủ trước cửa ngõ Sài Gòn. Các đơn vị này đã tham gia trận đánh nổi tiếng bên cạnh Sư đoàn 18 Bộ binh, Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù tại Xuân Lộc, đánh trả Quân đoàn 4 gồm các Sư đoàn 341, 6, 7 QĐNDVN
Phần còn lại của lực lượng Dù đã về Sài Gòn khi Xuân Lộc thất thủ. Họ đã chiến đấu với Sư đoàn 325 và không cản được lữ đoàn xe tăng 203 đối phương tiến về Dinh Độc Lập. Khi tổng thống Minh đầu hàng, Dù cũng đầu hàng. Đơn vị trực thuộc
* Từ Bộ chỉ huy Tổng hành dinh đến Bộ chỉ huy Pháo binh là những đơn vị yểm trợ TT Đơn vị Chú thích TT Đơn vị Chú thích 1 Lữ đoàn 1 -Các Tiểu đoàn 1, 8, 9 -Đại đội 1 Trinh sát 10 Ban Quân nhạc 2 Lữ đoàn 2 -Các Tiểu đoàn 5, 7, 11 -Đại đội 2 Trinh sát 11 Tiểu đoàn Quân y 3 Lữ đoàn 3 -Các Tiểu đoàn 2, 3, 6 -Đại đội 3 Trinh sát 12 Tiểu đoàn Truyền tin 4 Lữ đoàn 4 -Các Tiểu đoàn 12, 14, 15 -Đại đội 4 Trinh sát 13 Tiểu đoàn Yểm trợ Gồm các Đại đội: -Chỉ huy & Công vụ -Tài chính -Vận tải -Tiếp liệu -Kỹ thuật -Bảo trì Và các Phân đội yểm trợ hành quân cho 4 Lữ đoàn 5 Lữ đoàn 5 (Đang hình thành) -Các Tiểu đoàn 16, 17, 18 -(Tiểu đoàn 5 Pháo binh và Đại đội 5 Trinh sát đang hình thành) 14 Bộ chỉ huy Trung tâm Huấn luyện Sư đoàn 6 Bộ chỉ huy* Tổng hành dinh 15 Tiểu đoàn Huấn luyện Quân trường Vương Mộng Hồng 7 Đại đội Quân cảnh 204 16 Khối Bổ sung Sư đoàn 8 Đại đội Thám báo Dưới quyền điều động trực tiếp của Tư lệnh Sư đoàn 17 Bệnh viện Đỗ Vinh 9 Biệt đội Tác chiến Điện tử 18 Bộ chỉ huy Pháo binh Các Tiểu đoàn 1, 2, 3, 4 trang bị đại bác 105ly. Phối thuộc với 4 Lữ đoàn Bộ Tư lệnh Sư đoàn & các Lữ đoàn tháng 4/1975 Chức danh Chỉ huy & Tham mưu sau cùng: TT Cấp bậc Họ & Tên Chức vụ Chú thích 1 Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng Tư lệnh 2 Đại tá Trương Vĩnh Phước Thủ Đức K4 Tư lệnh phó 3 nt Văn Bá Ninh Tham mưu trưởng Cấp bậc Tiểu đoàn trưởng 4 Trung tá Nguyễn Văn Đĩnh Đà Lạt K15 Chỉ huy Lữ đoàn 1 Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá Ngô Tùng ChâuTiểu đoàn 1 Nguyễn Viết Thanh(ĐL K18) Tiểu đoàn 8 Lê Mạnh Đường Tiểu đoàn 9 5 Đại tá Nguyễn Thu Lương* Thủ Đức K4 Chỉ huy Lữ đoàn 2 Thiếu tá Trung tá Thiếu tá Võ Trọng Em Tiểu đoàn 5 Nguyễn Lô(ĐL K18) Tiểu đoàn 7 Nguyễn Văn Thành Tiểu đoàn 11 6 nt Trần Đăng Khôi Đà Lạt K16 Chỉ huy Lữ đoàn 3 Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá Trần Công Hạnh(ĐL K20) Tiểu đoàn 2 Lã Quý Trang Tiểu đoàn 3 Trần Tấn Hòa(ĐL K20) Tiểu đoàn 6 7 nt Lê Minh Ngọc Đà Lạt K16 Chỉ huy Lữ đoàn 4 Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá Nguyễn Văn Nghiêm(ĐL K20) Tiểu đoàn 12 Nguyễn Đức Tâm Tiểu đoàn 14 Nguyễn Văn Phú Tiểu đoàn 15 8 Đại tá Nguyễn Văn Tường Thủ Đức K4 Chỉ huy trưởng Pháo binh Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá Nguyễn Bá Trí Tiểu đoàn 1 Nguyễn Ngọc Triệu(TĐ K10) Tiểu đoàn 2 Nguyễn Văn Thông(Đồng Đế K1) Tiểu đoàn 3 Đặng Hữu Minh Tiểu đoàn 4 9 Lữ đoàn 5 (Đang hình thành) Trung tá Thiếu tá Thiếu tá Phạm Kim Bằng(ĐL K16) Tiểu đoàn 16 Hồng Thu Tiểu đoàn 17 Lê Hữu Chí Tiểu đoàn 18
* Ngày 16 tháng 3/75 mặt trận Phan Rang thất thủ, Đại tá Nguyễn Thu Lương bị đối phương bắt làm tù binh. Trung tá Đào Thiện Tuyển thay thế chỉ huy Lữ đoàn 2 cho đến cuối tháng 4/75. Chỉ huy Lữ đoàn & Đơn vị Yểm trợ qua các thời kỳ
*Cấp bậc khi nhậm chức TT Đơn vị Họ & Tên Cấp bậc* Tại chức Chú thích Lữ đoàn 1 Đơn vị tác chiến Năm 1961, thành lập với danh xưng ban đầu là Chiến đoàn 1, đến năm 1968 đổi tên thành Lữ đoàn 1 1 Dư Quốc Đống Đà Lạt K5 Thiếu tá 1961-1964 2 Bùi Kim Kha Đà Lạt nt 1964-1966 Năm 1970 là Đại tá Tham mưu trưởng Sư đoàn Dù 3 Hồ Trung Hậu Thủ Đức K4 nt 1966-1967 4 Lê Quang Lưỡng Thủ Đức K4 nt 1967-1972 5 Lê Văn Ngọc Thủ Đức Trung tá 1972-1974 Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng sau cùng của Tỉnh Quảng Ngãi 6 Nguyễn Văn Đĩnh Đà lạt K15 nt 1974-1975 Lữ đoàn 2 Đơn vị tác chiến Thành lập Chiến đoàn và đổi tên thành Lữ đoàn cùng thời điểm với Lữ đoàn 1 1 Đỗ Kế Giai Đà Lạt K5 Thiếu tá 1961 2 Hồ Tiêu Đập Đá Huế K2 nt 1961-1963 Là Đại tá Tư lệnh sau cùng của Binh chủng Lực lượng Đặc biệt (giải tán năm 1970) 3 Đỗ Kế Giai nt 1963-1964 4 Trương Quang Ân Đà Lạt K7 nt 1964-1965 5 Ngô Xuân Nghị Đà lạt nt 1965-1966 Sau cùng là Đại tá Chánh Sở Công tác Nha Kỹ thuật Bộ Tổng tham mưu 6 Đào Văn Hùng Đà Lạt nt 1966-1968 Sau cùng là Trung tá Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Sư đoàn Dù 7 Trần Quốc Lịch Thủ Đức K4p Trung tá 1968-1972 8 Nguyễn Thu Lương Thủ Đức K4 Đại tá 1972-1974 9 Lê Minh Ngọc Đà Lạt K16 Trung tá 1974 10 Nguyễn Thu Lương Đại tá 1974-1975 11 Đào Thiện Tuyển Đà Lạt K14 Trung tá 3/1975 Ngày 16/3/1975, Đại tá Lương bị địch bắt tại mặt trận Phan Rang, Trung tá Tuyển được chỉ định thay thế làm Lữ trưởng đến 30/4/1975
Lữ đoàn 3 Đơn vị tác chiến Năm 1966, thành lập với danh xưng ban đầu là Chiến đoàn 3, đổi tên thành Lữ đoàn cùng thời điểm với Lữ đoàn 1 và 2 1 Nguyễn Khoa Nam Thủ Đức K3 Trung tá 1966-1970 2 Nguyễn Văn Thọ Thủ Đức K4 nt 1970-1971 Bị địch bắt làm tù binh trong trận Hạ Lào Lam Sơn 719 năm 1971 3 Trương Vĩnh Phước Thủ Đức K4 nt 1971-1972 4 Văn Bá Ninh nt 1972-1974 5 Lê Văn Phát Thủ Đức K4 nt 1974-1975 6 Trần Đăng Khôi Đà Lạt K16 nt 1975 Lữ đoàn 4 (Tân lập) Đơn vị tác chiến 7 Lê Minh Ngọc nt 1974-1975 Pháo binh Đơn vị Yểm trợ Năm 1965, Lữ đoàn Dù được nâng cấp Sư đoàn đồng thời thành lập Tiểu đoàn Pháo binh (mỗi Lữ đoàn có 1 Pháo đội yểm trợ). Thiếu tá Huỳnh Long Phi được cử làm Tiểu đoàn trưởng. Đến năm 1968, thành lập thêm 2 Tiểu đoàn nữa đồng thời thành lập Bộ chỉ huy Pháo binh. Thiếu tá Phi vẫn là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Dù đầu tiên (đổi tên thành Tiểu đoàn 1 Pháo binh) kiêm Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Pháo binh Sư đoàn Dù. 1 Huỳnh Long Phi Thủ Đức K4 Thiếu tá 1965-1971 Năm 1972, tử nạn trực thăng trong khi thi hạnh nhiệm vụ, được truy thăng Đại tá 2 Nguyễn Văn Tường Thủ Đức K4 Trung tá 1971-1975 Cấp bậc sau cùng là Đại tá Trợ chiến Tiểu đoàn Yểm trợ Đơn vị này, năm 1954 Binh chủng Nhảy dù của Quân đội Liên hiệp Pháp bàn giao cho Quân đội Quốc gia, đã cử 1 sĩ quan VN chỉ huy. Năm 1955 cơ cấu lại thành Tiểu đoàn Trợ chiến Nhảy dù. Năm 1968 đổi tên thành Tiểu đoàn Yểm trợ Nhảy dù 1 Trịnh Xuân Nghiêm Đà Lạt K3 Đại úy 1954 Sau cùng là Đại tá Tham mưu trưởng Trường Chỉ huy & Tham mưu (từ năm 1972) 2 Nguyễn Thọ Lập Đà Lạt K5 nt 1954-1956 Sau cùng là Đại tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 15, SĐ 9 BB 3 Nguyễn Thành Chuẩn Đà Lạt K6 nt 1956-1960 Năm 1959, các đơn vị trực thuộc Tiểu đoàn Trợ chiến được chuyển trực thuộc Bộ Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù. Bộ chỉ huy Tiểu đoàn Trợ chiến trở thành Bộ chỉ huy Căn cứ (trại) Hoàng Hoa Thám, Đến năm 1965 trở thành Bộ chỉ huy Tổng hành dinh Sư đoàn Nhảy dù. Do đó Tiểu đoàn trưởng Trợ chiến kiêm Chỉ huy trưởng Trại Hoàng Hoa Thám và sau đó là Chỉ huy trưởng Tổng hành dinh Sư đoàn (Thời điểm này Tiểu đoàn Trợ chiến tạm thời giải tán). Đại úy Chuẩn sau cùng là Đại tá Chỉ huy trưởng Biệt động quân Quân khu 3 và mấy ngày cuối cùng nhận chức Tư lệnh Sư đoàn 101 Biệt động quân tân lập 4 Hồ Tiêu Đập Đá Huế K2
nt 1960- 5 Nguyễn Đức Huy Đà Lạt K10 Trung tá 1968 Bắt đầu từ ngày Tiểu đoàn Trợ chiến được tái lập và đổi tên thành Tiểu đoàn Yểm trợ. Sau cùng là Đại tá Trưởng phòng 4 Sư đoàn Dù 6 Tống Hồ Hàm Đà Lạt K18 nt 1968-1970 7 Lê Đức Trang Thiếu tá 1970-1971 Sau cùng là Trung tá 8 Nguyễn Ngọc Bắc nt 1971-1973 Sau cùng là Trung tá thuộc phòng 4 Sư đoàn dù 9 Võ Văn Thu nt 1973-1975 Tướng lãnh xuất thân từ binh chủng TT Họ & Tên Cấp bậc Thời gian phục vụ Chú thích 1
Nguyễn Khánh Võ bị Viễn Đông K1 Đại tướng 1949-1952 Trung úy, Đại úy Đại đội trưởng Đại đội Biệt lập Dù, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Nhảy dù 2 Cao Văn Viên Nước Ngọt Vũng Tàu Tư lệnh thứ 3 nt 1960-1964 Trung tá, Đại tá, Thiếu tướng Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù 3 Đỗ Cao Trí Nước Ngọt Vũng Tàu Tư lệnh đầu tiên nt 1950-1956 Trung úy Trung đội trưởng, Đại đội trưởng Đại đội Biệt lập Dù, Đại úy, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Dù (1950-1954), Thiếu tá, Trung tá, Đại tá tư lệnh Liên đoàn Nhảy dù (1954-1956) 4 Nguyễn Chánh Thi Địa phương Nam Việt Tư lệnh thứ 2 Trung tướng 1951-1960 Thiếu úy, Trung úy Đại đội trưởng đại đội biệt kích của Tiểu đoàn 1 Nhảy dù (1951-1954), Đại úy Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Dù (1955), Thiếu tá Tư lệnh phó Liên đoàn Dù (1955-1956), Thiếu tá, Trung tá, Đại tá Tư lệnh Liên đoàn Dù (1956-1960) 5 Dư Quốc Đống Đà Lạt K5 Tư lệnh thứ 4 nt 1952-1972 Thiếu úy Trung đội trưởng, Trung úy Đại đội trưởng (1952-1960), Đai úy Tiểu đoàn trưởng (1960-1962), Thiếu tá Chiến đoàn trưởng (1962-1963), Trung tá Tư lệnh phó Lữ đoàn dù (1963-1964), Đai tá quyền Tư lệnh Lữ đoàn Dù (1964), Chuẩn tướng, Thiếu tướng, Trung tướng Tư lệnh Lữ đoàn, Sư đoàn Dù (1964-1972) 6 Nguyễn Văn Vỹ Võ bị Tông nt 1949-1950 Đại úy Đại đội trưởng Đại đội 3 Nhảy dù Đông Dương thuộc Tiểu đoàn 3 Biệt kích Nhảy dù, khi sát nhập qua Quân đội Quốc gia, chuyển sang bộ binh 7 Phan Trọng Chinh Đà Lạt K5 nt 1952-1960 Thiếu úy Trung đội trưởng, Trung úy Đại đội trưởng Dù, Đại úy Tiểu đoàn trưởng đầu tiên Tiểu đoàn 3 Dù, Thiếu tá Tham mưu trưởng Liên đoàn Dù (Năm 1960, ngày 11/11 tham gia cuộc đảo chính do Đại tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu, bị xử tù cho đến sau cuộc đảo chính 1/11/1963 được phục hồi quân ngũ và chuyển qua bộ binh 8 Ngô Quang Trưởng Thủ Đức K4 nt 1954-1966 Thiểu uý Trung đội trưởng, Trung úy Đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 5 Dù (1954-1961), Đại úy, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 (1961-1964), Trung tá Tham mưu trưởng Lữ đoàn Dù, Trung tá, Đại tá Tư lệnh phó Sư đoàn Dù (1964-1966) 9 Đoàn Văn Quảng Võ bị Pháp Thiếu tướng 1945-1953 Thiếu úy, Trung úy, Đại úy chỉ huy Trung đội, Đại đội trong đơn vị Dù, sau Chỉ huy trưởng Biệt động đội và thời gian sau chuyển qua Lực lượng Đặc biệt. 10 Phạm Văn Phú Đà Lạt K8 nt 1953-1954 Thiếu úy Trung đội trưởng, Trung úy, Đại úy Đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 5 Dù. Năm 1954, bị Việt Minh bắt làm tù binh. Năm 1955 được thả, chuyến qua bộ binh, thời gian sau chuyến sang Lực lượng Đặc biệt 11 Trương Quang Ân Đà Lạt K7 nt 1963-1965 Thiếu úy Trung đội trưởng, Trung úy Đại đội trưởng, Đại úy Trưởng ban 3 trong Tiểu đoàn 5 Dù, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Dù tân lập (1953-1962) Thiếu tá, Trung tá Tham mưu trưởng Lữ đoàn Dù, Trung tá Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 1 Dù (1962-1956). Sau là Đại tá, Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh. Năm 1968, tử nạn được truy thăng Thiếu tướng 12 Đỗ Kế Giai Đà Lạt K5 nt 1952-1965 Thiếu úy Trung đội trưởng, Trung úy Đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 3 Dù (1952-1955), Đại úy, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6, rồi Tiểu đoàn 5 Dù (1966-1962), Thiếu tá Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 2 Dù (1962-1965). Sau chuyển qua Bộ binh, Biệt động quân. 13 Nguyễn Khoa Nam Thủ Đức K3 nt 1953-1970 Thiếu úy Trung đội trưởng trong các Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 3 Dù (1953-1955) Trung úy phục vụ Tiểu đoàn Trợ chiến, Phòng 3 Liên đoàn Dù, (1955-1959), Đại úy Tiểu đoàn phó tiểu đoàn 5 Dù, Trưởng phòng 4 Lữ đoàn Dù, Tham mưu trưởng chiến đoàn 1 Dù, Thiếu tá Tiểu đoàn 5 Dù, Trung tá Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 3 Dù, Đại tá lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Dù (1969-1970) 14 Vũ Văn Giai Đà Lạt K10 Chuẩn tướng 1954-1960 Thiếu úy Trung đội trưởng, Trưởng ban 2, Trung úy Đại đội trưởng trong Tiểu đoàn 5 Dù (1954-1960) 15 Hồ Trung Hậu Thủ Đức K4 nt 1954-1972 Thiếu úy Trung đội trưởng, Trung úy Đại đội trưởng trong Tiểu đoàn 6 Dù (1954-1958). (Từ 1958-1963, tạm rời khỏi binh chủng, tới năm 1963 trở lại). Thiếu tá phụ tá cho Chỉ huy chiến đoàn 1 Dù, phụ tá cho Tham mưu trưởng Lữ đoàn Dù, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Dù, Trung tá Chiến đoàn trưởng chiến đoàn 1 Dù (1963-1968). Đại tá, Chuẩn tướng Tư lệnh phó Sư đoàn Dù (1968-1972) 16 Trần Quốc Lịch Thủ Đức K4 nt 1954-1972 Thiếu úy Trung đội trưởng, Trung úy Đại đội trưởng trong Tiểu đoàn 3 Dù. Đại úy Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 Dù. Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 Dù (1954-1968). Trung tá, Đại tá Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Dù (1968-1972) 17 Trần Đình Thọ Đà Lạt K6 nt 1952-1953 Thiếu úy trung đội trưởng, Trung úy Đại đội phó trong Tiểu đoàn 3 Dù 18 Lê Văn Tư Đà Lạt K5
nt 1952-1953 Thiếu úy Trung đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 1 và 3 Dù 19 Lê Nguyên Vỹ Đập Đá Huế K2 nt 1954-1955 Thiếu úy Trung đội trưởng trong Tiểu đoàn 6 Dù, sau đó chuyển qua bộ binh 20 Lê Quang Lưỡng Thủ Đức K4 Tư lệnh sau cùng nt 1954-1975 Thiếu úy Trung đội trưởng, Trung úy Đại đội trưởng, Đại úy Tiểu đoàn phó trong Tiểu đoàn 5 Dù (1954-1963). Đại úy, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Dù (1963-1966). Thiếu tá, Trung tá, Đại tá Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 1, rồi Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 1 Dù (1966-1972). Đại tá Tư lệnh phó, Chuẩn tướng (1972) Tư lệnh Sư đoàn Dù (1972-1975) Tư lệnh Sư đoàn Kể từ ngày thành lập đến sau cùng, trải qua 5 vị Tư lệnh *Cấp bậc khi nhậm chức TT Cấp bậc* Họ & Tên Tại chức Chú thích 1 Thiếu tá Đỗ Cao Trí Võ bị Viễn Đông K2 (Nước Ngọt Vũng Tàu) 10/1954-09/1956 Chỉ huy trưởng đầu tiên Liên đoàn. Sau cùng là Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn III, năm 1971 tử nạn trực thăng khi đang bay thị sát chiến trường miền đông (bầu trời Tây Ninh). Được truy thăng Đại tướng 2 Trung tá Nguyễn Chánh Thi Địa Phương Nam Việt 09/1956-11/1960 Tư lệnh Lữ đoàn (1959). Cầm đầu cuộc đảo chính 11/11/1960, thất bại sang Campuchia tỵ nạn. Đến cuộc đảo chính 1/11/1963 thành công, được trở về tiếp tục phục vụ quân đội. Sau cùng là Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn I. Liên quan đến vụ biến động miền trung năm 1966, giải ngũ và lưu vong tại hải ngoại cùng năm 3 nt Cao Văn Viên Địa Phương Nam Việt 11/1960-09/1964 Sau đảo chính 1/11/1963 bị ngưng chức Tư lệnh Lữ đoàn Dù 1 tuần. Sau cùng là Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu. Ngày 27/4/1975 giải ngũ 4 Đại tá Dư Quốc Đống Đà Lạt K5 09/1964-11/1972 Tư lệnh Sư đoàn (1965). Sau cùng là Trung tướng phụ tá Tổng tham mưu trưởng 5 Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng Thủ Đức K4 11/1972-04/1975 Tư lệnh sau cùng
Share this:
- X
Từ khóa » Truyền Người Lính Nhảy Dù Vnch
-
Chuyện Người Lính Nhảy Dù Nghe Ra Sau Chiến Tranh - Phan Nhật Nam
-
Cựu Sỹ Quan Dù Và Bộ Sưu Tập Thời Chiến - YouTube
-
Binh Chủng Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hòa – Wikipedia Tiếng Việt
-
NGƯỜI LÍNH CỘNG SẢN NÓI VỀ NGƯỜI LÍNH NHẢY DÙ - Bảo Ninh
-
Người Lính VNCH - Trang 1 - Hưng Việt
-
Với Những Người Lính Nhảy Dù Vắng Mặt… - Nguoi Viet
-
Hành Trình Tìm Hài Cốt Lính VNCH: "39 Năm, Anh Em Nằm Dưới ... - BBC
-
Quân Sử Bút Ký Hồi Ký - 30.4.75: Nhảy Dù, Biệt Cách ... - Facebook
-
Truyện Ba Người Lính Nhảy Dù Lâm Nạn : Khoa Học, Dự Tri Và Giả ...
-
Ác Diểu - AcDieu
-
Những Người Lính Dù Bị Lãng Quên
-
Tin Tuc Nhay Du Do Day