Những Người đánh Thức Tiềm Năng ở Cao Nguyên - Báo Nhân Dân

Phó Giám đốc Công ty CP Cơ giới Ðồng Tâm Tô Bá Tham quay sang nói với tôi: "Vượt con dốc này là đến địa phận Nông trường 715A rồi đấy". Theo hướng ông chỉ, những cánh rừng cà-phê xanh tốt hiện ra, trải dài đến tận chân núi mờ xa. Trời vào thu, cả Tây Nguyên chào đón mùa mưa, cỏ cây đua nhau khoe sắc. Mùa mưa, đồng nghĩa với mùa gieo trồng cây nông nghiệp ngắn ngày, nhưng đó là ở những huyện khác, còn ở huyện M'Ðrắc, tỉnh Ðác Lắc, thì khí hậu có khác đôi chút, rất ít mưa vào mùa thu. Ðã lâu lắm tôi lại mới có dịp trở lại vùng đất này, nơi đây nguyên là vùng cỏ gianh bạt ngàn, kéo dài từ xã Krông Din xuống giáp ranh với các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa. Năm 1976, Trung đoàn 715 về đóng quân trên vùng đất này. Trung đoàn trưởng Ðoàn Ngọc Long, quê đất võ Tây Sơn, chỉ huy bộ đội biến các đồi cỏ gianh thành đồi trồng dứa. Ðến mùa thu hoạch, dứa hái về nhiều quá không biết mang đi đâu cho hết. Lại quay sang trồng mía, sản xuất đường và lấy đường thải nấu rượu, chưng cất cồn. Ngày ấy, ông Ðại tá cùng cán bộ và công nhân xoay xở đủ đường để tìm một cây trồng thích hợp cho vùng đất màu mỡ nhưng khí hậu lại khá khắc nghiệt. Sau này, khi được chuyển giao cho Bộ Nông nghiệp, Trung đoàn đổi tên thành Nông trường và ký kết hợp tác với Liên Xô, quay sang trồng cà-phê. Ông Ðoàn Ngọc Long làm Phó Tổng giám đốc Liên hiệp các xí nghiệp 333, trực tiếp lãnh đạo để xây dựng cơ sở vật chất cho nông trường, tuy cuộc sống của công nhân còn vất vả. Từ một trung đoàn ban đầu, sau chia thành ba nông trường: 715A, 715B, 715C; công nhân ngày một đông thêm, diện tích mở rộng, các đồi cỏ gianh dần dần trở thành đồi cà-phê. Ðến tuổi về hưu, ông Ðoàn Ngọc Long ra thị trấn M'Ðrắc, nhưng cán bộ, công nhân nông trường vẫn dành cho vị "tư lệnh phương Ðông" (thời ấy người ta đặt cho ông biệt danh đó) một tình cảm quý mến và kính trọng.

Ðường nhựa kéo dài từ quốc lộ 26A đến Nông trường 715C là tuyến đường huyết mạch để giao lưu hàng hóa từ vùng "một tiếng gà gáy ba tỉnh cùng nghe" đến các vùng khác. Ðến trụ sở UBND xã Ea M'Ðoal, ngửa mặt lên mới thấy đỉnh núi Mẹ Bồng Con bồng bềnh trong mây trắng, lừng lững ngang trời. Nhìn bốn bề, toàn núi là núi, con đường duy nhất chạy trên lưng các ngọn đồi như chạy trên "sống trâu". Hai bên đường, nhà dân nối tiếp nhau, dàn hàng ngang, mỗi nhà một lô, phía sau là thung lũng sâu hoắm. Ðiện lưới quốc gia kéo dài theo con đường và tỏa xuống từng hộ gia đình. Ở nơi xa xôi hẻo lánh mà nhà dân toàn lợp tôn "lạnh" hoặc ngói, không có ngôi nhà nào lợp cỏ gianh. Cảnh nay đã khác xưa nhiều.

Trước khi lên đường, Phó Giám đốc Tô Bá Tham cho tôi biết: "Nếu trời mưa, phải đi bộ khoảng 3 km mới vào được công trình. May, hôm nay trời nắng đẹp, đường khô ráo nên xe chạy xuống tận nơi". Nghĩ cũng hay, thời trước mấy ông "cưỡi trâu đỏ" đi mở đất, cứ ngỡ chuyển qua cơ chế thị trường, đất khai hoang sẽ không còn, rồi nhiều hộ gia đình tự mua máy cày về cày, các ông sẽ "sập tiệm". Nhưng hóa ra không phải, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Công ty Vũ Ðức Bùi cho tôi biết: "Con người có, kỹ thuật có, máy móc có, làm sao có thể thất nghiệp được, phải linh hoạt, chuyển đổi cho phù hợp nền kinh tế thị trường chứ. Nơi nào cần cày cuốc với diện tích lớn chúng tôi vẫn làm, dù phải đi xa. Nơi nào cần làm đường, cần đắp đập hay xây dựng các công trình thủy điện, chúng tôi vẫn đảm nhận và làm tốt, được bạn hàng đánh giá cao. Ðặc biệt, cán bộ, công nhân Công ty CP cơ giới Ðồng Tâm luôn giữ được bản chất của công nhân thể hiện ngay ở chất lượng các công trình mà đơn vị ký kết hợp đồng thi công cũng như có uy tín với đối tác".

Trụ sở Ban quản lý công trình thủy điện Ea M'Ðoal 2 cách TP Buôn Ma Thuột gần 150 km, là mấy căn nhà khá vững chãi, nền láng xi-măng, cột sắt, mái lợp tôn, chung quanh thưng bằng tôn. Cách nhà Ban quản lý khoảng 5 m, khu nhà ở cho công nhân, nhà bếp đều là nhà lắp ghép. Thời hiện đại có khác, công nhân không còn phải chịu cảnh đêm đêm "nằm đất ngắm trăng sao". Giờ nghỉ trưa, một thanh niên đến bên tôi và hỏi: "Bác có nhớ cháu không?". Tôi nhìn kỹ chàng thanh niên tuổi ngoài hai mươi, to cao, vạm vỡ, nước da ngăm ngăm đen, nét mặt rất quen, ông Tô Bá Tham liền bảo: "Cậu này là công nhân lái máy xúc mới tuyển vào, bố đương chức Bí thư Ðảng ủy Nông trường 715A đấy". Tôi vội nắm chặt tay chàng công nhân: "Cái thằng, lớn bằng chừng này rồi à?". Vâng đó là Trịnh Xuân Trình, con thứ hai của cô giáo dạy cùng trường với tôi hồi còn ở xã Ea Trang, huyện M'Ðrắc. Thời ấy gian khổ nhưng vui lắm, khi có các giáo sinh Nghệ Tĩnh được phân công về huyện, ông Nguyễn Văn Phú, Trưởng phòng Giáo dục, gọi tôi lên và bảo: "Trường cậu được chia ba cô, ưu tiên cho em vợ cậu về cùng trường". Tôi giật mình, vì có cô em vợ nào vào Ðác Lắc đâu. Khi gặp giáo viên để đưa về, tôi mới té ngửa... ông Trưởng phòng "chọc quê" tôi, nên bảo cô giáo viên mới Nguyễn Thị Thoa là em vợ tôi, vì chúng tôi có nước da giống nhau! Hơn ba chục năm trôi qua, cô giáo Thoa "đen" - biệt danh các thầy, cô giáo trong Trường Nội trú Ea Trang đặt cho ngày nào, đã kết hôn cùng anh Trịnh Xuân Thông, Bí thư Ðoàn Nông trường 715 và anh chàng đứng trước tôi là con trai họ. Vì công việc, tôi chuyển công tác đi xa, thỉnh thoảng mới gặp. Không ngờ cậu bé ngày nào, nay đã thành một công nhân thực thụ. Mảnh đất phía đông của tỉnh Ðác Lắc đã có thế hệ thứ ba, tiếp bước cha ông lập nghiệp. Trình và anh em công nhân tại đây, ai cũng vui vì công việc ổn định, thu nhập khá lại luôn được công ty quan tâm. Trong số 20 công nhân lái máy có mặt tại công trường, thì năm người chưa lập gia đình, sức dài vai rộng, họ đang tích lũy lấy một số vốn trước khi tìm người xây tổ ấm. Cánh thanh niên bây giờ cũng lạ, làm ra làm mà chơi ra chơi. Máy móc khoán theo ca, năng suất tăng - thưởng, tiết kiệm xăng, dầu - thưởng, có lẽ vì thế ai cũng say sưa với công việc. Tâm sự với các anh, tôi hiểu thêm, sống và làm việc chân chính thì nghề gì cũng có ích cho xã hội, lại bảo đảm kinh tế cho gia đình.

Bên suối M'Ðoal, nơi có đoạn ghềnh rất đẹp chảy qua, tôi gặp hơn hai chục người đang ăn trưa dưới bóng cây cổ thụ, ngay trên đỉnh ghềnh. Bà con là dân ở xã Ea M'Ðoal vào đây làm rẫy. Số rẫy nằm trong quy hoạch lòng hồ thủy điện, bà con đã nhận tiền đền bù, chuẩn bị bàn giao đất. Cũng may, địa thế hiểm trở, đi lại khó khăn nên trong diện tích quy hoạch lòng hồ chỉ có một ít rẫy trồng lúa và khoai mì, không có nhà dân phải giải tỏa. Ông Nguyễn Hữu Nhân bảo: "Bà con vui vì có nhà máy thủy điện. Ðịa hình phức tạp, nhiều núi cao, vực sâu, đất canh tác ít lại hay bị thiên tai, chưa mưa đã bị lũ lụt, chưa nắng đã không còn nước tưới. Hy vọng là nhà máy thủy điện xây dựng xong, sẽ góp phần giảm thiên tai, nhân dân trong vùng có nước canh tác mùa khô, tiếp tục nâng cao mức sống". Nghe vậy, bà Hoàng Thị Mỳ nói chen vào: "Chúng tôi vào đây hơn 20 năm rồi, vỡ được mảnh đất trồng trọt đâu có dễ, nay phải bàn giao cũng buồn lắm. Chỉ mong các công trình làm xong, đường sá, cầu cống được nâng cấp để nhân dân xã Ea M'Ðoal đi lại thuận tiện, có điều kiện giao lưu hàng hóa. Ðường vào trong những thôn xa khó đi lắm. Dòng suối đẹp thế này, bao nhiêu năm rồi, hằng ngày chúng tôi vẫn đến nghỉ và ăn trưa, nay chắc chỉ còn tính từng ngày được ngồi ở đây thôi". Ghềnh đá thật đẹp, nước trong veo ầm ầm chảy qua các tảng đá tung bọt trắng phau, các cô gái xòe bàn tay vốc từng vốc đưa lên mặt, làm khuôn mặt như rạng rỡ hơn lên.

Con đập chính đang thi công theo thiết kế dài 465,9 m, chân đập rộng 208 m, mặt đập rộng 5 m, thân đập cao 29 m. Sau khi hoàn thành, diện tích mặt hồ rộng 64 km2. Tính sơ bộ, đến nay công ty đã thực hiện hơn 40% khối lượng công việc. Những con số thật ấn tượng, càng ấn tượng hơn khi thấy trên công trường, bụi bay mù mịt, từng đoàn xe múc, xe ben, xe ủi, xe đầm... hối hả làm việc. Anh Nguyễn Văn Hùng, Chỉ huy trưởng công trình, còn rất trẻ, nước da sạm đen vì nắng gió, nói với tôi: "Ở đây làm theo ca, thực hiện khoán sản phẩm cho từng đầu máy và có thưởng hợp lý nên anh em làm việc rất tốt. Công việc hoàn thành đúng kế hoạch đề ra". "Tối đến, ở giữa núi rừng trùng điệp như thế này có buồn không?", tôi hỏi thêm. "Công ty đã lắp đặt thủy điện nhỏ để lấy điện sinh hoạt, trang bị máy thu hình mầu, có gắn "chảo" cho anh em xem, nên cũng đỡ", anh Hùng trả lời, và nói thêm: "Thỉnh thoảng cánh thanh niên còn tổ chức sinh hoạt, giao lưu với Ðoàn Thanh niên địa phương. Biết phát huy vai trò của Ðoàn Thanh niên trong các doanh nghiệp, thúc đẩy tự giác lao động hiệu quả sẽ rất cao".

Chia tay các anh, những "thợ cày" thời hiện đại xông pha đi đánh thức mọi tiềm năng, để góp phần, mong mang lại cho đất nước nói chung, cho Tây Nguyên nói riêng một cuộc sống ngày một ấm no, hạnh phúc. Trên công trình thủy điện Ea M'Ðoal 2, ngay dưới chân núi Mẹ Bồng Con, chứng kiến các công việc đang được tiến hành, tôi lại nhớ về Tây Nguyên của mấy chục năm trước, khi mới đặt chân đến nơi này. Cùng với thời gian, từ sự quan tâm của Ðảng và Nhà nước, của chính quyền các cấp và từ sự nỗ lực của bao nhiêu con người, Tây Nguyên đang ngày một đổi thay. Cuộc sống mới đã và đang đến. Những con đường mới mở. Những cánh rừng cao-su, cà-phê xanh mướt. Những hàng cột điện cao thế đưa điện lưới quốc gia đến mọi bản làng. Những người con của Tây Nguyên đã có mặt trên các giảng đường đại học. Và nhiều lắm những đổi thay mà tôi không thể kể hết được. Bên công trường thủy điện, tôi lại nghĩ đến tương lai, một tương lai tươi đẹp. Lại mong những công trình thủy điện như thế này sẽ không chỉ mang lại nguồn năng lượng, mà còn đem tới nguồn nước tưới tiêu, và góp phần điều hòa, để lũ lụt không còn là nỗi lo của đồng bào Tây Nguyên khi đến mùa mưa bão.

HỒNG CHIẾN

Từ khóa » Nong Truong 715c