Nụ Tầm Xuân - Phạm Duy - VĂN THƠ NHẠC

Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2021

Nụ tầm xuân - Phạm Duy

Nụ tầm xuân - Phạm Duy

(Bài 1)"Trèo lên cây bưởi hái hoa,Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,Em có chồng anh tiếc lắm thay!(Bài 2)"Ba đồng một mớ trầu cay,Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?Bây giờ em đã có chồng,Như chim vào lồng như cá cắn câu.Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,Chim vào lồng biết thuở nào ra?(Bài 3)"Có lòng xin tạ ơn lòng,Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!""Chùm" thơ này đã có trong dân gian từ lâu, nhiều người tưởng rằng nó là chỉ một bài ca dao thuần túy, mà đã là ca dao thì không biết ai là tác giả. Gọi nó là chùm thơ vì đây không phải là một bài mà là ba bài hợp lại, gieo theo thể liên vận, gắn với "Giai thoại Đào Duy Từ".- Truyện kể rằng: "Năm Đinh Mão (1627), chúa Trịnh Đàng Ngoài muốn bắt họ Nguyễn ở Đàng Trong phải thần phục, bèn cử đoàn sứ giả mang sắc vua Lê vào phong cho Sãi Vương (chúa Nguyễn Phúc Nguyên) và đòi Sãi Vương phải cho con vào chầu, đồng thời phải nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền làm lễ vật cống nạp nhà Minh. Chúa Sãi không chịu, nhưng bề ngoài chưa biết xử trí ra sao, bèn hội họp triều thần hỏi mưu kế. Lộc Khê hầu Đào Duy Từ khuyên chúa Sãi bước đầu cứ nhận sắc phong, rồi sau sẽ tìm kế đối phó- Ba năm sau, thấy thời cơ thuận lợi, bấy giờ Lộc Khê hầu mới bàn với Sãi Vương, sai thợ làm một chiếc mâm đồng có hai đáy, bỏ sắc vua Lê phong kèm với một tờ giấy có bốn câu chữ Hán vào giữa, rồi hàn kín lại. Trên mâm cho bày nhiều lễ vật hậu hĩnh, rồi cử Lại Văn Khuông làm sứ giả mang ra Thăng Long (Hà Nội này nay), tạ ơn vua Lê và chúa Trịnh.- Nhờ có chuẩn bị trước, khi ra kinh đô yết kiến chúa Trịnh, Lại Văn Khuông ứng đối rất trôi chảy. Chúa Trịnh hậu đãi, cho phép Khuông cùng phái đoàn sứ giả đi thăm kinh thành, để chờ Chúa dạy bảo. Trên đường đi, Khuông lén mở cẩm nang của Đào Duy Từ trao cho từ trước. Đọc xong, Khuông cùng cả phái đoàn lẻn trốn về Nam. Thấy phái đoàn sứ giả đột ngột trốn về, chúa Trịnh sinh nghi, bèn cho người đập vỡ mâm lễ, lại thấy tờ sắc phong khi trước, và một tờ giấy viết bốn câu thơ chữ Hán sau:"Mâu nhi vô dịchMịch phi kiến tíchÁi lạc tâm trườngLực lai tương địch."- Cả triều đình không ai hiểu ý nghĩa bài thơ, cuối cùng Trịnh Tráng phải cho mời một nhà nho thông thái uyên bác tới giải nghĩa. Đọc xong, nhà nho giải thích rằng:* Mâu nhi vô dịch nghĩa là chữ Mâu không có dấu phẩy là chữ Dư* Mịch phi kiến tích nghĩa là chữ Mịch bỏ bớt chữ Kiến còn lại là chữ Bất* Ái lạc tâm trường nghĩa là chữ Ái để mất (lạc) chữ Tâm thì thành chữ Thụ* Và Lực lai tương địch nghĩa là chữ Lực đối địch (tương địch) với chữ Lai là chữ Sắc.- Vậy, GỘP CẢ BỐN CHỮ mới lại thành câu:"Dư Bất Thụ Sắc," nghĩa là "TA KHÔNG NHẬN SẮC PHONG"- Nghe xong, Trịnh Tráng vội thét lính đuổi bắt Lại Văn Khuông, nhưng lúc đó Khuông cùng cả phái đoàn đã cao chạy xa bay rồi.- Trịnh Tráng muốn ra quân đánh chúa Nguyễn nhưng gặp lúc Cao Bằng và Hải Dương đều có giặc giã nổi lên, đành phải hoãn lại.- Trịnh Tráng cho người dò la biết được việc Sãi Vương không nhận sắc phong đều do một tay Lộc Khê Đào Duy Từ bày đặt ra cả. Chúa Trịnh tính kế làm sao để lôi kéo Lộc Khê bỏ chúa Nguyễn (Đàng Trong) về với triều đình vua Lê và chúa Trịnh (Đàng Ngoài).- Chúa Trịnh lập mưu, sai người mang nhiều vàng bạc bí mật vào biếu Đào Duy Từ, kèm một bức thư riêng với bốn câu thơ:"Trèo lên cây bưởi hái hoa,Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,Em có chồng anh tiếc lắm thay!".- Lời thơ nói đến chuyện anh (chúa Trịnh) và em (Đào Duy Từ) thuở nhỏ, trèo cây hái hoa bưởi, bước xuống vườn cà hái nụ hoa tầm xuân. Ý thơ trong như ngọc, là lời nhắn nghĩa tình, nhắc ông rằng tổ tiên, quê quán vốn ở Đàng Ngoài. Nếu trở về sẽ được triều đình trọng dụng còn nếu không thì ngầm ý đe dọa.- Người ta đồn rằng Đào Duy Từ đã xây mộ cho cha mẹ tại Bình Định để tránh bị Đàng Ngoài chế ngự theo cách làm của Gia Cát Lượng đón mẹ của Khương Duy vào Hán Trung thuở xưa. Vì thế Đào Duy Từ không sợ hãi chúa Trịnh trả thù; và ông đã trả lại quà tặng và viết bài thơ phúc đáp chúa Trịnh như sau:"Ba đồng một mớ trầu cay,Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?Bây giờ em đã có chồng,Như chim vào lồng như cá cắn câu.Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,Chim vào lồng biết thuở nào ra?"- Chúa Trịnh đọc thơ biết khó lòng lôi kéo được họ Đào, nhưng thấy bài thơ chưa có câu kết, ý còn bỏ ngỏ, nên vẫn nuôi hy vọng, bèn cho người đem lễ vật nhiều hơn, và mang theo lá thư của chúa Trịnh vào gặp Đào Duy Từ lần nữa.- Lần này, ông mới viết nốt hai câu kết gửi ra, để trả lời dứt khoát việc mời mọc của chúa Trịnh. Hai câu đó như sau:"Có lòng xin tạ ơn lòng,Đừng đi lại nữa mà chồng (*) em ghen!"(*) Chồng, có ý nói là chúa Nguyễn.- Từ đấy Đào Duy Từ ở lại giúp chúa Nguyễn ổn định và phát triển vùng đất miền trong, mở mang bờ cõi đất nước ta cho đến lúc qua đời...VÀI ĐIỀU NÓI THÊM VỀ ĐÀO DUY TỪ- Đào Duy Từ (1572- 1634) sinh tại tỉnh Thanh Hóa. Ông rất thông minh nhưng ông không được dự thi vì cha ông làm nghề ca hát. Ông giận chúa Trịnh đối xử bất công cho nên ông bỏ vào Nam (dưới sự cai trị của chúa Nguyễn)- Đào Duy Từ vào Nam, sống bằng nghề chăn trâu thuê cho một nhà giàu ở Bình Định. Chủ nhà là người ham mê văn học, đã thấy ra Đào Duy Từ là người có tài, nên đã tiến cử Đào Duy Từ cho quan Khám lý Trần Đức Hòa. Vì mến tài của Đào Duy Từ, Trần Đức Hòa đã gả con gái cho, đồng thời tiến cử Đào Duy Từ cho Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Sau cuộc gặp gỡ với Đào Duy Từ, Chúa Sãi đã phong cho ông làm Nha Úy Nội Tán.- Trong chín năm, từ 1625 đến 1634, Đào Duy Từ đã giúp chúa Nguyễn xây dựng và mở mang bờ cõi về phương nam vì ông có tài cả về chính trị, kinh tế, quân sự, và văn chương thơ phú nữa.- Trong cuộc chiến Trịnh - Nguyễn, ông đã xây một chiến lũy để ngăn ngừa quân Trịnh. Chiến lũy này chạy từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Người dân gọi chiến lũy này là Lũy Thầy (tức là lũy do Thầy Đào Duy Từ xây dựng).(Mike Vo)Trèo lên, lên trèo lên,Trèo lên, lên trèo lên,lên cây bưởi hái hoaBước ra, ra vườn cà,bước ra, ra vườn cà,cà hái nụ tầm xuânNụ tầm xuân, ơi nụ tầm xuânNở ra, xanh (ơ) biếtEm lấy chồng, em đi lấy chồngAnh tiếc, tiếc lắm thay!Một miếng trầu cay, hỡi chàngChàng ơi chàng hỡi, nào khó?Một miếng trầu cay, hỡi chàngChàng ơi, khó gì?Sao anh không hỏiSao anh không hỏiSao anh không hỏiNhững ngày em còn không?Giờ đây, đây giờ đâyGiờ đây, đây giờ đâyĐây em đã có chồngEm đã, đã có chồngNhư chim, chim vào lồngNhư cá ngậm mồi câuCá cắn câu, biết đâu mà gỡChim vào lồng, biết thuở nào ra.https://www.youtube.com/watch?v=NXWLEdW8VQ4https://www.youtube.com/watch?v=S82zdPsEZFEhttps://www.youtube.com/watch?v=EqjrLKJDhh0https://www.youtube.com/watch?v=hmU1rNuB-EsTheo https://www.facebook.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ Đăng ký: Đăng Nhận xét (Atom)

Chế Lan Viên - Nhà thơ không thể lấy kích tấc thường mà đo được

Chế Lan Viên - Nhà thơ không thể lấy kích tấc thường mà đo được! Với Chế Lan Viên, ta kinh ngạc trước tuyên ngôn nghê thuật lừng lững thể ...

  • Nguyễn Du - Từ một ai đó đến không ai cả Nguyễn  Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
  • Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
  • Ánh trăng trong thơ Dương Quân Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê,  Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...

Tìm kiếm Blog này

  • Trang chủ

Giới thiệu về tôi

vanthonhactrieuchau.blogspot.com Xem hồ sơ hoàn chỉnh của tôi

Báo cáo vi phạm

Lưu trữ Blog

  • ▼  2021 (4595)
    • ▼  tháng 2 (170)
      • Xuân Diệu: Dòng tư tưởng sôi nổi không đi theo con...
      • Bí ẩn "Những mối tình trai" của nhà thơ Xuân Diệu
      • Xuân Diệu: Thơ tình hay vì yêu thật, sống thậ
      • Xuân Diệu và Tô Hoài: Và "Mối tình trai"
      • Xuân Diệu, nhà thơ đồng tính luyến ái
      • Hoa nở bên đời
      • Tuyết hoa tửu
      • Những truyện ngắn hay nhất mọi thời đại
      • Khung trời tuổi ngọc
      • Hoa mai - Nhất chi mai
      • Vui buồn nghe khúc nhạc hè
      • Chảy đi sông ơi
      • Nhưng nhức nỗi buồn thế hệ
      • Chữ Quốc ngữ dưới mắt một nhà cai trị Pháp cuối th...
      • Hoa trong đời sống người Việt
      • "Túi đàn" và dòng nhạc của Canh Thân
      • Tình sầu - Trịnh Công Sơn
      • Còn tuổi nào cho em - Trịnh Công Sơn
      • Giòng An Giang - Anh Việt Thu
      • Nhớ và quên trong nhạc Trịnh Công Sơn
      • Cuối cùng cho một tình yêu - Trịnh Công Sơn, thơ T...
      • Nụ tầm xuân - Phạm Duy
      • Cung Tiến - Nhạc sĩ thần đồng
      • Nửa hồn thương đau - Phạm Đình Chương, thơ Thanh T...
      • Trăm năm hò hẹn - Trăm năm bến cũ - Phạm Duy, thơ ...
      • Xin gọi nhau là cố nhân - Song Ngọc
      • Tiễn em - Phạm Duy, thơ Cung Trầm Tưởng
      • Cỏ xót xa đưa - Trịnh Công Sơn
      • Tình khúc bất tử: Khi giấc mơ về - Đức Trí
      • Yêu tinh tình nữ - Phạm Duy
      • Còn ta với nồng nàn - Quốc Dũng
      • Viết về huyền thoại ca sĩ Ngọc Lan
      • Viễn du - Trường ca Phạm Duy
      • Khúc ca mùa hè - Canh Thân
      • Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa
      • Binh Boong: Một cung điệu lạ
      • Người đàn bà quay trong trái đất tự quay
      • Họa sĩ Chóe - Hý họa, vai hề ở sân khấu bi kịch
      • Nồng nàn nắng và thơ
      • Truy Phong "Một thế kỷ - Mấy vần thơ" - Bài thơ ch...
      • Phụ nữ Huế: Những nghệ sĩ tài hoa trong lĩnh vực v...
      • Sông cạn - Son sắt niềm tin yêu
      • Tìm hiểu về Nho giáo
      • Nhà văn Hoài Anh, đa tài và lặng lẽ
      • Ngày tình yêu, đọc Tình yêu cổ điển của nhà văn Dư...
      • Tác phẩm của Triệu Xuân những trang viết tâm huyết...
      • Đôi câu triết luận giữa đời
      • Những chữ trôi trên cõi tâm linh
      • So sánh văn hóa Đông Á và Đông Nam Á, trường hợp V...
      • Tạp bút của tro tàn
      • Giáo sĩ Đắc Lộ trong thế giới huyền ảo
      • Tôi muốn tìm bí mật của hình dung
      • Nguyễn Bắc Sơn - Nhà thơ đông phương
      • Triết gia lữ hành Trần Đức Thảo
      • Phạm Văn Ký - Một số phận văn chương "mất nơi ở"
      • Đinh Quang Tốn với trăng suông, rượu nhạt
      • Bước đầu của văn học Miền Nam
      • Lưu vong, một nỗi niềm từ quá khứ đến tương lai
      • Dạ khúc ven rừng
      • Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam
      • Bàn về nguồn gốc người Việt
      • Bàn lại lịch sử hình thành Kinh Dịch
      • Trở lại đoạn kết Truyện Kiều
      • Thi sĩ Thúy Kiều
      • Một khoảng không của Huy Cận
      • Chiều xuân - Bức tranh quê của Nữ sĩ Anh Thơ: Bức ...
      • Mùa xuân trong sáng tác của Anh Thơ
      • Tây Nguyên, mùa xuân về
      • Ngày Xuân hồi tưởng âm thanh cũ
      • Ngày Xuân, nói về "Nhạc Xuân"
      • Nhạc xuân mùa chinh chiến
      • Tết và Xuân - Mùa của tình ái và thơ
      • Sức xuân trong thơ Huy Cận
      • Khoảng trống sau lưng
      • Mưa không ướt đất
      • Những người thợ xẻ
      • Con Gấu - Nguyễn Quang Huy
      • Người đàn bà trong phố cổ
      • Người thầy học cũ
      • Truyện ngắn hay
      • Chữ nghĩa làng văn
      • Phong tục Tết ở làng Việt cổ
      • Nắng Xuân tô thắm dòng Lô
      • Những cung bậc cảm xúc mùa xuân
      • Xuân ở đồng hoa
      • Xuân và cổ ngoạn
      • Tiếng thơ bốn mùa
      • Chuyện chữ chuyện nghĩa
      • Chuyện về hai bài thơ chữ Hán dịp Tất niên và Tết ...
      • Mê đắm những khúc nhạc xuân
      • Kìa xuân... đã về
      • "Đi tìm thời gian đã mất" với Marcel Proust
      • Nét xuân trên quê hương cũ
      • Giao cảm với mùa xuân
      • Mùa xuân đến rồi đó
      • 22 bài hát Tết Nguyên Đán hay nhất, không thể bỏ qua
      • Hồ Xuân Hương đi buôn (1807-1811) "Mẹ già nhà túng...
      • Nguyễn Trãi (1380-1442) Tâm sự Nguyễn Trãi khi đất...
      • Câu chuyện Tự Lực Văn Đoàn, và những điều chưa nói
      • Hoàng hôn trong thơ cổ Việt Nam

Từ khóa » Thơ Chế Nụ Tầm Xuân