Okinawa – Wikipedia Tiếng Việt
Có thể bạn quan tâm
| Tỉnh Okinawa沖縄県 | |
|---|---|
| — Tỉnh — | |
| Chuyển tự Nhật văn | |
| • Kanji | 沖縄県 |
| • Rōmaji | Okinawa-ken |
| Chuyển tự Okinawa | |
| • Okinawa | ウチナーチン |
| • Rōmaji | Uchinaa-chin |
| | |
| Tọa độ: 26°12′44,8″B 127°40′51,3″Đ / 26,2°B 127,66667°Đ | |
| Quốc gia | |
| Vùng | Kyushu (Ryūkyū Shotō) |
| Đảo | Okinawa |
| Lập tỉnh | 4 tháng 4 năm 1879 (lập tỉnh)15 tháng 5 năm 1972 (trao trả) |
| Đặt tên theo | Okinawa |
| Thủ phủ | Naha |
| Phân chia hành chính | 5 huyện41 hạt |
| Chính quyền | |
| • Thống đốc | Tamaki Denī |
| • Phó Thống đốc | Urasaki Ishou, Tomikawa Moritake |
| • Văn phòng tỉnh | 1-2-2, phường Izumizaki, thành phố Naha 〒900-8570Điện thoại: (+81) 098-866-2333 |
| Diện tích | |
| • Tổng cộng | 2,281,12 km2 (0,88.075 mi2) |
| • Mặt nước | 0,5% |
| • Rừng | 46,1% |
| Thứ hạng diện tích | 44 |
| Dân số (1 tháng 5, 2020) | |
| • Tổng cộng | 1,466,870 |
| • Thứ hạng | 29 |
| • Mật độ | 640/km2 (1,700/mi2) |
| GDP (danh nghĩa, 2014) | |
| • Tổng số | JP¥ 4.051 tỉ |
| • Theo đầu người | JP¥ 2,129 triệu |
| • Tăng trưởng | |
| Múi giờ | UTC+9, Giờ UTC+9 |
| Mã ISO 3166 | JP-47 |
| Mã địa phương | 470007 |
| Thành phố kết nghĩa | Hawaii, Mato Grosso do Sul, Vùng Santa Cruz, Phúc Kiến |
| Tỉnh lân cận | Kagoshima |
|
■ ― Thành phố / ■ ― Thị trấn và làng | |
| Website | www.pref.okinawa.lg.jp |
| Biểu trưng | |
| Hymn | "Huyện dân ca Okinawa" (沖縄県民の歌 (Xung Thằng huyện dân chi ca)/ おきなわけんみんのうた?) |
| Loài chim | Gõ kiến Okinawa (Sapheopipo noguchii) |
| Cá | Chàm mốc (Pterocaesio digramma) |
| Hoa | Vông nem (Erythrina variegata) |
| Cây | Thông Ryūkyū (Pinus luchuensis) |
Okinawa (Nhật: 沖縄県 (おきなわけん) (Xung Thằng huyện) Hepburn: Okinawa-ken?, tiếng Okinawa: ウチナーチン Uchinaa-chin) là tỉnh nằm ở cực Tây Nam của Nhật Bản, có trung tâm hành chính là thành phố Naha. Tỉnh Okinawa bao gồm quần đảo Okinawa, quần đảo Sakishima thuộc quần đảo Ryukyu cũng như quần đảo Daito nằm trong Thái Bình Dương, giáp biển với tỉnh Kagoshima của Kyushu.
Toàn tỉnh bao gồm 160 đảo, trong đó có 49 đảo có người sinh sống[1][2], diện tích khoảng 2.281 km², là tỉnh có diện tích đất liền nhỏ thứ tư tại Nhật Bản. Tuy nhiên, tỉnh Okinawa bao gồm một vùng biển rộng lớn, trải dài khoảng 1.000 km từ đông sang tây và 400 km từ bắc xuống nam; nếu tính cả diện tích vùng biển, diện tích của tỉnh Okinawa tương đương với một nửa tổng diện tích của Honshu, Shikoku và Kyushu[3]. Toàn bộ lãnh thổ tỉnh Okinawa thuộc kiểu khí hậu cận nhiệt đới, khí hậu ấm áp quanh năm và có lượng mưa dồi dào[4]:32.
Tên gọi của tỉnh Okinawa bắt nguồn từ cách người Okinawa tự gọi hòn đảo chính của họ. Địa danh "オキナワ" (Okinawa) xuất hiện lần đầu trong tài liệu lịch sử vào năm 779 (năm Hōki thứ 10 đời Thiên hoàng Kōnin thời Nara) trong cuốn "Đường Đại Hòa thượng đông chinh truyền", khi đó được phiên âm bằng Hán tự là "A Nhi Nại Ba đảo" (阿兒奈波島). Trong khi đó, các văn kiện tiếng Nhật cận đại phần lớn sử dụng hai chữ "Okinawa" (沖繩 - Trùng Thằng) để ghi chép[4]:27.
Trước thời cận đại, tỉnh Okinawa từng tồn tại một chính quyền độc lập là Vương quốc Ryukyu, đồng thời triều cống cho các triều đại Minh, Thanh của Trung Quốc và phiên Satsuma, Mạc phủ Edo của Nhật Bản. Trong thời kỳ cả Trung Quốc và Nhật Bản đều thực hiện chính sách tỏa cảng, Vương quốc Ryukyu trở nên quan trọng nhờ vị thế thương mại trung chuyển. Sau Cải cách Minh Trị, Vương quốc Ryukyu bị Nhật Bản bãi bỏ vào năm 1872 và trở thành phiên Ryukyu[5][6], năm 1875 thì ngừng triều cống cho nhà Thanh. Như một khâu cuối cùng trong cuộc cải cách phế phiên lập huyện trên toàn quốc của chính phủ Minh Trị, Nhật Bản đã cải tổ phiên Ryukyu thành tỉnh Okinawa vào năm 1879, đưa nơi này vào hệ thống hành chính hiện đại theo chế độ phủ huyện[7]. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, tỉnh Okinawa là khu vực duy nhất trong lãnh thổ Nhật Bản xảy ra giao tranh trên bộ, Trận Okinawa năm 1945 đã khiến số lượng lớn quân dân thiệt mạng, và vùng đất này bị tàn phá bởi chiến tranh. Sau chiến tranh, Okinawa bước vào thời kỳ Hoa Kỳ cai trị, và nhiều căn cứ quân sự Mỹ đã được xây dựng, trong đó Căn cứ không quân Kadena hiện là căn cứ không quân lớn nhất của quân đội Mỹ tại vùng Viễn Đông. Năm 1972, Hoa Kỳ từ bỏ quyền hành chính đối với quần đảo Ryukyu, quần đảo Daito, quần đảo Ogasawara và các đảo khác mà họ có được thông qua Hiệp ước San Francisco[chú thích 1] và trao trả lại cho Nhật Bản[8][9][10][11], nhưng vẫn giữ lại số lượng lớn căn cứ quân sự Mỹ. Hiện nay, vấn đề căn cứ quân sự Mỹ là vấn đề chính yếu nhất trong chính trị của tỉnh Okinawa. Do các nguyên nhân về lịch sử và địa lý, ngôn ngữ, ẩm thực, phong tục và văn hóa của tỉnh Okinawa đều có những điểm khác biệt so với Nhật Bản bản địa. Địa hình quần đảo của Okinawa khiến nông nghiệp và công nghiệp chế tạo chiếm tỷ trọng thấp trong nền kinh tế, trong khi ngành dịch vụ lại chiếm vị trí quan trọng. Ngoài ra, Okinawa cũng là nơi phát tích của Karate.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Lịch sử tỉnh OkinawaTiền sử và cổ đại
[sửa | sửa mã nguồn]Phân kỳ lịch sử của Okinawa có sự khác biệt lớn so với Nhật Bản bản địa; trước khi có ghi chép văn bản, lịch sử nơi đây có thể chia thành hai thời đại là thời đại đồ đá cũ và thời đại đống vỏ sò[12]:14. Di tích hoạt động của con người sớm nhất trong tỉnh Okinawa là người hang Yamashita cách nay 32.000 năm và người Minatogawa cách nay 18.000 năm[12]:14. Năm 2012, lưỡi câu cổ nhất thế giới đã được tìm thấy tại thành phố Nanjō, tỉnh Okinawa[13].
Thời đại đống vỏ sò tương đương về mặt thời gian với thời kỳ Jōmon đến thời kỳ Heian của Nhật Bản bản địa[12]:16, và có một khoảng trống khoảng 10.000 năm giữa thời đại này và thời đại đồ đá cũ[12]:26. Vào đầu thời đại đống vỏ sò, đồ gốm ở phía nam quần đảo Ryukyu cực kỳ giống với đồ gốm Jōmon của Nhật Bản bản địa. Tuy nhiên, đến giữa thời đại đống vỏ sò, đồ gốm Okinawa bắt đầu mang những đặc điểm độc đáo rõ rệt. Đến cuối thời đại đống vỏ sò, đồ gốm Okinawa một lần nữa chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Kyushu[12]:26. Vào cuối thời đại đống vỏ sò, các di tích lớn bắt đầu xuất hiện ở các vùng ven biển, và tiền Khai Nguyên thông bảo của nhà Đường đã được tìm thấy, cho thấy Okinawa đã có giao thương với Trung Quốc đại lục trong thời kỳ này[14]:17. Trái ngược với văn hóa đống vỏ sò trên đảo chính Okinawa chịu ảnh hưởng từ Nhật Bản bản địa, văn hóa thời kỳ đồ đá ở Miyako và quần đảo Yaeyama lại chịu ảnh hưởng từ các nền văn hóa phương Nam như Philippines[14]:19.
Thời kỳ Gusuku và thời kỳ Tam Sơn
[sửa | sửa mã nguồn]
Sau thế kỷ 12, Okinawa bước vào thời kỳ Gusuku với văn hóa nông nghiệp là chủ đạo. Trong thời kỳ này, người dân di chuyển từ các cồn cát ven biển đến các vùng đất đồi đá vôi thích hợp hơn cho việc canh tác, dân số tăng lên đáng kể và bắt đầu buôn bán với các quốc gia khác[14]:24. Các thủ lĩnh địa phương được gọi là Anji (Án tư). Họ xây dựng các Gusuku (thành) để bảo vệ ngôi làng của mình và tích cực mở rộng buôn bán với nước ngoài để gia tăng thực lực[14]:26. Phạm vi xuất hiện Gusuku trải dài từ quần đảo Amami ở phía bắc đến quần đảo Yaeyama ở phía nam, với khoảng 300 đến 400 địa điểm. Các Gusuku thời kỳ đầu chủ yếu là loại nhỏ với diện tích khoảng 1.000 mét vuông, về sau bắt đầu xuất hiện các Gusuku quy mô lớn[12]:48. Bước sang thế kỷ 14, trên đảo chính Okinawa xuất hiện ba quốc gia, bao gồm Bắc Sơn Quốc lấy thành Nakijin làm trung tâm, Trung Sơn Quốc lấy thành Urasoe làm trung tâm, và Nam Sơn Quốc lấy thành Ozato làm trung tâm, gọi là thời kỳ Tam Sơn[14]:26.
Theo các chính sử do vương phủ Shuri biên soạn như "Trung Sơn thế giám", "Trung Sơn thế phả", "Cầu Dương", tộc Tenson (Thiên Tôn) là vương tộc sớm nhất của Ryukyu. Sau 25 đời, tộc Tenson xảy ra nội loạn, Anji vùng Urasoe là Tuntun (Tôn Đôn) được dân chúng ủng hộ đã bình định nội loạn và được tôn làm vua Shunten (Thuấn Thiên), tức vị vua đầu tiên của Vương quốc Ryukyu[14]:30. Tuy nhiên, ghi chép chính sử về thời đại này mang đậm màu sắc thần thoại, vua Shunten dù là nhân vật có thật thì cũng chỉ là một Anji cai trị vùng Urasoe[14]:30. Vương triều Shunten kéo dài ba đời thì bị Vương triều Eiso thay thế[14]:31. Vương triều Eiso cũng kéo dài bốn đời thì bị Vương triều Satto thay thế. Trong thời kỳ này, đảo chính Okinawa dần hình thành ba quốc gia Bắc Sơn, Trung Sơn và Nam Sơn[14]:34.
Năm 1372, nhà Minh cử sứ giả Dương Tải đến thăm Trung Sơn Quốc, yêu cầu vua Trung Sơn là Satto (Sát Độ) triều cống và đã được chấp thuận. Sau đó, vua Nam Sơn là Ofusato (Thừa Sát Độ) và vua Bắc Sơn là Haniji (Phạ Ni Chi) cũng lần lượt nhập cống nhà Minh, cả ba nước (Tam Sơn) đều nằm trong phạm vi của hệ thống triều cống[14]:36. Năm 1406, Anji vùng Sashiki là Shō Hashi (Thượng Ba Chí) đã lật đổ sự cai trị của vua Bunei (Vũ Ninh) thuộc đời thứ hai vương triều Satto, lập cha mình là Shō Shishō (Thượng Tư Thiệu) lên làm vua, mở ra Vương triều thứ nhất nhà Thượng[14]:42. Năm 1416, Shō Hashi nhân cơ hội các Anji của Bắc Sơn Quốc bất mãn với sự cai trị hà khắc của vua Hananchi (Phan An Tri) để tấn công và tiêu diệt Bắc Sơn Quốc. Nam Sơn Quốc dưới sự cai trị của Taromai (Tha Lỗ Mỗi) liên tục xảy ra nội chiến và bị Shō Hashi tiêu diệt vào năm 1429[14]:42. Trung Sơn Quốc đến đây hoàn thành việc thống nhất đảo chính Okinawa.
Thời kỳ Vương quốc Ryukyu
[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Vương quốc Ryukyu
Vương triều thứ nhất nhà Shō sau khi thành lập có chính quyền không ổn định do nhiều vị vua chết trẻ, sau khi vua đời thứ năm là Shō Kinpuku (Thượng Kim Phúc) qua đời đã xảy ra Loạn Shiro-Furi, cuối cùng Shō Taikyū (Thượng Thái Cửu) lên ngôi vua đời thứ sáu[14]:45. Sau khi vua Shō Taikyū lên ngôi lại xảy ra Loạn Gosamaru-Amawari, nhưng đã được vua Shō Taikyū bình định[14]:46. Shō Toku (Thượng Đức), người kế vị vua Shō Taikyū, là một bạo chúa. Sau khi ông qua đời, đoàn gia thần đã phát động đảo chính, tôn đại thần Kanamaru (Kim Hoàn) lên làm vua[12]:89. Kanamaru sau khi lên ngôi đổi tên thành Shō En (Thượng Viên), mở ra Vương triều thứ hai nhà Thượng[14]:48. Dưới thời trị vì của vua đời thứ ba thuộc Vương triều thứ hai nhà Shō là Shō Shin (Thượng Chân), Vương quốc Ryukyu đã xác lập thể chế chính trị tập quyền trung ương. Vua Shō Shin tập trung các Anji có thế lực đang cát cứ các nơi về Shuri (Thủ Lý) và phái quan lại trực tiếp cai quản các địa phương, đồng thời mở rộng phạm vi cai trị của Vương quốc Ryukyu từ quần đảo Amami ở phía bắc đến quần đảo Yaeyama ở phía nam[14]:48. Văn hóa của Vương quốc Ryukyu trong thời kỳ này cũng có sự phát triển lớn[14]:53.
Vương quốc Ryukyu nhờ tích cực triều cống nên nhận được đãi ngộ ưu hậu của nhà Minh, qua đó trở thành trạm trung chuyển thương mại quan trọng ở khu vực Đông Á. Nhiều vật phẩm tiến cống và hàng hóa giao thương với Trung Quốc của Vương quốc Ryukyu đều đến từ Nhật Bản, đồng thời họ cũng tiêu thụ hàng hóa Trung Quốc sang Nhật Bản[14]:56. Khu vực Đông Nam Á cùng với Nhật Bản và Trung Quốc là những đối tác thương mại quan trọng nhất của Ryukyu[14]:59. Ngoài ra, giữa Ryukyu và bán đảo Triều Tiên cũng có sự qua lại buôn bán[14]:58. Tuy nhiên, vào thế kỷ 16, khi Thời đại Khám phá khiến các thương nhân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha bắt đầu giao thương tại Đông Á, cộng với việc chính sách hải cấm của nhà Minh được nới lỏng, địa vị thương mại của Vương quốc Ryukyu đã giảm sút đáng kể[14]:60.
Quần đảo Miyako và quần đảo Yaeyama trong thời gian dài ở trong tình trạng quần hùng cát cứ. Năm 1474, hào cường địa phương tại đảo Miyako là Nakasone Tuyumya quy thuận Vương quốc Ryukyu, đảo Miyako nằm trong phạm vi kiểm soát của Vương quốc Ryukyu[14]:64. Năm 1500, Vương quốc Ryukyu phái quân tấn công và tiêu diệt người cai trị đảo Ishigaki là Oyake Akahachi[14]:66. Năm 1522, Nakasone Tuyumya đánh chiếm đảo Yonaguni, đến đây Vương quốc Ryukyu hoàn toàn kiểm soát quần đảo Yaeyama[14]:68. Quần đảo Amami ở phía bắc quần đảo Ryukyu cũng hoàn toàn nằm trong phạm vi cai trị của Vương quốc Ryukyu vào năm 1466[14]:70.
Năm 1609, gia tộc Shimazu lãnh chúa phiên Satsuma đã đánh chiếm Ryukyu, vua Shō Nei (Thượng Ninh) đầu hàng. Sau đó, Vương quốc Ryukyu trở thành thuộc quốc chịu sự đồn trú và kiểm soát thực tế của phiên Satsuma, đồng thời cắt nhượng quần đảo Amami cho phiên Satsuma[12]:133. Từ đó về sau, Vương quốc Ryukyu mặc dù một phần bị đưa vào thể chế Mạc phiên, nhưng trên danh nghĩa vẫn là một quốc gia độc lập và được phép tiếp tục triều cống Trung Quốc[14]:85. Giữa thế kỷ 17, Haneji Chōshū (Vũ Địa Triều Tú) đã tiến hành cải cách quy mô lớn đối với chính trị và phong tục của Vương quốc Ryukyu, thực thi đường lối thân Nhật[12]:152. Giữa thế kỷ 18, Sai On (Thái Ôn) kế thừa chính sách cải cách của Haneji Chōshū, giúp nội chính của Vương quốc Ryukyu được cải thiện đáng kể[14]:101.
Năm 1816, hai tàu chiến của Anh từng ghé lại Ryukyu nhưng không yêu cầu thông thương hay truyền giáo[14]:131. Tuy nhiên vào năm 1844, Pháp trở thành quốc gia châu Âu đầu tiên yêu cầu thông thương với Ryukyu[14]:132. Năm 1853, Tư lệnh Hạm đội Đông Ấn của Hoa Kỳ là Matthew Perry cũng từng ghé lại Ryukyu trước khi đàm phán với Mạc phủ Nhật Bản[14]:138.
Thời kỳ tỉnh Okinawa lần thứ nhất
[sửa | sửa mã nguồn]
Nhật Bản thực hiện Phế phiên lập huyện vào năm 1871 sau Cải cách Minh Trị, bắt đầu công cuộc hiện đại hóa. Năm 1871, xảy ra Sự kiện Vịnh Bát Dao, trong đó các thủy thủ trên con tàu Lưu Cầu trôi dạt đến Đài Loan đã bị người dân địa phương sát hại. Sự kiện này trở thành cơ hội để chính phủ Nhật Bản sáp nhập Lưu Cầu. Năm sau, Nhật Bản bãi bỏ Vương quốc Lưu Cầu và lập Phiên Lưu Cầu, gọi là Lưu Cầu xử phân. Để tránh sự can thiệp của nhà Thanh và sự phản đối của hoàng tộc Lưu Cầu, ban đầu chính phủ Minh Trị không thiết lập Lưu Cầu là "tỉnh" (huyện) mà là "phiên", một đơn vị hành chính đã bị bãi bỏ tại chính quốc Nhật Bản[15]:147。Tuy nhiên, vào năm 1874, lại xảy ra vụ việc thủy thủ tàu Lưu Cầu bị giết hại tại Đài Loan, Nhật Bản lấy cớ này để tấn công Đài Loan trong Sự kiện Mẫu Đơn Xã. Trong quá trình hòa giải sau đó, triều đình nhà Thanh thừa nhận hành động này của Nhật Bản là "nghĩa cử bảo dân". Phía Nhật Bản cho rằng thái độ này của nhà Thanh là sự thừa nhận Lưu Cầu thuộc lãnh thổ Nhật Bản, và sang năm sau đã yêu cầu phiên Lưu Cầu ngừng triều cống nhà Thanh. Sau đó, nội bộ vương phủ bị chia rẽ thành hai phe: phe đồng ý chấp nhận các điều kiện của Nhật Bản và phe phản đối, khó đạt được sự đồng thuận. Tháng 3 năm 1879, chính phủ Nhật Bản tuyên bố bãi bỏ phiên Lưu Cầu và đổi thành tỉnh Okinawa, ra lệnh cho phiên vương Lưu Cầu là Thượng Thái chuyển đến Tokyo. Sau đó, một bộ phận sĩ tộc và thường dân của phiên Lưu Cầu đã lưu vong sang nhà Thanh, yêu cầu chính quyền Thanh gây sức ép với Nhật Bản để khôi phục vương quốc Lưu Cầu. Sự phản đối việc sáp nhập vào Nhật Bản diễn ra mạnh mẽ hơn tại quần đảo Miyako và Yaeyama, từng xảy ra Sự kiện Tán Thành, nơi quan phiên dịch bị người dân địa phương sát hại, nhưng cuối cùng đã bị bình định[15]:151。Chính quyền nhà Thanh từng nhờ cựu Tổng thống Hoa Kỳ Grant đàm phán với Nhật Bản về vấn đề Lưu Cầu. Phía Nhật Bản chấp nhận đề nghị của Grant, đưa ra phương án với nhà Thanh: sáp nhập khu vực phía Bắc quần đảo Okinawa vào lãnh thổ Nhật Bản, và sáp nhập quần đảo Miyako cùng Yaeyama vào lãnh thổ nhà Thanh. Sau đó, nhà Thanh lại đề xuất phương án sáp nhập quần đảo Amami vào Nhật Bản, khôi phục Vương quốc Lưu Cầu tại quần đảo Okinawa, và sáp nhập quần đảo Miyako cùng Yaeyama vào nhà Thanh, nhưng đàm phán cuối cùng không có kết quả. Sau khi thất bại trong Chiến tranh Thanh-Nhật, nhà Thanh phải nhượng Đài Loan cho Nhật Bản, không còn khả năng giải quyết vấn đề Lưu Cầu, và luận điệu khôi phục Lưu Cầu cũng lụi tàn[15]:154。
Khi mới trực tiếp cai trị tỉnh Okinawa, Nhật Bản thực hiện Chính sách bảo tồn cựu quán, giữ lại chế độ đất đai và thuế khóa thời Vương quốc Lưu Cầu, dẫn đến quá trình hiện đại hóa của Okinawa bị chậm trễ[15]:156。Sau chiến tranh Thanh-Nhật, khi sự cai trị của Nhật Bản đối với Okinawa bắt đầu ổn định, chính sách bảo tồn cựu quán được thay thế bằng chính sách đồng hóa, xã hội Okinawa bắt đầu Nhật hóa nhanh chóng. Tuy nhiên, mặt khác, do Đài Loan trở thành lãnh thổ Nhật Bản và trở thành tiền tuyến cũng như nơi sản xuất đường mới, vị thế quân sự và kinh tế của Okinawa đã giảm sút đáng kể[15]:161。Sau thế kỷ 20, Nhật Bản thực hiện cải cách ruộng đất quy mô lớn tại tỉnh Okinawa[15]:176 và tập trung phát triển các ngành như sản xuất đường, nhưng sự phát triển kinh tế của Okinawa vẫn tụt hậu xa so với chính quốc Nhật Bản[15]:164。Giao thông tại Okinawa bắt đầu hiện đại hóa vào đầu thế kỷ 20, không chỉ xây dựng đường bộ và đường sắt trên đảo mà còn mở các tuyến tàu hơi nước đến chính quốc Nhật Bản[15]:182。Đầu thời Đại Chính, do giá đường tăng vọt bởi Chiến tranh thế giới thứ nhất, tỉnh Okinawa cũng từng đón nhận thời kỳ kinh tế thịnh vượng[15]:187。Nhưng từ cuối thời Đại Chính đến đầu thời Chiêu Hòa, Okinawa cũng chịu ảnh hưởng của Đại khủng hoảng, nhiều nông dân lâm vào cảnh đói kém, thậm chí xuất hiện hiện tượng phải ăn quả và thân cây Lưu Cầu tô thiết có độc để cầm cự, thảm cảnh này được gọi là "Địa ngục Vạn tuế" (Sotetsu Jigoku)[16]:153。Cũng vì thế, nhiều người Okinawa đã chọn di cư lên phía Bắc đến đảo chính Nhật Bản hoặc ra nước ngoài kiếm sống. Trong số những người di cư ra nước ngoài của Nhật Bản giai đoạn 1923 đến 1930, người tỉnh Okinawa chiếm 10% tổng số. Số tiền kiều hối gửi về tỉnh Okinawa tương đương với 40% đến 65% thu nhập tài chính hàng năm của tỉnh thời đó[15]:190。
Sau thập niên 1930, Nhật Bản ngày càng dấn sâu vào con đường chiến tranh. Từ thập niên 1940, tỉnh Okinawa cũng bị cưỡng chế phổ cập tiếng Nhật chuẩn dưới thể chế thời chiến, thay đổi cách đọc họ từ phát âm tiếng Lưu Cầu sang phát âm tiếng Nhật chuẩn, áp lực Hoàng dân hóa gia tăng nhanh chóng[15]:209。Năm 1943, quân đội Nhật bắt đầu trưng thu đất đai tại Okinawa để xây dựng sân bay quân sự. Năm 1944, quân đội Nhật thành lập Quân đoàn 32 tại Okinawa và trưng dụng vật tư của người dân, đồng thời bắt đầu sơ tán một bộ phận người dân Okinawa đến chính quốc Nhật Bản và Đài Loan[15]:214。Tháng 8 năm 1944, tàu Tsushima Maru chở khoảng 1.700 người dân sơ tán đã bị ngư lôi đánh chìm, khiến 1.476 người thiệt mạng[15]:215。Tháng 10 cùng năm, thành phố Naha hứng chịu cuộc không kích quy mô lớn của quân đội Mỹ, 90% diện tích nội thành bị thiêu rụi[17]。Tháng 3 năm 1945, quân Mỹ bắt đầu đổ bộ lên quần đảo Lưu Cầu, Trận Okinawa bùng nổ. Trận chiến này vô cùng khốc liệt, được mệnh danh là "Cơn bão thép" (鉄の暴風)[16]:215。Quân Mỹ có 12.520 người tử trận trong Trận Okinawa, trong khi số người tử trận của quân Nhật còn cao hơn nhiều, lên tới 94.136 người (trong đó có 28.228 người là người tỉnh Okinawa). Ngoài ra, thương vong của thường dân Okinawa cũng cực kỳ nặng nề. Không chỉ các cuộc tấn công của quân Mỹ gây thương vong cho thường dân, mà quân Nhật cũng hành quyết thường dân nước mình với danh nghĩa "tội gián điệp", thậm chí còn yêu cầu người dân tự sát tập thể để tuẫn tiết[15]:230。Khoảng 94.000 thường dân đã chết trong Trận Okinawa, tổng cộng quân và dân có khoảng 200.000 người hy sinh trong chiến dịch này[15]:229。
Xử lý sau chiến tranh
[sửa | sửa mã nguồn]Trong Thế chiến II, các nước Đồng minh đã có nhiều vòng thảo luận về cách xử lý quần đảo Lưu Cầu sau chiến tranh. Tại Hội nghị Cairo năm 1943, Tổng thống Hoa Kỳ Roosevelt đã chủ động nêu vấn đề quy thuộc của Lưu Cầu, ngỏ ý liệu Trung Quốc có thể tiếp quản Lưu Cầu sau chiến tranh hay không. Lãnh đạo Trung Quốc khi đó là Tưởng Giới Thạch không hưởng ứng tích cực, chỉ bày tỏ có thể "cùng chiếm đóng" với phía Mỹ và quản lý theo phương thức ủy trị quốc tế, cuối cùng trong "Tuyên bố Cairo" không đề cập đến vấn đề quy thuộc của tỉnh Okinawa hay quần đảo Lưu Cầu. Trong khi đó, "Tuyên bố Potsdam" do phe Đồng minh công bố năm 1945 chỉ nêu chung chung rằng chủ quyền của Nhật Bản sẽ bị giới hạn ở Bản Châu, Cửu Châu, Tứ Quốc, Bắc Hải Đạo và các đảo nhỏ khác do phe Đồng minh quyết định[18][19], việc công bố hai tuyên bố chính trị thời chiến này đã cung cấp các nguyên tắc tổng thể và khuôn khổ đại khái cho việc xử lý lãnh thổ Nhật Bản sau chiến tranh.
Sau chiến tranh, Chính phủ Quốc dân nhận thức được tầm quan trọng của quần đảo Lưu Cầu, đưa ra ý tưởng cùng Mỹ ủy trị Lưu Cầu, thời hạn ủy trị định là 5-10 năm. Sau đó, do cân nhắc đến lợi ích và thái độ của phía Mỹ, họ thậm chí đề nghị "một số đảo cung cấp cho Mỹ lập căn cứ", cho thấy ý định thỏa hiệp về quyền sở hữu Lưu Cầu, chứng tỏ lúc này Chính phủ Quốc dân đã nhận ra Mỹ sẽ không dễ dàng giao Lưu Cầu cho Trung Quốc. Dư luận trong nước Trung Quốc có luồng ý kiến chủ trương Lưu Cầu độc lập lập quốc, cũng có ý kiến chủ trương nên sáp nhập vào bản đồ Trung Quốc, đa số nhấn mạnh Lưu Cầu là bình phong chiến lược của Trung Quốc, không thể rơi vào tay nước khác.[18]
Năm 1946, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ dựa trên phương châm không mở rộng lãnh thổ và gánh nặng kinh tế, chủ trương trao trả Lưu Cầu cho Nhật Bản, trong khi quân đội Mỹ chủ trương đưa quần đảo Lưu Cầu thành "lãnh thổ ủy trị chiến lược", chỉ định đảo Okinawa là "khu vực chiến lược". Quân đội Mỹ cho rằng họ đã hy sinh to lớn trong trận chiến Okinawa, nên quyền cai trị sau chiến tranh là sự đền bù xứng đáng. Sau quá trình giằng co và đàm phán nội bộ, cuối cùng chính phủ Mỹ hình thành văn kiện SWNCC 59/1, quyết định Okinawa tạm thời do quân đội Mỹ tiếp tục quản lý thay vì trả ngay cho Nhật Bản, đồng thời quy hoạch hình thức ủy trị để tránh vấn đề chủ quyền. Sau đó, Bộ Tổng tư lệnh Tối cao Đồng minh đã ban hành các chỉ thị SCAPIN-677 và 841, đặt khu vực "phía Nam vĩ tuyến 29 Bắc" dưới sự quản lý quân sự của Mỹ, như một sự sắp xếp tạm thời trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi hiệp ước hòa bình chính thức được ký kết và có hiệu lực. Cuối cùng, Điều 3 của "Hiệp ước Hòa bình San Francisco" năm 1951 đã trao cho Mỹ quyền đề xuất đưa quần đảo Lưu Cầu và quần đảo Daito cùng các lãnh thổ khác vào diện ủy trị của Liên Hợp Quốc, và trong thời gian chờ đợi sẽ nắm quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp tại đây.[19]
Thời kỳ Hoa Kỳ cai trị
[sửa | sửa mã nguồn]
Sau khi Nhật Bản đầu hàng vào tháng 8 năm 1945, toàn bộ Nhật Bản bước vào thời kỳ bị quân Đồng minh chiếm đóng. Riêng Okinawa đã bị quân Mỹ chiếm đóng sau Trận Okinawa vào tháng 6, và ngay trong tháng 9 đã tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên để bầu thị trưởng và nghị viên hội đồng các địa phương[15]:238。Tháng 4 năm 1946, Chính phủ Dân sự Okinawa được thành lập. 4 năm sau, Chính phủ Quần đảo thống nhất quản lý 4 vùng Amami, Okinawa, Miyako, Yaeyama được thành lập[15]:239。Năm 1949, do Đảng Cộng sản Trung Quốc dần kiểm soát khu vực Trung Quốc đại lục, vị thế quan trọng của Okinawa được nhận thức lại, Mỹ tuyên bố tách Okinawa khỏi chính quốc Nhật Bản và chiếm đóng lâu dài[15]:241。Vào đầu thời kỳ chiếm đóng, do những trải nghiệm đau thương trong chiến tranh, tại Okinawa từng xuất hiện luận điệu dựa vào Mỹ để thực hiện độc lập. Tuy nhiên, chính sách cai trị hà khắc của quân Mỹ khiến ý nguyện của người dân Okinawa nhanh chóng chuyển sang yêu cầu trở lại là một phần của Nhật Bản[15]:244。Năm 1951, người dân tỉnh Okinawa thành lập Hội Thúc đẩy Tái thống nhất Nhật Bản, và trong vòng ba tháng đã thu thập chữ ký của 70% cử tri trong tỉnh yêu cầu quay về Nhật Bản, nhưng bị chính phủ Mỹ phớt lờ[15]:244。Từ năm 1949 đến 1950, quân đội Mỹ bổ nhiệm Joseph R. Sheetz nắm quyền quân chính tại Okinawa. Thời gian cai trị của ông được gọi là Thiện chính Sheetz, nhận được sự đánh giá tích cực nhất định từ người dân địa phương[15]:245。Tháng 12 năm 1950, Chính quyền Dân sự Hoa Kỳ tại Quần đảo Ryukyu (USCAR) được thành lập[15]:245。Năm 1952, quân Mỹ lại thiết lập Chính phủ Lưu Cầu, bổ nhiệm nhân vật thân Mỹ là Higa Shuhei làm chủ tịch[15]:246。Sau đó, tỉnh Okinawa thực hiện hệ thống chính trị tam quyền phân lập gồm Lập pháp (Lập pháp viện), Hành chính (Chính phủ Lưu Cầu), Tư pháp (Tòa án Dân sự Lưu Cầu), nhưng cơ quan quyền lực cao nhất thực sự là Chính quyền Dân sự Hoa Kỳ tại Quần đảo Ryukyu[15]:246。
Sau chiến tranh, quân đội Mỹ đã sử dụng các biện pháp cưỡng chế để trưng thu lượng lớn đất đai tại Okinawa và sử dụng làm căn cứ quân sự. Những cư dân bị tước đoạt đất đai buộc phải làm việc trong các căn cứ hoặc di cư đến nơi khác, dẫn đến cơ cấu kinh tế dị dạng phụ thuộc vào căn cứ quân sự Mỹ của Okinawa[15]:249。Năm 1956, người dân Okinawa phát động Đấu tranh toàn đảo, yêu cầu quân Mỹ ngừng trưng thu đất cưỡng chế và bồi thường, cuối cùng hai bên đã thỏa hiệp với sự nhượng bộ từ cả hai phía[16]:253。Thập niên 1960, Hội đồng Hồi quy Tổ quốc Tỉnh Okinawa được thành lập[15]:257。Người dân Okinawa còn tổ chức biểu tình vào ngày 28 tháng 4, ngày ký Hiệp ước San Francisco, công khai vẫy quốc kỳ Nhật Bản vốn bị quân Mỹ cấm, và tổ chức "Đại hội trên biển" tại ranh giới trên biển giữa tỉnh Kagoshima và Okinawa, phong trào yêu cầu trở về Nhật Bản bắt đầu bộc lộ công khai[16]:255。Năm 1965, Thủ tướng Nhật Bản đương nhiệm Sato Eisaku thăm Okinawa, đây là lần đầu tiên Thủ tướng Nhật Bản thăm Okinawa sau chiến tranh, ông đã phát biểu "Ngày nào Okinawa chưa trở về, ngày đó thời hậu chiến của Nhật Bản chưa kết thúc"[16]:260。Năm 1968, Yara Chobyo, người chủ trương "hoàn trả tức thời, vô điều kiện, toàn diện", đã đắc cử Chủ tịch Hành chính[15]:258。Tháng 11 năm 1969, Nhật Bản và Mỹ ra tuyên bố chung, Mỹ từ bỏ quyền hành chính đối với Lưu Cầu và chuyển giao cho Nhật Bản[20][21] [22][23][24] [25]。Tuy nhiên, ngay trước khi trở về Nhật Bản, tại Okinawa đã xảy ra Bạo động Koza và nhiều cuộc đình công, cho thấy tâm lý bài Mỹ của người dân chưa hề lắng xuống[15]:261。
Từ khi trao trả Okinawa đến nay
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 15 tháng 5 năm 1972, Mỹ từ bỏ quyền hành chính, lập pháp, tư pháp đối với Lưu Cầu và chuyển giao cho Nhật Bản[20][21][22][23], tỉnh Okinawa được tái lập[16]:266。Sau khi trở về Nhật Bản, Okinawa chuyển sang sử dụng Yên Nhật làm tiền tệ, nhưng trong quá trình chuyển đổi, vấn đề tỷ giá hối đoái đã dẫn đến bão giá và các hỗn loạn khác[15]:270。Để thu hẹp khoảng cách kinh tế giữa Okinawa và chính quốc Nhật Bản, chính phủ Nhật Bản đã ban hành Ba đạo luật phát triển Okinawa và Kế hoạch phát triển chấn hưng Okinawa để phát triển kinh tế, nhưng Okinawa vẫn là một trong những tỉnh chậm phát triển kinh tế của Nhật Bản[26]。Chính phủ Nhật Bản còn tổ chức ba sự kiện lớn sau khi trao trả Okinawa: Lễ hội trồng cây đặc biệt kỷ niệm ngày trở về, Đại hội Thể thao Quốc gia đặc biệt Okinawa và Triển lãm Quốc tế về Đại dương Okinawa[15]:271。Trong đó, Triển lãm Đại dương tuy giúp cơ sở hạ tầng của tỉnh Okinawa được cải thiện đáng kể, nhưng cũng gây ra vật giá leo thang và suy thoái kinh tế sau triển lãm[27]。Theo khảo sát dư luận do NHK thực hiện vào thời điểm đó, nhân dịp kỷ niệm 3 năm trao trả Okinawa, có 51% người dân cho rằng cuộc sống sau khi trở về Nhật Bản tồi tệ hơn, cao hơn mức 40% cho rằng cuộc sống tốt hơn[16]:268。Mặc dù chính phủ Nhật Bản đã đầu tư vốn khổng lồ vào phát triển kinh tế Okinawa, nhưng thu nhập của người dân tỉnh này vẫn chưa đạt 80% mức trung bình của Nhật Bản, kinh tế phụ thuộc lớn vào trợ cấp tài chính[16]:270。
Năm 1978, Nishime Junji đắc cử Thống đốc tỉnh Okinawa, đây là lần đầu tiên phe bảo thủ nắm quyền tại tỉnh Okinawa sau khi trở về Nhật Bản[28]。Trong thời kỳ chính quyền bảo thủ, vấn đề căn cứ quân sự Mỹ bị làm nhẹ đi, phát triển kinh tế trở thành chủ đề chính của chính quyền tỉnh giai đoạn này. Kinh tế tỉnh Okinawa cũng đạt được sự phát triển rõ rệt trong thời kỳ này, khoảng cách với chính quốc Nhật Bản được thu hẹp phần nào[15]:281。Năm 1990, Ota Masahide đắc cử Thống đốc tỉnh Okinawa, tỉnh Okinawa một lần nữa do nhân vật thuộc phe cách tân nắm quyền[29]。Năm 1995, tại Okinawa xảy ra vụ lính Mỹ cưỡng hiếp bé gái 12 tuổi, khiến dư luận Nhật Bản dậy sóng, tiếng nói yêu cầu quân Mỹ rút khỏi Okinawa lại dâng cao[30]。Năm 1996, Nhật Bản và Mỹ đạt được thỏa thuận, Mỹ đồng ý trao trả Sân bay Futenma nằm ở trung tâm thành phố Ginowan bao quanh bởi khu dân cư, nhưng sẽ xây dựng căn cứ mới ở bờ biển phía Đông tỉnh Okinawa để thay thế Sân bay Futenma, gây ra sự bất bình trong người dân Okinawa. Cùng năm, tỉnh Okinawa tổ chức trưng cầu dân ý yêu cầu thu hẹp quy mô căn cứ quân sự Mỹ[31]。Năm 1998, Inamine Keiichi đắc cử Thống đốc tỉnh Okinawa, phe bảo thủ trở lại nắm quyền chính trị tỉnh Okinawa[32]。Năm 2000, tỉnh Okinawa đã tổ chức Hội nghị thượng đỉnh G8 của năm đó[33]。Năm 2004, tại thành phố Ginowan xảy ra vụ trực thăng quân sự Mỹ rơi, sự nguy hiểm của Sân bay Futenma một lần nữa bị phơi bày trước công chúng[34]。Năm sau, quân đội Mỹ đồng ý thay đổi địa điểm di dời Sân bay Futenma, nhưng dư luận tỉnh Okinawa vẫn từ chối chấp nhận<ref>{{cite web|url=https://ryukyushimpo.jp/pages/page-142.html%7Cscript
Địa lý
[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Okinawa bao trùm quần đảo Ryukyu (thuộc quần đảo Nansei) chạy dài hơn 1000 km từ phía Tây Nam Kyushu đến tận Đài Loan và phân thành ba nhóm đảo chính. Đó là:
- Quần đảo Okinawa
- Ie-jima
- Kume
- Đảo Okinawa
- Quần đảo Kerama
- Quần đảo Daito
- Quần đảo Miyako
- Miyako-jima
- Quần đảo Yaeyama
- Iriomote
- Đảo Ishigaki
- Yonaguni
- Quần đảo Senkaku[35]
Khí hậu
[sửa | sửa mã nguồn]Khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới.
Hành chính
[sửa | sửa mã nguồn]Tỉnh Okinawa gồm 11 thành phố và 30 làng, thị trấn. Dân số toàn tỉnh là 1.366.854 người (năm 2005). Okinawa là tỉnh đông dân thứ 32 ở Nhật Bản.
Kinh tế
[sửa | sửa mã nguồn]Okinawa chủ yếu phát triển dựa vào ngành du lịch và nông nghiệp. Thu nhập bình quân đầu người thấp nhất Nhật Bản.
Giao thông
[sửa | sửa mã nguồn]Hàng không
[sửa | sửa mã nguồn]- Sân bay Aguni
- Sân bay Hateruma
- Sân bay Iejima
- Sân bay Kerama
- Sân bay Kitadaito
- Sân bay Kumejima
- Sân bay Minami-Daito
- Sân bay Miyako
- Sân bay Naha
- Sân bay Ishigaki mới
- Sân bay Shimojishima
- Sân bay Tarama
- Sân bay Yonaguni
Đường bộ
[sửa | sửa mã nguồn]
Okinawa Expressway
Naha Airport Expressway
Quốc lộ 58
Quốc lộ 329
Quốc lộ 330
Quốc lộ 331
Quốc lộ 332
Quốc lộ 390
Quốc lộ 449
Quốc lộ 505
Quốc lộ 507
Đường sắt
[sửa | sửa mã nguồn] Xem thêm: Giao thông đường sắt ở Okinawa- Đường sắt đô thị Okinawa
Cảng biển
[sửa | sửa mã nguồn]Các cảng biển chính của Okinawa bao gồm:
- Cảng Hirara[36]
- Cảng Ishigaki[37]
- Cảng Kinwan[38]
- Cảng Nakagusukuwan[39]
- Cảng Naha[40]
- Cảng Unten[41]
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Đại học Ryukyu.
- Công viên tự nhiên quốc gia Iriomote ishigaki
- Thành Shuri
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ 離島の概況について (bằng tiếng Nhật). Tỉnh Okinawa. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2020. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
- ^ 沖縄地方の現状と課題 (PDF) (bằng tiếng Nhật). Cục Tổng hợp Okinawa thuộc Nội các. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2020. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
- ^ 沖縄の面積 (bằng tiếng Nhật). Tỉnh Okinawa. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2020. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
- ^ a b Takeuchi Rizō (1986). 《角川日本地名大辞典 47 沖縄県》 (bằng tiếng Nhật). Tokyo: Kadokawa Shoten. ISBN 4-04-001470-7.
- ^ Matsuo, Kanenori Sakon (2005). The Secret Royal Martial Arts of Ryukyu, tr. 40, tại Google Books
- ^ Lin, Man-houng. "The Ryukyus and Taiwan in the East Asian Seas: A Longue Durée Perspective" Được lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2014 tại Wayback Machine, Asia-Pacific Journal: Japan Focus. 27 October 2006, translated and abridged from Academia Sinica Weekly, No. 1084. 24 August 2006.
- ^ Goodenough, Ward H. Book Review: "George H. Kerr. Okinawa: the History of an Island People..." Được lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2014 tại Wayback Machine, The Annals of the American Academy of Political and Social Science, May 1959, Vol. 323, No. 1, p. 165.
- ^ AGREEMENT1 BETWEEN JAPAN AND THE UNITED STATES OF AMERICA CONCERNING THE RYUKYU ISLANDS AND THE DAITO ISLANDS Được lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2018 tại Wayback Machine Trong Điều 1: "Japan, as of such date, assumes full responsibility and authority for the exercise of all and any powers of administra tion, legislation and jurisdiction over the territory and inhabitants of the said islands. Dịch đơn giản: Nhật Bản có toàn bộ quyền hạn và trách nhiệm thực thi tất cả các quyền hành chính, lập pháp và tư pháp đối với lãnh thổ và cư dân các đảo nói trên.
- ^ Hiệp định trao trả Okinawa - Bộ Ngoại giao Nhật Bản Được lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2020 tại Wayback Machine Được lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2020 tại Wayback Machine Được lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2020 tại Wayback Machine Được lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2020 tại Wayback Machine 「第一条 行政、立法及び司法上のすべての権利を行使するための完全な権能及び責任を引き受ける。」 Điều 1 viết rằng Nhật Bản đảm nhận toàn bộ quyền hạn và trách nhiệm thực thi tất cả các quyền hành chính, lập pháp và tư pháp.
- ^ Bộ Ngoại giao Nhật Bản. "Hỏi đáp về quần đảo Senkaku". Trang web tiếng Trung của Bộ Ngoại giao Nhật Bản (bằng tiếng Trung). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2019. Từ những năm 1950, Okinawa được liệt kê vào khu vực Hoa Kỳ thực thi quyền hành chính... {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
- ^ "Thông tin cơ bản về nơi đóng quân". Văn phòng Đại diện Kinh tế và Văn hóa Đài Bắc tại Nhật Bản - Phân viện Naha (bằng tiếng Trung). ngày 12 tháng 7 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2018. Năm 1972, Hoa Kỳ không thông báo trước cho nước ta, đơn phương quyết định trao quyền hành chính Ryukyu cho Nhật Bản, nước ta đến nay vẫn chưa thừa nhận động thái này của Hoa Kỳ. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
- ^ a b c d e f g h i 安里進・高良倉吉・田名真之・豊見山和行・西里喜行・真栄平房昭 (2004). 《沖縄県の歴史》 (bằng tiếng Nhật). 東京都: 山川出版社. ISBN 4-634-32470-9.
- ^ 沖縄県南城市サキタリ洞遺跡発掘調査報告書 (PDF) (bằng tiếng Nhật). 全国遺跡報告総覧. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2020. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z aa ab ac ad 新城俊昭 (2007). 《琉球·沖縄史》 (bằng tiếng Nhật). 沖縄県: 東洋企画. ISBN 978-4-938984-17-5.
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z aa ab ac ad ae Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên history2
- ^ a b c d e f g h 金城正篤・上原兼善・秋山勝・仲地哲夫・大城将保 (2005). 《沖縄県の百年》 (bằng tiếng Nhật). 東京都: 山川出版社. ISBN 4-634-27470-1.
- ^ 十・十空襲と那覇市の戦争 (bằng tiếng Nhật). 那覇市立教育研究所. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2020. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
- ^ a b 侯毅 (2015年12月). ""二战"后琉球问题的处置与钓鱼岛问题的产生". 中国边疆史地研究 (bằng tiếng Trung). 25 (4). 中国社会科学院中国边疆研究所: 124–132. {{Chú thích tập san học thuật}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
- ^ a b 安成日、李金波 (2011年12月). "试论二战后美国托管冲绳政策的形成(上)". 北华大学学报(社会科学版) (bằng tiếng Trung). 12 (6). 北华大学: 61–66. {{Chú thích tập san học thuật}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
- ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :22
- ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :02
- ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên a12
- ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên a22
- ^ 丘宏達 (ngày 15 tháng 11 năm 1990). "誰是釣魚台的主人" (bằng tiếng Trung). 遠見雜誌. Bản gốc lưu trữ 2018年9月26日. Truy cập 2018年9月26日. 1971年6月17日,美、日簽約,將琉球行政權歸還日本。 {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |access-date= và |archive-date= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
- ^ 第3節 北米地域 (bằng tiếng Nhật). 外務省. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2017. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |deadurl= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
- ^ 沖縄振興のこれまでの取り組み (PDF) (bằng tiếng Nhật). 沖縄県. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2020. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
- ^ 1975年7月20日 沖縄国際海洋博覧会開幕 (bằng tiếng Nhật). 沖縄県公文書館. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2020. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
- ^ 7人の知事3代目 西銘順治 (bằng tiếng Nhật). 琉球朝日放送. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2020. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
- ^ 大田昌秀 (bằng tiếng Nhật). NHKアーカイブス. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2020. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
- ^ 沖縄の悲劇~米軍関係者による事件 写真特集 (bằng tiếng Nhật). 時事ドットコムニュース. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2020. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
- ^ 1996年9月8日 日米地位協定の見直し及び基地の整理縮小に関する県民投票 (bằng tiếng Nhật). 沖縄県公文書館. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2020. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
- ^ 新知事誕生沖縄の選択 (bằng tiếng Nhật). NHK. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2020. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
- ^ 2000年7月21日 九州・沖縄サミット首脳会合が沖縄で開幕 (bằng tiếng Nhật). 沖縄県公文書館. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2020. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
- ^ 沖縄国際大学への米軍ヘリ墜落事故について (bằng tiếng Nhật). 宜野湾市. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2020. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
- ^ "尖閣諸島の領有権確保及び同諸島周辺海域の海洋資源調査活動の推進に関する意見書". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2011.
- ^ 平良港湾事務所 Lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2006 tại Wayback Machine. Dc.ogb.go.jp. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2013.
- ^ "石垣市建設部港湾課". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2013.
- ^ (bằng tiếng Nhật) 金武湾港 Lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016 tại Wayback Machine. Pref.okinawa.jp. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2013.
- ^ 沖縄総合事務局 那覇港湾・空港整備事務所 中城湾港出張所 Lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2006 tại Wayback Machine. Dc.ogb.go.jp. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2013.
- ^ Naha port Lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2006 tại Wayback Machine. Nahaport.jp. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2013.
- ^ (bằng tiếng Nhật) 運天港 Lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2006 tại Wayback Machine. Pref.okinawa.jp. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2013.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]
Dữ liệu địa lý liên quan đến Okinawa tại OpenStreetMap
Bài viết này vẫn còn sơ khai. Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. |
- x
- t
- s
| |||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Thành phố | Ginowan | Ishigaki | Itoman | Miyakojima | Nago | Naha (tỉnh lị) | Nanjō | Okinawa | Tomigusuku | Urasoe | Uruma | ||||||||||
| Huyện |
| ||||||||||
| |||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Vùng địa lí |
| ||||||||||||||||
| Tỉnh |
| ||||||||||||||||
| |||||||||||||||||
| Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩn | |
|---|---|
| Quốc tế |
|
| Quốc gia |
|
| Địa lý |
|
| Học thuật |
|
| Khác |
|
Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “chú thích”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="chú thích"/> tương ứng
Từ khóa » Hình ảnh Okinawa
-
Ảnh Về Okinawa City - Hình ảnh Nổi Bật - Tripadvisor
-
Ảnh Về Quận Okinawa - Tripadvisor
-
200+ Okinawa & ảnh Nhật Bản Miễn Phí - Pixabay
-
"Okinawa" - 119,171 Ảnh, Vector Và Hình Chụp Có Sẵn | Shutterstock
-
Ảnh Du Lịch ở Okinawa
-
Okinawa | Travel Japan (Cơ Quan Xúc Tiến Du Lịch Nhật Bản)
-
Địa điểm Thăm Quan điển Hình ở Okinawa! Các địa điểm ... - MATCHA
-
Phong Cảnh Thiên Nhiên Okinawa, đảo Nhật Bản Bức ảnh Sẵn Có
-
Các Di Sản UNESCO Không Thể Bỏ Lỡ ở Vương Quốc Ryukyu Của ...
-
Tuyệt Vời Nhất Tại Okinawa 2022 - Expedia
-
đảo Okinawa - Tin Tức, Hình ảnh, Video, Bình Luận
-
Hình ảnh Okinawa PNG, Vector, PSD, Và Biểu Tượng để Tải Về Miễn Phí
-
Okinawa - ANA