Phả Ký | Gia Phả Họ Đỗ

Câu đối dòng họ

PHẢ KÝ HỌ ĐỖ Câu Hạ, Quang Trung, An Lão, Hải Phòng

Tập Gia Phả này ghi lại quá trình hình thành và phát triển của Chi II, Ngành I họ Đỗ ở thôn Câu Hạ, xã Quang Trung, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng; đứng đầu là cụ Đỗ Quang Ban tự Phúc Bình cùng các con cháu nhiều đời của cụ tới nay. Dòng tộc họ Đỗ tại thôn Câu Hạ có 2 ngành và 10 chi họ cho nên để đảm bảo tính liên kết chặt chẽ, trong tập gia phả này cũng đề cập đến sự phát tích của cả dòng họ và lược qua những phần có liên quan đến các chi họ khác trong cả dòng tộc.

IMG_0047IMG_0043

Xem bản đồ điện tử

Mộ cụ Thủy tổ Đỗ Phúc Lai – đống Cọ, Câu Hạ, Quang Trung, An lão, Hải Phòng

A. Phát tích của dòng họ

1- Vị Thủy tổ của dòng họ: Đỗ Phúc Lai, tên thụy là Đỗ Quý Công Tự Phúc Lai

Trải qua nhiều thời kỳ chiến tranh cũng như khó khăn của đất nước, nhưng ngôi mộ của cụ Đỗ Phúc Lai tại đống Cọ, vị Thủy tổ của họ Đỗ thôn Câu Hạ, xã Quang Trung, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng vẫn được các con cháu nhiều đời gìn giữ và bảo tồn. Trong dòng họ trước đây đã có nhiều phú ý ghi chép lại tên tuổi của các thành viên trong dòng tộc qua nhiều thế hệ trước đó, nhưng qua nhiều biến cố trong lịch sử nên một số tài liệu này đã bị thất lạc. Qua việc thu thập những tư liệu từ những người cao tuổi và có chức vị trong dòng họ, có nhiều người đã từng được tiếp cận với những thông tin ghi trong phú ý của dòng họ vào những giai đoạn trước, cùng với việc tham khảo cuốn „Phả hệ dòng tộc họ Đỗ Văn“ của hội đồng gia tộc họ Đỗ soạn thảo năm 2013, theo sự lưu truyền từ nhiều thế hệ trong dòng họ, sau khi tra cứu những sự kiện có gắn liền với lịch sử đất nước trong từng giai đoạn, chúng ta có thể khái quát về sự phát tích của dòng họ và về vị Thủy tổ cũng như Tổ quán của chúng ta như sau:

Như trong lịch sử Việt Nam chúng ta đã biết, vào thời nhà Hậu Lê có thời kỳ Nam- Bắc triều (1527-1592), đây là thời kỳ xảy ra chiến tranh Lê- Mạc. Sau khi đánh tan quân Bắc triều của nhà Mạc, đầu năm Quý Tỵ 1593 quân Nam triều của nhà Lê đã thống nhất được giang sơn. bình định được vùng đồng bằng Bắc bộ(1). Theo lệnh duyệt tuyển binh lính nguyên ngạch mới và cũ của nhà vua năm Bính Thân 1596, một số quân lính của nhà Lê sau chiến tranh được giải ngũ và được cấp đất lập cư tại những vùng đất còn hoang sơ, cư dân thưa thớt. Khi đó làng Sòi, một làng quê nằm sát ven sông Văn Úc, thuộc An Lão, huyện Nghi Dương, trấn Hải Dương là một trong những vùng đất đó. Bên kia sông là vùng đất thuộc huyện Tứ Kỳ và huyện Thanh Hà, trấn Hải Dương, nơi đã từng xảy ra nhiều cuộc giao tranh quyết liệt giữa quân của nhà Lê và nhà Mạc. Trong dòng sự kiện ấy, Cụ Đỗ Phúc Lai quê ở Thanh Hóa, lúc đó thuộc quân lính nhà Lê tham gia truy đuổi quân nhà Mạc. Sau khi nhà Mạc thất trận chạy lên Cao Bằng, nhà Lê đã chiếm lĩnh được vùng đồng bằng Bắc bộ. Cùng với một phần binh lính của nhà Lê được giải ngũ, cụ đã ở lại sinh sống tại làng Sòi này. Như vậy cụ Đỗ Phúc Lai là vị Thủy tổ của dòng họ Đỗ ngày nay, cụ đã tới đây lập nghiệp, tại đây cụ đã sinh ra con cháu và mất đi cũng tại đây, ngôi mộ của cụ vẫn còn hiện hữu là minh chứng cho thấy Tổ quán của chúng ta cũng chính là làng Sòi, nay là thôn Câu Hạ, xã Quang Trung, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

2- Các Vị Tiên Tổ

Sau khi vị Thủy tổ Đỗ Phúc Lai tới đây khai cơ lập nghiệp, dòng họ Đỗ bắt đầu phát triển với các thế hệ con cháu kế tiếp nhiều đời. Theo phong tục cổ truyền hợp tự(2) của người Việt từ xưa, cùng với bao biến cố trong dòng lịch sử, cho nên đến nay các tư liệu ghi chép về ngôi thứ của các vị thuộc hàng Tiên tổ không còn nữa, nhưng công ơn cùng tên họ của các vị vẫn được các con cháu trong dòng họ qua các thế hệ lưu truyền mãi mãi qua việc tế lễ hàng năm như sau:

Đỗ Phúc Hải, tên thụy là Đỗ Quý Công Tự Phúc Hải Đỗ Phúc Mỹ, tên thụy là Đỗ Quý Công Tự Phúc Mỹ Đỗ Phúc Lộc, tên thụy là Đỗ Quý Công Tự Phúc Lộc Đỗ Phúc Thắng, tên thụy là Đỗ Quý Công Tự Phúc Thắng Đỗ Phúc Khang, tên thụy là Đỗ Quý Công Tự Phúc Khang Đỗ Huyền Long, tên thụy là Đỗ Quý Công Tự Đạo Huyền Long Đỗ Văn Hiên, tên thụy là Đỗ Quý Công Tự Văn Hiên Đỗ Phúc Tín, tên thụy là Đỗ Quý Công Tự Phúc Tín

Gia phả Thủy tổ     IMG_0012 (2)     Bản dịch gia phả

Bản phú ý về Thủy tổ của họ Đỗ còn lưu giữ được tới ngày nay

3- Cao Cao Tổ Đỗ Hữu Rong, người khai sinh ra 2 ngành họ Đỗ

Cụ Đỗ Hữu Rong sinh được 2 con trai là Đỗ Phúc Thịnh và Đỗ Phúc Thọ, từ đây họ Đỗ được phát triển mạnh thành hai ngành:

– Ngành I thuộc về cụ Đỗ Phúc Thịnh, nay là ngành ông Đăng. – Ngành II thuộc về cụ Đỗ Phúc Thọ, nay là ngành ông Thanh.

4- Ngành I họ Đỗ

Người đứng đầu Ngành I họ Đỗ là cụ Đỗ Phúc Thịnh. Với các thế hệ con cháu của cụ làm cho Ngành I họ Đỗ ngày càng phát triển, cụ thể là: Cụ Đỗ Phúc Thịnh sinh con là Đỗ Quang Huy. Cùng với cụ bà Lâm Thị Hiệu Thiện Trụ, Cụ Đỗ Quang Huy sinh ra các con trai: Con trưởng là Đỗ Quang Phả và các con thứ là Đỗ Quang Châu, Đỗ Quang Việp, Đỗ Quang Đước. Cụ Đỗ Quang Đước có con cháu sau này thuộc về Chi cụ Mấm nhưng không có người nối dõi.

5- Các chi họ thuộc Ngành I:

Cụ Đỗ Quang Phả và cụ bà Vũ Thị Hiệu Từ Thuận sinh được 3 con trai theo thứ tự: – Thứ nhất: Đỗ Quang Thưởng – Thứ nhì: Đỗ Quang Lượng – Thứ ba: Đỗ Quang Ban

Cụ Đỗ Quang Thưởng có 2 cháu trai là Đỗ Văn Ruốc và Đỗ Văn Quốc. Vào thời điểm trước năm 1954, anh em cụ Ruốc và cụ Quốc xưng danh là “Tự Tôn Đỗ Tộc” có nghĩa là: Cháu nối dõi họ Đỗ, nhưng cụ Ruốc lại sống ở Quảng Ninh và cả hai cụ đều không có con trai nối dõi cho nên cụ Đỗ Văn Đương đảm nhiệm chức trưởng tộc từ đó. Cho tới nay, Ngành I họ Đỗ được phát triển thành 2 chi:

Chi họ cụ Đỗ Quang Lượng sau này là Chi I ông Đăng. Chi họ cụ Đỗ Quang Ban sau này là Chi II ông Oanh.

Lăng mộ chi IIĐống Ma Cả

Khu lăng mộ chi II, đống Ma Cả, Câu Hạ, Quang Trung, An Lão, Hải Phòng

B. Quá trình phát triển dòng họ và những đóng góp xây dựng quê hương đất nước

1- Sự phát triển của dòng họ

Vị Thủy tổ họ Đỗ đặt chân đến đây rồi sinh cơ lập nghiệp trên mảnh đất này, các thế hệ con cháu kế tiếp ngày càng phát triển và lớn mạnh. Cùng với rất nhiều dòng họ khác tồn tại và phát triển trong không gian văn hóa làng quê, các con cháu thuộc dòng họ Đỗ đã duy trì tốt các mối quan hệ thân thiện, hòa hảo với các dòng họ khác, sống gần gũi gắn bó với thiên nhiên, giao hòa với các tín ngưỡng. Tất cả những yếu tố đó tạo ra sự hỗ trợ to lớn cho sự phát triển của dòng họ về số lượng cũng như về thể chất và trí tuệ.

Bắt đầu từ khi hình thành 2 chi thuộc Ngành I, Chi II họ Đỗ có sự phát triển mạnh mẽ về số lượng: Cụ Đỗ Quang Ban là người đứng đầu Chi II sinh được bốn người con trai là: – Thứ nhất: Đỗ Kim Chung – Thứ nhì: Đỗ Kim Thiết – Thứ ba: Đỗ Kim Châm – Thứ tư: Đỗ Kim Chuy

Vào giai đoạn trước cuộc tản cư năm 1946 gia đình các con của cụ Đỗ Quang Ban ở tại làng Trong, gọi là Nội Khảm thôn, xã Câu Hạ, thuộc tổng Câu Thượng. Cụ Đỗ Kim Chung ở gần Nhà Thờ Tổ bây giờ, cụ Đỗ Kim Châm và Đỗ Kim Chuy ở xóm nhà ông Đỗ Văn Thương hiện nay. Cụ Đỗ Kim Thiết ở trên khu đất nằm ở góc ngã tư, điểm giao cắt giữa đường quốc lộ số 10 và đường đi xuống bến đò Sòi. Tại đây người con trai út của cụ Đỗ Kim Thiết tên là Đỗ Quang Lãng đã mở quán bán hàng phục vụ khách qua đường nên người dân nơi đây gọi là ngã tư Quán Lãng, cái tên đã đi vào lịch sử mà nhân dân khắp nơi trong vùng đều biết đến. Năm 1952 Pháp đuổi dân để xây dựng hệ thống bốt canh gác dọc đường quốc lộ số 10, làm ảnh hưởng lớn đến nơi sinh sống của con cháu cụ Đỗ Kim Thiết. Gia đình cụ Đỗ Phúc Ngà phải vào lập đất làm nhà ở đầu làng Ngoài và cụ Đỗ Quang Lãng phải di dời vào làng Trong thôn Câu Hạ, xã Quang Trung.

Tất cả 4 người con trai nối dõi của cụ Đỗ Quang Ban cũng sinh ra con cháu thật đông đúc. Cụ Đỗ Kim Chung có 2 con trai, cụ Đỗ Kim Thiết và cụ Đỗ Kim Châm mỗi người có 3 con trai và cụ Đỗ Kim Chuy có 2 người con. Các thế hệ sau đó phát triển càng mạnh mẽ về số lượng, đặc biệt một người con của cụ Đỗ Kim Thiết là cụ Đỗ Phúc Ngà sinh 5 con trai. Cho tới nay số lượng con cháu của cụ Đỗ Quang Ban qua 7 đời đã là gần 400 người. Với lối sống lành mạnh cùng với điều kiện lao động cũng như chăm sóc sức khỏe được tốt hơn, nên tuổi thọ trung bình của các thế hệ về sau ngày càng tăng cao.

Cụ Đỗ Văn Tuân là con trưởng của cụ Đỗ Kim Chung nhưng không có cháu nối dõi, cho nên trách nhiệm trưởng chi thuộc về cụ Đỗ Văn Miễn là con của cụ Đỗ Văn Chuẩn. Sau Cải cách ruộng đất 1956 cụ Miễn đã được chia một miếng đất để ở nhưng cụ bán đi để chuyển cả gia đình lên thôn Câu Thượng, xã Quang Hưng, lập nghiệp ở đó. Các cụ thuộc thế hệ con cháu của cụ Đỗ Kim Thiết, Đỗ Kim Châm và Đỗ Kim Chuy lúc đó đã nhiều lần yêu cầu cụ Miễn thực hiện trách nhiệm tổ chức cúng giỗ Tổ tiên của chi họ, nhưng đều không thực hiện được ở nơi ở mới của cụ Miễn tại thôn Câu Thượng, xã Quang Hưng, An Lão, Hải Phòng. Để duy trì được truyền thống sinh hoạt trong dòng họ theo phong tục cổ truyền, cũng như đáp ứng nhu cầu tâm linh của các thành viên trong chi họ, lúc đó các cụ trong dòng họ đã quyết định việc cúng giỗ Tổ tiên của Chi II, Ngành I được tổ chức tại gia đình cụ Đỗ Văn Ngá- Cháu trưởng của cụ Đỗ Kim Thiết, và giao trách nhiệm việc thờ tự của chi họ cho cụ Đỗ Văn Ngá đảm nhiệm từ đó. Sau này cụ Miễn và các con cháu của cụ Miễn hàng năm cũng về cúng giỗ tổ tiên tại đây. Ngày nay trách nhiệm trưởng chi do ông Đỗ Văn Oanh gánh vác; theo truyền thống vào ngày mồng 10 tháng Tám âm lịch hàng năm con cháu họ Đỗ trong Chi II lại tổ chức cúng giỗ cụ Tổ chi Đỗ Quang Ban và 2 cụ bà Dương Thị Hiệu Thanh Ngàn và Dương Thị Hiệu Từ Pha tại gia đình ông Oanh, ở thôn Câu Hạ B, xã Quang Trung, cùng nhau tưởng nhớ tới công ơn của Tổ tiên và các cụ đã khuất trong chi họ, nhắc nhở con cháu gắn bó, chia sẻ với nhau và cùng hướng về nguồn cội của mình.

2- Truyền thống dòng họ

Truyền thống nổi bật của dòng họ là sự cần cù lao động, ý chí phấn đấu vươn lên trong cuộc sống. Khi vị Thủy tổ đến đây sinh sống chỉ với hai bàn tay trắng đã gây dựng nên cuộc sống trên mảnh đất này. Bằng sự chăm chỉ cần cù lao động cùng với khối óc của mình các thế hệ sau đó đã khắc phục được những khó khăn, gây dựng được ruộng vườn và tạo dựng được cuộc sống lâu dài cho những thế hệ sau. Ở những thế hệ kế tiếp, do được kế thừa những thành quả của cha ông để lại, biết phát huy truyền thống tốt đẹp trong dòng họ như sự chăm chỉ và tính sáng tạo trong lao động sản xuất, nên đời sống về vật chất và tinh thần ngày càng được nâng lên rõ rệt.

Mặc dù cuộc sống có nhiều khó khăn, nhưng các gia đình trong họ Đỗ đều nhận thức được sự quan trọng trong việc tạo điều kiện cho việc nâng cao tri thức của con cháu mình. Ở các thế hệ trước trong họ đã có nhiều người được học hành, giỏi chữ nghĩa, trong khi phần lớn người dân lúc đó không biết chữ Hán- Nôm. Các cụ Pháp Thăng – Đỗ Kim Châm, Pháp Tiến- Đỗ Kim Chuy, Pháp Thông- Đỗ Quang Đặng, Pháp Tuyên- Đỗ Văn Riến là những người thông thạo chữ nghĩa, được nhiều người dân trong vùng biết đến.

Nhận thức rõ được trách nhiệm với tổ tiên, phát huy những truyền thống quí báu của ông cha, đúc kết những kinh nghiệm từ các bậc tiền bối để khắc phục loại trừ những khó khăn còn tồn tại, con cháu họ Đỗ ngày nay đã có nhiều thành công trong sự nghiệp. Trình độ học vấn của các thế hệ trong dòng họ ngày càng được nâng cao, có nhiều người đã từng nắm giữ những vị trí quan trọng trong hệ thống chính quyền, có nhiều người kinh doanh thành đạt, có nhiều người có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội, có nhiều người bỏ ra nhiều công sức đóng góp cho cộng đồng. Vẫn còn một số gia đình trong dòng họ còn có nhiều khó khăn trong cuộc sống, nhưng tuyệt đại đa số con cháu trong dòng họ là những người làm ăn chân chính, lương thiện, sống giản dị khiêm tốn, hòa đồng với những người xung quanh. Hiện nay con cháu họ Đỗ sinh sống ở nhiều nơi trên đất nước và cả ở nước ngoài, nhưng dù bất cứ ở đâu, không kể giàu nghèo, địa vị, tất cả con cháu họ Đỗ vẫn luôn hướng về cội nguồn, một lòng kính trọng mẹ cha, làm tròn chữ hiếu, giữ trọn đạo làm con, làm cháu trong gia tộc.

Lăng mộ cụ Đỗ Quang Ban

Lăng mộ cụ Đỗ Quang Ban, đống Ma Cả, Câu Hạ, Quang Trung, An Lão, Hải Phòng

3- Đóng góp cho quê hương, đất nước

Hòa cùng nhịp sống của cư dân trong làng xóm, các thế hệ trong họ Đỗ đã đóng góp nhiều công sức để xây dựng đường sá, tạo dựng và tu bổ những công trình phục vụ cho sinh hoạt văn hóa cũng như tín ngưỡng của tất cả người dân trong làng xã. Sự phong phú về các công trình kiến trúc văn hóa như đình Trên, đình Thị, chùa Trên, chùa Thị cho chúng ta thấy sự đóng góp to lớn của nhân dân trong làng trong quá trình xây dựng quê hương, trong đó có các thế hệ từ Tổ tiên ông cha chúng ta cho tới nay.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và hai cuộc chiến biên giới, con cháu họ Đỗ đã lần lượt tòng quân lên đường đóng góp sức lực của mình để bảo vệ đất nước, có những người đã vĩnh viễn nằm xuống, hiến dâng máu thịt của mình cho Tổ quốc, đó là các liệt sĩ:

– Đỗ Văn Trì, Liệt sĩ chống Pháp – Đỗ Văn Sâm, Liệt sĩ chống Mỹ – Đỗ Văn Thành, Liệt sĩ chống Mỹ – Đỗ Văn Tiến, Liệt sĩ chống Mỹ – Đỗ Văn Dân, Liệt sĩ chống Mỹ

Tổ quốc ghi công

Tổ quốc sẽ ghi công các anh hùng Liệt sĩ, các thế hệ cháu con sẽ mãi mãi biết ơn những người đã làm rạng danh cho đất nước và cho dòng họ.

——————————————————————————————————

(1) Xem Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, quyển XVII, trang 636-646.

(2) Theo phong tục cổ truyền của người Việt từ xưa: Hợp tự hay còn gọi là năm đời tống giỗ, có nghĩa là con cháu cúng giỗ cha mẹ, ông bà và cụ, kỵ trong vòng 5 đời; cao hơn kỵ gọi chung là tiên tổ, thì không cúng giỗ nữa, mà rước chung tất cả các vị thuỷ tổ, tiên tổ, các đời vào chung một nhà thờ họ, để mỗi năm tế một lần.

Teilen mit:

  • X
  • Facebook
Thích Đang tải...

Từ khóa » Cách Viết Phả Ký