Phân Biệt Các Loại Cá Bảy Màu, Guppy | Diễn đàn Chim Cá Cảnh
Có thể bạn quan tâm
Menu
Đây là những dạng rất gần với cá hoang dã và được phát triển từ đầu thế kỷ 20. Cá đuôi thuổng (cofertail) là đột biến được George Phillips phát hiện vào thời kỳ Thế chiến thứ 2. Nhóm cá bảy màu đuôi kiếm (swordtail) - Song kiếm (doublesword) - Thượng đơn kiếm (topsword) - Hạ đơn kiếm (bottomsword) - Đuôi đàn lia (lyretail)
Mặc dù cá đuôi kiếm xuất hiện ngoài tự nhiên nhưng chỉ có đơn kiếm. Cá song kiếm được phát hiện và phát triển từ năm 1928. Những dòng bảy màu vây lưng dài ngày nay thường mang gien đuôi kiếm. Nhóm cá bảy màu đuôi rộng (boardtail) - Đuôi voan (veiltail): dạng đuôi xòe rộng nhưng cạnh cong và góc tròn. - Đuôi cờ (scarftail/flagtail/dovetail): dạng đuôi cạnh thẳng, đuôi vuông vức hình chữ nhật hay xòe một góc dưới 30 độ. - Đuôi quạt (fantail): dạng đuôi cạnh thẳng, góc xòe dưới 55 độ. - Đuôi delta (delta/triangular): dạng đuôi cạnh thẳng, góc xòe 55-75 độ.
Cá bảy màu đuôi voan xuất hiện ở Mỹ vào khoảng giữa thế kỷ 20. Sau đó, nhà lai tạo Paul Hahnel phát triển thành các dòng bảy màu cạnh đuôi thẳng, bao gồm bảy màu đuôi cờ (flagtail), đuôi bồ câu (dovetail) và đuôi quạt (fantail) với góc xòe lớn hơn. Có lẽ ban đầu ông lai cá đuôi voan (veiltail) với cá đuôi khăn (scarftail) và tuyển chọn những cá thể mang đặc điểm của cả hai. Từ những năm 1960, các nhà lai tạo người Mỹ tiếp tục phát triển cá bảy màu cạnh đuôi thẳng thành dạng đuôi delta với góc xòe lên đến 55-75 độ. Đây là dạng đuôi của hầu hết cá bảy màu cảnh (fancy) ngày nay trên thế giới. Nhóm cá bảy màu vây lưng rộng (board dorsal) - Vây cao (hi-fin): vây lưng to và vuông vức. - Vây buồm (sailfin): vây lưng xòe to như cánh buồm
Đây là các biến thể phát triển từ dòng đuôi delta. Chúng được liệt vào danh sách thể loại trong bộ tiêu chuẩn của Hiệp hội Bảy màu Thế giới (WGA). Nhóm cá bảy màu vây dài (long fin) - Ribbon - Đuôi én (swallow)
Vây hậu môn ở cá bảy màu đực phát triển thành cơ quan sinh dục gọi là gonopodium. Đột biến ribbon/swallow khiến bộ phận này quá dài và không thể sử dụng để thụ tinh cho cá cái. Người ta thường lai bảy màu cái vây dài với bảy màu đực bình thường rồi lai tiếp cá thể đời F1 với nhau để thu cá vây dài. Với dòng ribbon, chúng ta sẽ thu được 50% cá ribbon vì ribbon là đặc điểm trội; trong khi với swallow, chúng ta thu được 18,75% cá swallow. Cách lai tạo nữa đòi hỏi kỹ năng thực hành đó là cắt ngắn gonopodium của bảy màu đực vây dài để chúng có thể thụ tinh cho cá cái. Các biến thể này được liệt vào danh sách thể loại trong bộ tiêu chuẩn của Hiệp hội Bảy màu Thế giới (WGA). Nhóm cá bảy màu đuôi tưa (merah/crowntail) Dạng vây với màng vây bị triệt thoái chỉ còn trơ lại tia vây. Biến thể này xuất hiện tại Nhật Bản vào năm 2005. Gien đuôi tưa có lẽ là gien bán trội (incompletely dominant) tức cá thể lai xa giữa merah với cá bình thường phần nào thể hiện kiểu hình “đuôi tưa”.
Nhóm đuôi cá bảy màu cái - Đuôi vỏ sò (scalloptail/superbra/metropolitan): cá cái của các dòng bảy màu đuôi rộng. - Đuôi nút chai (wedgetail): cá cái dòng đuôi delta hay đuôi quạt. - Đuôi thuổng (cofertail): cá cái dòng đuôi thuổng. - Đuôi tròn (roundtail): cá cái của các dòng bảy màu đuôi ngắn hoặc đuôi kiếm.
2. Các loại màu sắc và hoa văn của cá bảy màu Màu thân trên Xám: màu thông thường ở cá hoang dã. Màu này có tính trội so với tất cả các màu khác. Gold: đây là màu được tạo ra bởi gien hạn chế hắc sắc tố (melanin). Ở Mỹ, màu này được gọi là Blond.
Màu đồng (Bronze/Tiger): vảy có viền đen, thực chất là màu Gold với lớp hắc sắc tố bên dưới.
Bạch tạng (Albino): thân màu trắng vì khiếm khuyết sắc tố.
Mắt đỏ (Red Eye): có hai loại mắt đỏ ở cá bảy màu. Một loại màu đỏ sậm được gọi là mắt albino đỏ vang (Wine Red Eye Albino - WREA). Loại nữa màu hồng nhạt được gọi là mắt albino chính hiệu (Real Red Eye Albino - RREA).
Các loại màu ánh kim: Metallic: lớp ánh kim dày ở đầu/thân trên. Tông màu thay đổi tùy từng cá thể và điều kiện môi trường. Một số biến thể có lớp ánh kim bao phủ toàn bộ cơ thể chẳng hạn như Full Gold hay Full Green.
Platinum: lớp ánh kim trắng; bao gồm các dòng như Coral và Micariff. Trường hợp lớp ánh kim trắng phát triển toàn thân gọi là Full Platinum.
Coral
Micariff
Platinum Màu và hoa văn thân dưới Cobra (Snakeskin): dạng hoa văn ngoằn ngòe như con rắn ở phần thân dưới. Ở Mỹ đặc điểm này được gọi là da rắn (Snakeskin). Thể loại “Solid Snakeskin” (IFGA) là hoa văn dạng sợi liền lạc ở thân. Tuxedo (Half Black): toàn bộ thân dưới màu đen trông như đang mặc bộ tuxedo đen. Ở Mỹ đặc điểm này được gọi là Half Black. Một số dòng cá có tuxedo màu khác chẳng hạn như lục và hồng. Dòng tuxedo gốc màu đen do Eduard Schmidt Focke lai tạo.
Màu và hoa văn đuôi Đơn sắc (Solid): bao gồm những màu đơn sắc như đỏ, vàng, lục, tím, đen… Màu phải đều và không được lẫn tông lạ.
Viền Anh (/English Lace/English Leopard/Old Fashion Leopard): được phát triển bởi George Phillips từ đầu những năm 1950. English Lace được cho là nguồn gốc của tất cả các dạng hoa văn sau này. Từ “lace” ám chỉ viền đuôi nơi hoa văn không phát triển tới hay nhạt dần. Lace ngày nay là dạng hoa văn nhỏ và nhuyễn. Ở Mỹ, yêu cầu về thể loại “Variegated Snakeskin” (IFGA) là hoa văn dạng sợi liền lạc ở thân và đuôi. Cá được liệt vào thể loại này có kiểu hình kết hợp giữa English Lace” và Snakeskin/Cobra. Những cá thể như vậy có thể có nguồn gốc di truyền khác nhau. Da Báo (Leopard): dạng hoa văn với những đốm có kích thước trung bình trên nền vàng. Gạch khảm (Mosaic): dạng hoa văn với những đốm to và dính với nhau thành mảng. Dẫu Mosaic là tên do người Nhật đặt nhưng dòng này đã được phát triển từ những năm 1960 ở Đông Đức. Mosaic là kết quả lai xa giữa Tuxedo với cá hoang dã. Tương tự như Grass, cá cái dòng này có đuôi và vây lưng rất to. Đôi khi hoa văn phát triển lên đến thân dưới tương tự như Snakeskin nhưng Mosaic luôn có hắc sắc tố ở đuôi và thân. Hạt cỏ (Grass): dạng hoa văn được lai tạo ở Nhật Bản và là một biến thể của Mosaic với những đốm nhỏ li ti như hạt cỏ. Một số giả thuyết về nguồn gốc của dòng cá này: a) Vào những năm 1970, cá bảy màu Glass được nhập vào Nhật Bản từ Singapore. Một nhà lai tạo người Nhật lai xa Mosaic với Glass. Vào đầu những năm 1980, dòng Grass ra đời từ những cá thể lai ban đầu này. b) Mosaic có lẽ được nhập từ Đức vào những năm 1960. Do đó cá dòng Blue Grass trước đây không tạo ra Red Grass. c) Cũng vào đầu những năm 1980, người Nhật mua cá bảy màu mang gien Bb từ Singapore. Đấy là lý do tại sao dòng Blue Grass hiện nay cũng tạo ra Red Grass vì chúng có lẽ mang gien Bb. d) Một câu chuyện khác về nguồn gốc dòng Grass. Một nhà lai tạo người Nhật lai cận huyết Tuxedo Mosaic qua 25 thế hệ trong vòng 10 năm thì vô tình tạo ra bảy màu Grass. Các biến thể Grass gồm: Blue Grass được Yutaka Kishima tạo ra bằng cách lai xa với Neon Blue, Red Grass được tạo ra bằng cách lai xa với Red Mosaic, Yellow Grass được tạo ra bằng cách lai xa với Leopard, và một biến thể rất phổ biến khác là Full Metal Blue Grass (lai xa Blue Grass với Moscow). Ngoài ra còn có một biến thể màu gold nhờ được bổ sung gien ánh kim mà người Nhật gọi là Tiger. Khi lai tạo dòng Grass, điều quan trọng là phải lựa chọn cá thể có đặc điểm Grass ở cả đuôi và vây lưng.
Leopard
Variegated Snakeskin (Lace/Cobra/Snakeskin)
Mosaic
Grass Galaxy: là dạng hoa văn với lớp ánh kim dày. Nhà lai tạo người Nhật Hoshiki Tsutsui phát triển dòng này từ những năm 1990 bằng cách lai xa Snakeskin với Platinum. Có 3 đặc điểm mà một con bảy màu Galaxy chính hiệu phải có: a) lớp ánh kim dày, đặc biệt ở vây lưng và đuôi; b) sọc đứng ở thân dưới và c) đốm đen hình miếng bịt mắt của cướp biển (bandit mark) ở thân trên, gần đầu.
Medusa: các nhà lai tạo Nhật Bản khác phát triển một biến thể tương tự với Galaxy nhưng có tông đỏ trên đuôi là Medusa. Theo Tsutsui, Medusa rất giống với Galaxy thời kỳ đầu. Nguồn: Sưu tầm kỹ thuật nuôi cá bảy màu trên internet ( Cá bảy màu - Thiên Đường Cá Cảnh ) Chuyên cung cấp cá cảnh, thiết bị, phụ kiện, máy móc trên toàn quốcMr.Lân 0988 347 508
Thiên Đường Cá Cảnh chuyên cung cấp cá cảnh, thức ăn, thiết bị, phụ kiện..... ĐC: 60 Đặng Văn Bi, P.Bình Thọ, Q.Thủ Đức, HCM Thức ăn cho cá chép koi - Vật liệu lọc nước hồ cáChuyên bán cá chép koi - Xem chi tiết: Cách làm bộ lọc hồ cá koi
AROWANA
AROWANA
AROWANA FISH
!!!!!!!!!!!!
!!!!!!!!!!!!
!!!!!!!!!!!! Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký để bình luận. Chia sẻ: Facebook Pinterest Email Link
Trụ Sở Chính ( Kho Hàng Sỉ ):Cung cấp tổng hợp đầy đủ các loại cá cảnh và phụ kiện. 60 Đặng Văn Bi, Thủ Đức, HCM 0988 347 508 Mr.Lân
- Cá Cảnh Bài viết mới Tìm chủ đề
- Thành viên Đăng ký Thành viên trực tuyến
- Trợ giúp
- Website Sinh Vật Cảnh
Tìm kiếm
Everywhere Chủ đề This forum This thread Chỉ tìm trong tiêu đề Tìm Tìm kiếm nâng cao…- Bài viết mới
- Tìm chủ đề
- Cá Cảnh
- Diễn đàn sinh vật cảnh
- Cá bảy màu, guppy
- Kỹ thuật nuôi cá bảy màu
- Thread starter thienduongcacanh
- Ngày gửi 29 Tháng mười hai 2014
thienduongcacanh
Administrator
Thành viên BQT Phân biệt các loại cá bảy màu, guppy 1. Các dạng vây của cá bảy màu Nhóm cá bảy màu đuôi ngắn (shorttail) - Đuôi tự nhiên - Đuôi tròn (roundtail) - Đuôi thuổng (cofertail/spadetail) - Đuôi kim (pintail/needletail) - Đuôi mác (speartail)
Đây là những dạng rất gần với cá hoang dã và được phát triển từ đầu thế kỷ 20. Cá đuôi thuổng (cofertail) là đột biến được George Phillips phát hiện vào thời kỳ Thế chiến thứ 2. Nhóm cá bảy màu đuôi kiếm (swordtail) - Song kiếm (doublesword) - Thượng đơn kiếm (topsword) - Hạ đơn kiếm (bottomsword) - Đuôi đàn lia (lyretail)
Mặc dù cá đuôi kiếm xuất hiện ngoài tự nhiên nhưng chỉ có đơn kiếm. Cá song kiếm được phát hiện và phát triển từ năm 1928. Những dòng bảy màu vây lưng dài ngày nay thường mang gien đuôi kiếm. Nhóm cá bảy màu đuôi rộng (boardtail) - Đuôi voan (veiltail): dạng đuôi xòe rộng nhưng cạnh cong và góc tròn. - Đuôi cờ (scarftail/flagtail/dovetail): dạng đuôi cạnh thẳng, đuôi vuông vức hình chữ nhật hay xòe một góc dưới 30 độ. - Đuôi quạt (fantail): dạng đuôi cạnh thẳng, góc xòe dưới 55 độ. - Đuôi delta (delta/triangular): dạng đuôi cạnh thẳng, góc xòe 55-75 độ.
Cá bảy màu đuôi voan xuất hiện ở Mỹ vào khoảng giữa thế kỷ 20. Sau đó, nhà lai tạo Paul Hahnel phát triển thành các dòng bảy màu cạnh đuôi thẳng, bao gồm bảy màu đuôi cờ (flagtail), đuôi bồ câu (dovetail) và đuôi quạt (fantail) với góc xòe lớn hơn. Có lẽ ban đầu ông lai cá đuôi voan (veiltail) với cá đuôi khăn (scarftail) và tuyển chọn những cá thể mang đặc điểm của cả hai. Từ những năm 1960, các nhà lai tạo người Mỹ tiếp tục phát triển cá bảy màu cạnh đuôi thẳng thành dạng đuôi delta với góc xòe lên đến 55-75 độ. Đây là dạng đuôi của hầu hết cá bảy màu cảnh (fancy) ngày nay trên thế giới. Nhóm cá bảy màu vây lưng rộng (board dorsal) - Vây cao (hi-fin): vây lưng to và vuông vức. - Vây buồm (sailfin): vây lưng xòe to như cánh buồm
Đây là các biến thể phát triển từ dòng đuôi delta. Chúng được liệt vào danh sách thể loại trong bộ tiêu chuẩn của Hiệp hội Bảy màu Thế giới (WGA). Nhóm cá bảy màu vây dài (long fin) - Ribbon - Đuôi én (swallow)
Vây hậu môn ở cá bảy màu đực phát triển thành cơ quan sinh dục gọi là gonopodium. Đột biến ribbon/swallow khiến bộ phận này quá dài và không thể sử dụng để thụ tinh cho cá cái. Người ta thường lai bảy màu cái vây dài với bảy màu đực bình thường rồi lai tiếp cá thể đời F1 với nhau để thu cá vây dài. Với dòng ribbon, chúng ta sẽ thu được 50% cá ribbon vì ribbon là đặc điểm trội; trong khi với swallow, chúng ta thu được 18,75% cá swallow. Cách lai tạo nữa đòi hỏi kỹ năng thực hành đó là cắt ngắn gonopodium của bảy màu đực vây dài để chúng có thể thụ tinh cho cá cái. Các biến thể này được liệt vào danh sách thể loại trong bộ tiêu chuẩn của Hiệp hội Bảy màu Thế giới (WGA). Nhóm cá bảy màu đuôi tưa (merah/crowntail) Dạng vây với màng vây bị triệt thoái chỉ còn trơ lại tia vây. Biến thể này xuất hiện tại Nhật Bản vào năm 2005. Gien đuôi tưa có lẽ là gien bán trội (incompletely dominant) tức cá thể lai xa giữa merah với cá bình thường phần nào thể hiện kiểu hình “đuôi tưa”.
Nhóm đuôi cá bảy màu cái - Đuôi vỏ sò (scalloptail/superbra/metropolitan): cá cái của các dòng bảy màu đuôi rộng. - Đuôi nút chai (wedgetail): cá cái dòng đuôi delta hay đuôi quạt. - Đuôi thuổng (cofertail): cá cái dòng đuôi thuổng. - Đuôi tròn (roundtail): cá cái của các dòng bảy màu đuôi ngắn hoặc đuôi kiếm.
2. Các loại màu sắc và hoa văn của cá bảy màu Màu thân trên Xám: màu thông thường ở cá hoang dã. Màu này có tính trội so với tất cả các màu khác. Gold: đây là màu được tạo ra bởi gien hạn chế hắc sắc tố (melanin). Ở Mỹ, màu này được gọi là Blond.
Màu đồng (Bronze/Tiger): vảy có viền đen, thực chất là màu Gold với lớp hắc sắc tố bên dưới.
Bạch tạng (Albino): thân màu trắng vì khiếm khuyết sắc tố.
Mắt đỏ (Red Eye): có hai loại mắt đỏ ở cá bảy màu. Một loại màu đỏ sậm được gọi là mắt albino đỏ vang (Wine Red Eye Albino - WREA). Loại nữa màu hồng nhạt được gọi là mắt albino chính hiệu (Real Red Eye Albino - RREA).
Các loại màu ánh kim: Metallic: lớp ánh kim dày ở đầu/thân trên. Tông màu thay đổi tùy từng cá thể và điều kiện môi trường. Một số biến thể có lớp ánh kim bao phủ toàn bộ cơ thể chẳng hạn như Full Gold hay Full Green.
Platinum: lớp ánh kim trắng; bao gồm các dòng như Coral và Micariff. Trường hợp lớp ánh kim trắng phát triển toàn thân gọi là Full Platinum.
Coral
Micariff
Platinum Màu và hoa văn thân dưới Cobra (Snakeskin): dạng hoa văn ngoằn ngòe như con rắn ở phần thân dưới. Ở Mỹ đặc điểm này được gọi là da rắn (Snakeskin). Thể loại “Solid Snakeskin” (IFGA) là hoa văn dạng sợi liền lạc ở thân. Tuxedo (Half Black): toàn bộ thân dưới màu đen trông như đang mặc bộ tuxedo đen. Ở Mỹ đặc điểm này được gọi là Half Black. Một số dòng cá có tuxedo màu khác chẳng hạn như lục và hồng. Dòng tuxedo gốc màu đen do Eduard Schmidt Focke lai tạo.
Màu và hoa văn đuôi Đơn sắc (Solid): bao gồm những màu đơn sắc như đỏ, vàng, lục, tím, đen… Màu phải đều và không được lẫn tông lạ.
Viền Anh (/English Lace/English Leopard/Old Fashion Leopard): được phát triển bởi George Phillips từ đầu những năm 1950. English Lace được cho là nguồn gốc của tất cả các dạng hoa văn sau này. Từ “lace” ám chỉ viền đuôi nơi hoa văn không phát triển tới hay nhạt dần. Lace ngày nay là dạng hoa văn nhỏ và nhuyễn. Ở Mỹ, yêu cầu về thể loại “Variegated Snakeskin” (IFGA) là hoa văn dạng sợi liền lạc ở thân và đuôi. Cá được liệt vào thể loại này có kiểu hình kết hợp giữa English Lace” và Snakeskin/Cobra. Những cá thể như vậy có thể có nguồn gốc di truyền khác nhau. Da Báo (Leopard): dạng hoa văn với những đốm có kích thước trung bình trên nền vàng. Gạch khảm (Mosaic): dạng hoa văn với những đốm to và dính với nhau thành mảng. Dẫu Mosaic là tên do người Nhật đặt nhưng dòng này đã được phát triển từ những năm 1960 ở Đông Đức. Mosaic là kết quả lai xa giữa Tuxedo với cá hoang dã. Tương tự như Grass, cá cái dòng này có đuôi và vây lưng rất to. Đôi khi hoa văn phát triển lên đến thân dưới tương tự như Snakeskin nhưng Mosaic luôn có hắc sắc tố ở đuôi và thân. Hạt cỏ (Grass): dạng hoa văn được lai tạo ở Nhật Bản và là một biến thể của Mosaic với những đốm nhỏ li ti như hạt cỏ. Một số giả thuyết về nguồn gốc của dòng cá này: a) Vào những năm 1970, cá bảy màu Glass được nhập vào Nhật Bản từ Singapore. Một nhà lai tạo người Nhật lai xa Mosaic với Glass. Vào đầu những năm 1980, dòng Grass ra đời từ những cá thể lai ban đầu này. b) Mosaic có lẽ được nhập từ Đức vào những năm 1960. Do đó cá dòng Blue Grass trước đây không tạo ra Red Grass. c) Cũng vào đầu những năm 1980, người Nhật mua cá bảy màu mang gien Bb từ Singapore. Đấy là lý do tại sao dòng Blue Grass hiện nay cũng tạo ra Red Grass vì chúng có lẽ mang gien Bb. d) Một câu chuyện khác về nguồn gốc dòng Grass. Một nhà lai tạo người Nhật lai cận huyết Tuxedo Mosaic qua 25 thế hệ trong vòng 10 năm thì vô tình tạo ra bảy màu Grass. Các biến thể Grass gồm: Blue Grass được Yutaka Kishima tạo ra bằng cách lai xa với Neon Blue, Red Grass được tạo ra bằng cách lai xa với Red Mosaic, Yellow Grass được tạo ra bằng cách lai xa với Leopard, và một biến thể rất phổ biến khác là Full Metal Blue Grass (lai xa Blue Grass với Moscow). Ngoài ra còn có một biến thể màu gold nhờ được bổ sung gien ánh kim mà người Nhật gọi là Tiger. Khi lai tạo dòng Grass, điều quan trọng là phải lựa chọn cá thể có đặc điểm Grass ở cả đuôi và vây lưng.
Leopard
Variegated Snakeskin (Lace/Cobra/Snakeskin)
Mosaic
Grass Galaxy: là dạng hoa văn với lớp ánh kim dày. Nhà lai tạo người Nhật Hoshiki Tsutsui phát triển dòng này từ những năm 1990 bằng cách lai xa Snakeskin với Platinum. Có 3 đặc điểm mà một con bảy màu Galaxy chính hiệu phải có: a) lớp ánh kim dày, đặc biệt ở vây lưng và đuôi; b) sọc đứng ở thân dưới và c) đốm đen hình miếng bịt mắt của cướp biển (bandit mark) ở thân trên, gần đầu.
Medusa: các nhà lai tạo Nhật Bản khác phát triển một biến thể tương tự với Galaxy nhưng có tông đỏ trên đuôi là Medusa. Theo Tsutsui, Medusa rất giống với Galaxy thời kỳ đầu. Nguồn: Sưu tầm kỹ thuật nuôi cá bảy màu trên internet ( Cá bảy màu - Thiên Đường Cá Cảnh ) Chuyên cung cấp cá cảnh, thiết bị, phụ kiện, máy móc trên toàn quốcMr.Lân 0988 347 508
Thiên Đường Cá Cảnh chuyên cung cấp cá cảnh, thức ăn, thiết bị, phụ kiện..... ĐC: 60 Đặng Văn Bi, P.Bình Thọ, Q.Thủ Đức, HCM Thức ăn cho cá chép koi - Vật liệu lọc nước hồ cáChuyên bán cá chép koi - Xem chi tiết: Cách làm bộ lọc hồ cá koi Trần Văn Tuấn
Thành Viên Chủ Chốt
woah ảnh cá dep quáTrần Văn Tuấn
Thành Viên Chủ Chốt
bài viết này bo ích thậtARONAWA
Thành Viên Tích Cực
HAYYYYY!!!!!!!!!!!!!!!khanhtrn
Thành Viên Chính Thức
nhà mình có một số con ko giống trên này mọi người có biết lí do ko ạkDang Huu Duc
Thành Viên Mới
con duoi song kiem gia khoang bao nhieu 1 con z anhjonhny10
Thành Viên Chính Thức
hi mình có 7 màu đuôi hạt cỏcá sấu hỏa tiễn
Thành Viên Chính Thức
đuôi cờ á cá sấu hỏa tiễn loài cá săn mồi hạng nhấtjonhny10
Thành Viên Chính Thức
grass hoặc leopard đócá sấu hỏa tiễn
Thành Viên Chính Thức
đuôi chấm chấm á cá sấu hỏa tiễn loài cá săn mồi hạng nhấtjonhny10
Thành Viên Chính Thức
ừcá sấu hỏa tiễn
Thành Viên Chính Thức
chúc cá bạn khỏe mạnh nhé cá sấu hỏa tiễn loài cá săn mồi hạng nhấtBạn cần biết
Nội Quy Mua Bán Cần tuyển mod
Trụ Sở Chính ( Kho Hàng Sỉ ):Cung cấp tổng hợp đầy đủ các loại cá cảnh và phụ kiện. 60 Đặng Văn Bi, Thủ Đức, HCM 0988 347 508 Mr.Lân
Quảng Cáo
Từ khóa » Cá Bảy Màu Albino Là Gì
-
Cá Bảy Màu Mắt đỏ: Đặc điểm, Sinh Sản, Chăm Sóc - GUPPY CITY
-
Top #10 Cá Bảy Màu Albino Là Gì Xem Nhiều ...
-
Giới Thiệu Các Chủng Loại Cá Bảy Màu đẹp Nhất Trên Thị Trường
-
Albino Koi Guppy - Phiên Bản Cá Chép Koi Thu Nhỏ Vô Cùng Thu Hút
-
Các Biến Thể Cá Bảy Màu - Màu Sắc Và Hoa Văn - Guppy Nhật Minh
-
Top #10 Cá Bảy Màu Albino Là Gì Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 7 ...
-
Có Bao Nhiêu Loại Cá Bảy Màu? Cách Phân Biệt Chính Xác Nhất
-
CÁCH PHÂN BIỆT VÀ NHẬN BIẾT CÁC DÒNG BẢY MÀU - Mayaqua
-
Hỏi Về Cá Bảy Màu Albino | Diễn Đàn Cá Cảnh
-
Cá Bảy Màu Sỉ & Lẻ – Cá 7 Màu Thuần Chủng – # Top View
-
Top 55 Cá Bảy Màu Được Săn Lùng Nhiều Nhất
-
Cá Bảy Màu Giá Bao Nhiêu? Ăn Gì? Có Mấy Loại? Mua ở đâu?
-
Các Loại Cá Bảy Màu Nổi Tiếng Vì đẹp - Yêu Thú Cưng