Phan Bội Châu Với Bản Thỏa Hiệp Pháp-Việt đề Huề (2 - Giao Blog
Có thể bạn quan tâm
III. VẤN ĐỀ PHAN BỘI CHÂU VỚI CHỦ TRƯƠNG PHÁP-VIỆT ĐỀ HUỀ
Đúng là sau gần hai chục năm tiến hành công cuộc cứu nước theo đường lối bạo đồng mà không đưa lại kết quả gì, nhất là trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, lúc đầu cứ tưởng là Pháp sẽ bại trận, nên có ý dựa Đức hất Pháp ở Đông dương rồi sau sẽ tính, nhưng rút cục thì Pháp lại thắng trận. Trong bối cảnh đó, Phan Bội Châu, cũng lại tương kế tựu kế, đã chuyển sang chủ trương đề huề với thực dân Pháp, qua luận văn "Pháp Việt đề huề chính kiến thư" (1918). Và thực tế, thực dân Pháp đã không thực hiện đề huề với Phan. Cho nên, Phan lại muốn trở lại con đường bạo động. Có thể nói là sau 1918 cho đến ngày bị bắt giải về nước (1925) Phan Bội Châu đã rơi vào tình trạng chao đảo giữa hai con đường bạo động và đề huề cải lương. Còn sau ngày về sống cuộc đời ông già Bến Ngự thì với Phan đã không thể nào khác, lấy chủ trương đề huề làm chủ đạo. Sự thật là vậy. Vấn đề là đánh giá sự thật này như thế nào cho thoả đáng, cho có lý lẽ. Thực tế là trong hơn nửa thế kỷ qua, với các học giả mác xít, chẳng đã coi đó là một sai lầm lớn nhất trong cuộc đời cách mạng của nhà chí sĩ họ Phan quê xứ Nghệ đó sao? Nhưng đây đã là tiếng nói cuối cùng rồi ư? E chưa. Tôi xin được nói lại theo nhận thức của mình như sau:
1. Chuyện đánh giá chủ trương Pháp Việt đề huề này rõ ràng có sự chi phối trực tiếp của đường lối cách mạng lấy phương thức bạo động làm độc đạo vốn có của một thời mà tầm mắt của chúng ta chỉ cho phép như thế. Còn hôm nay, một khi tầm mắt đã có mở rộng thì cách nhìn, cách nghĩ lại có thể khác. Khác bởi thấy để đi đến độc lập, trên trái đất này, có nơi đã không nhất thiết theo con đường bạo động mà thiên về cải cách ôn hoà. Trong thực tế sinh động đa dạng đó, chuyện được mất là gì? Hẳn là mỗi một người chúng ta sẽ có lời kết luận cho riêng mình, một khi tư duy cá thể đang cần được trỗi dậy.
2. Riêng về việc hiểu nội dung chủ trương đề huề của Phan Bội Châu trong thực tế cũng có vấn đề cần được nói lại. Thực tế là có hiện tượng đơn giản hoá nội dung, cũng có thể nói là ít nhiều cố tình không hiểu đúng thực chất của nội dung đề huề đó là gì? cụ thể là:
a. Cho rằng Phan Bội Châu sau 1918 chỉ còn lại là chủ trương đề huề với thực dân Pháp, có nghĩa là từ bỏ con đường cách mạng. Trong khi, như trên đã nói ở Phan là có sự chao đảo giữa hai con đường đề huề và bạo động. Về khuynh hướng bạo động, cứ đọc lại luận văn "Thiên hồ, đế hồ" của Cụ viết năm 1923, đáng được ghép đôi với "Bản án chế độ thực dân Pháp" của Nguyễn Ái Quốc viết năm 1925, để coi đó là hai bản án buộc tội kẻ thù thực dân Pháp sắc sảo nhất, tập trung nhất trong văn chương chính luận của văn học chống Pháp trước 1945; cứ tìm hiểu kỹ vào nội dung văn chương khác của Phan Bội Châu với nhiều thể loại trong đó có thể loại liệt truyện về các chí sĩ chống Pháp, về Lê-nin (vị tổ sư của cách mạng vũ trang của thế giới)… thì không thể nói là sau khi có "Pháp Việt đề huề chính kiến thư", Phan Bội Châu đã đoạn tuyệt hẳn với tư tưởng bạo động. Với Phan Bội Châu, làm cách mạng, tiến hành công cuộc cứu nước như đã nói là phải tương kế tựu kế, phải dùng nhiều phép thử – thử cái này không được, thử sang cái khác, cái khác không được lại thử lại cái này. Tôi nghĩ đó là điều cần thiết của nhà cách mạng trước sự nghiệp cứu nước vốn là vô cùng khó khăn. Cái gọi là kiên định lập trường cần có là lòng quyết tâm cứu nước đến cùng, chứ không phải ở thủ đoạn cách mạng. Phải chăng chân lý là vậy.
b. Qua các văn bản trực tiếp nêu lên chủ trương đề huề của Phan Bội Châu, người đọc không bị định kiến phiến diện sẽ thấy rõ: Trong khi chủ trương đề huề, Phan Bội Châu đã tự coi đó là một bước tiến trên con đường cứu nước của mình là "bỏ cái chủ nghĩa cũ kỹ, dã man cách mạng mà mưu toan chủ nghĩa mới mẻ văn minh cách mạng", coi đường lối bạo động trước đó mình đã đi "chính là bậc thang, chặng đường cho người làm cách mạng tất phải đi qua vậy" (Dư cửu niên lai sở trì chi chủ nghĩa – 1921). Riêng về chủ trương đề huề thì Phan đã nói rất rõ: có đề huề thật và đề huề giả. Đề huề mà Phan Bội Châu chủ trương phải là đề huề thật để hai bên cùng có lợi. Thực tế, Phan đã nhận rõ thực dân Pháp không chịu đề huề thật. Và như thế thì Phan lại tiếp tục chống Pháp, chứ không chịu để đất nước phải sống trong cảnh đề huề giả. Đọc lại đoạn văn sau đây thì rõ tư tưởng đề huề của Cụ thực chất là thế nào:
"Cái hoàn cảnh của tôi bây giờ tuy khác trước nhưng tấm lòng ái quốc của tôi thì trước sau cũng như một. Cái chủ nghĩa Pháp – Việt đề huề là cái chủ nghĩa tôi đề xướng từ mười năm nay, chứ không phải về đây vì được khỏi chết mà đề xướng. Tôi định đề huề là đề huề với cái Chính phủ khai hoá cho dân Việt Nam chứ không đề huề với cái Chính phủ áp bức dân Việt Nam…Tôi lại xin có một lời kính trình với Chính phủ bảo hộ rằng: Tôi lâu nay đã đành bỏ cái chủ nghĩa phản kháng mà xướng cái chủ nghĩa đề huề thì tâm sự tôi thế nào Chính phủ cũng đã biết, nếu Chính phủ định áp chế dân Việt Nam, thì tưởng nên lấy thế lực của Chính phủ mà thi hành đi, không cần lợi dụng cái chính sách đề huề của tôi làm gì. Nếu Chính phủ nghĩ rằng Pháp – Việt đề huề là có lợi cho dân hai nước thì Chính phủ thi hành cái lối đề huề thật cho dân tộc Việt Nam dễ theo, mà đến khi tôi hành động về chủ nghĩa ấy cho khỏi mang tiếng người ta trách là tôi bị lừa, và Chính phủ đang lừa dân Việt Nam. Tôi lại xin Chính phủ nên nhận cho cái chủ nghĩa đề huề là phải thì nên thi hành sự đề huề thật cho tôi được trông thấy. Ấy là Chính phủ và quốc dân có ơn tác thành cho tôi còn hơn là cái ơn lấy công lý mà tha tôi khỏi chết và yêu cầu cho tôi được tha vậy" ("Lời tuyên ngôn thông cáo cả toàn quốc" – Trung Bắc tân văn – Phụ trương ngày 14/1/1926).
Tiếc là những người từng lên án gay gắt chủ trương Pháp-Việt đề huề của Phan Bội Châu đã không nhìn kỹ vào thực chất chủ trương này của Cụ là gì, trong khi đã đơn giản hoá nó để phê phán. Cũng tiếc là các vị gần đây đã dựa vào ý kiến của Cụ Phan xứ Quảng về Cụ Phan xứ Nghệ nói trong một thời điểm nhất định, chưa có điều kiện theo dõi hết lộ trình cứu nước của Cụ Phan xứ Nghệ, trong đó có chiều hướng càng ngày càng xích gần với mình, để từ đó ít nhiều hạ thấp Cụ Phan xứ Nghệ mà trên đây đã nói tới. Kể ra ở đời, hiểu nhau cho thấu đáo cũng là khó, ngay cả với các vĩ nhân.
3. Quả thật chung quanh vấn đề bạo động hay cải lương, đề huề, việc nhận thức của người đời thời nay là không dễ gì thống nhất trong hoàn cảnh đất nước đã đổi mới, ý thức dân chủ trong đó có sự phát triển của tư duy cá thể (hiểu theo nghĩa chân chính). Người nghĩ thế này. Người nghĩ thế khác. Giữa chính thống và phi chính thống ít nhiều cũng có sự khác nhau. Vấn đề là phải tìm thêm một cách hiểu sao cho có sức thuyết phục hơn, có lý lẽ hơn. Tôi xin thử đưa ra một cách hiểu thế này để xin ý kiến của các bậc cao minh cao kiến xem sao nhé. Theo tôi, cuộc sống của một dân tộc, để tồn tại và phát triển, không chỉ có một quy luật là độc lập (l'indépen dance) mà còn có một quy luật nữa là sự phụ thuộc lẫn nhau (l' interdépendance), không kể còn nhiều quy luật khác. Những gì đang diễn ra trên đất nước ta hôm nay ở mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, ngoại giao, quân sự đã thể hiện hai quy luật đó một cách rõ ràng mà ai cũng đã thấy, mặc dù trong quá khứ, hai quy luật đó ít nhiều cũng đã diễn ra. Tuy nhiên, trong nhận thức thì có thể nói là trước đây, đặc biệt là trong thời kỳ chiến tranh hầu như chúng ta chỉ nhận thức về quy luật thứ nhất mà bỏ qua quy luật thứ hai. Trở lại với lịch sử nước nhà từ ngày bị thực dân Pháp xâm lược thì thấy rõ rằng: các thế hệ người Việt Nam ưu tú nhất ở nửa sau thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, từ 1930 đến 1945, chưa kể từ 1945 đến 1975 đã với lòng yêu nước cao cả, chí căm thù giặc mãnh liệt, anh dũng lãnh đạo nhân dân quyết chiến với kẻ thù để giành độc lập, mà lịch sử đã, đang và sẽ muôn đời ngợi ca, dù đã phải trải qua nhiều thất bại mới đi đến thắng lợi. Bên cạnh đó, lại có một số người Việt Nam, không nhiều, đã đáng coi là ưu tú hay chưa, xin tuỳ, nhưng thực tế họ đã không đi theo quy luật giành độc lập dân tộc bằng vũ trang chiến đấu, mà đã đi theo quy luật interdépendant (phụ thuộc lẫn nhau), tạm chấp nhận sự đô hộ của ngoại bang, nhưng vừa hết lòng vừa bằng tài năng trí tuệ ưu việt của mình, tìm mọi cách khai thác, tận dụng những điều khả thủ từ chính phía kẻ thù vốn có nền văn minh hiện đại, cao hơn hẳn trình độ nước nhà, để từ đó tạo ra những thành quả có lợi lớn cho đất nước trong muôn đời. Tôi cho rằng: Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh là những người như thế và muốn nói gì thì nói, thực tế, họ đã là những người tiên phong trong công cuộc hiện đại hoá văn hoá Việt Nam . Ngày nay và cả mai sau, người Việt Nam vẫn viết văn xuôi tiếng Việt, vẫn đọc báo chí, vẫn tra từ điển… chả lẽ không biết ai là người đặt móng xây nền ư! Chỉ thương cho họ là đã trở thành giây co cho người đời lôi kéo. Người khen cũng lắm, mà người chửi cũng nhiều. Nhưng theo dõi tình hình thì xem ra thời gian đang ủng hộ họ. Đó là trên phương diện văn hoá với quy luật phụ thuộc lẫn nhau. Còn trên phương diện chính trị xã hội thì Phan Châu Trinh, chính là người muốn đi theo quy luật interdépendant này bằng cách: tạm dựa vào Pháp để cải cách, duy tân, đưa đất nước lên phú cường, từ đó mà nhe nhắm vấn đề chủ quyền độc lập. Đó là điều mà với các ông Nguyễn Phan Long, Bùi Quang Chiều thì tôi chưa dám nói chắc là gì, nhưng với Phan Châu Trinh thì đã quá rõ. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng: ý tưởng thì cao đẹp như thế, nhưng thực tế thì chính cụ Phan xứ Quảng cũng đã tự nhận trong "Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam" là "chủ nghĩa của tôi tương phản với đặc tính và trình độ của quốc dân, lại nhằm vào chỗ yếu mà cứu và vì ở trong nước nên bị các thế lực chèn ép và nghi kỵ, tập trung vào các hoạt động và ngôn luận đều không được tự do nên người theo cũng khó, do đó chủ nghĩa của tôi tất bại"(6). Mặc dù đã để lại những âm vang tinh thần rất đáng trân trọng. Câu thơ trong "Bài văn tế Phan Châu Trinh" của Phan Bội Châu đã ghi nhận điều đó: "Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, của dân chủ, khêu đèn thêm sáng chói". Đây không chỉ là âm vang một thời mà còn là mãi mãi.
Tất cả những gì được trình bày trên đây, chính là nhằm lý giải hiện tượng Phan Bội Châu từ bỏ bạo động để chủ trương Pháp Việt đề huề trong trạng thái vừa chao đảo, vừa dứt khoát như trên đã nói. Và tôi muốn kết luận rằng: chuyện đề huề của Cụ Phan là chuyện nằm trong sự phức tạp của đời sống chính trị xã hội như thế. Không thể lấy cái đơn giản, phiến diện trong nhận thức mà lên án Cụ một cách nặng nề như từng có. Để rõ thêm vấn đề, tôi xin phép được nói thêm rằng: ngay ở Hồ Chí Minh, vốn là vị lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc bằng đường lối vũ trang bạo động và thắng lợi vẻ vang thì cũng không hề cứng nhắc, cực đoan, chủ trương bạo động. Không phải không có lúc Người đã có chủ trương thuộc về quy luật phụ thuộc lẫn nhau để rồi bị kẻ thù của mình bù lu bù loa, cho là người bán nước, nhưng nhân dân, lịch sử thì lại biểu dương, ngợi ca là thiên tài chính trị. Đó là việc Người ký Hiệp ước 6/3 và Hiệp ước Phông-ten-bờ-lô (1946) tạm chấp nhận Việt Nam đứng trong Liên hiệp Pháp. Vậy sao không lấy chuyện Cụ Hồ để nghĩ về Cụ Phan
Yên Hoà thư trai, 2007
___________________
(1) Nguyễn Ái Quốc: "Những trò lố hay Varen và Phan Bội Châu" (1925).
(2) Tại Bảo tàng cách mạng Việt Nam (Hà Nội), lúc đầu, ở gian truyền thống treo ảnh Phan Bội Châu trên hết. Còn Phan Châu Trinh là ở hàng dưới cùng các chí sĩ khác. Hồ Chủ tịch đến thăm quan Bảo tàng đã chỉ thị: đưa ảnh cụ Phan Châu Trinh lên cùng hàng đầu với cụ Phan Bội Châu.
(3) Vĩnh Sính: Hành trình dân tộc trong thế kỷ XX – thử nhìn lại vị trí của Phan Bội Châu. Diễn đàn ( Paris ), số 89-10/1999.
– Thử tìm hiểu ý nghĩa tác phẩm "Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam ", trong sách Phan Chu Trinh – về tác gia và tác phẩm. Nxb. Giáo dục, H, 2007.
– Nguyên Ngọc: "Tính cập nhật kỳ lạ của một tư tưởng lớn". Tạp chí Tia sáng, số 5-2005, v.v…
(4) Lời dịch của Nguyễn Văn Dương được in lại trong Phan Châu Trinh toàn tập, Tập III (Chương Thâu biên soạn). Nxb. Đà Nẵng, 2005, tr.66-68.
(5) Mạnh Đức Tư Cưu: Montesquieu (1689-1755), Lư Thoa: J. J. Rouseau (1712-1778), hai nhà tư tưởng lớn của nước Pháp, từng có ảnh hưởng tới các sĩ phu yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX.
(6) Theo sách Phan Chu Trinh – về tác gia và tác phẩm. Nxb. Giáo dục, 2007, H, tr.458.
Tạp chí nghiên cứu văn học số 4.2008
Từ khóa » Pháp Việt đề Huề
-
Pháp-Việt Đề Huề – Wikipedia Tiếng Việt
-
Từ điển Tiếng Việt "pháp - Việt đề Huề" - Là Gì?
-
Pháp-Việt Đề Huề – Du Học Trung Quốc 2022 - Wiki Tiếng Việt
-
Thế Nào Là Chủ Trương”Pháp - Việt đề Huề”? Thế Nào Là Ngoại Lai Nơ ...
-
Tư Pháp Việt đề Huề đi Tới Con đường Việt Nam Tự Trị. Chúng Ta ...
-
Pháp-Việt Đề Huề – China Wiki 2022 - Tiếng Việt
-
Pháp Việt đề Huề Chính Kiến Thư 法越提携正見書 - Chữ Nôm
-
Pháp Việt đề Huề, Của... - Nhà Sách Cũ - MAH's Rare Books | Facebook
-
Pháp Việt đề Huề - Lại Nguyên Ân
-
Pháp Việt đề Huề Chính Kiến Thư
-
Pháp-Việt Đề Huề - Unionpedia