Phân Lớp Hoa Hồng (Rosidae)
Có thể bạn quan tâm
Quất thực
Tên khoa học:Citrus sp. Blanco
Họ:Cam (Rutaceae)
Mẫu thu hái tại:Tuy Hòa-Phú Yên, ngày 01 tháng 06 năm 2009
Số hiệu mẫu:Q 0609
Cây nhỡ [hình 1], cao khoảng 3 m. Cành cứng, tiết diện gần tròn, dai, nhẵn, thỉnh thoảng có gai nhọn dài khoảng 8 mm. Lá mọc so le, hình xoan, dài 7-10 cm, rộng 3,5- 4,5 cm, gốc thuôn, đầu tù hoặc có khuyết lõm. Bìa lá nguyên ở nửa dưới, có khía cạn ở nửa trên, mặt trên nhẵn bóng, khoảng 6-7 gân phụ rõ ở mặt dưới, thịt lá có nhiều đốm nhỏ nhìn rõ qua ánh sáng. Cuống lá khoảng 1-1,5 cm, có cánh khá ngắn. Quả [hình 2] gần hình cầu, dẹt, kích thước khoảng 6x8 cm, vỏ quả mỏng và đáy quả [hình 3] hơi lõm xuống, khi non màu xanh bóng, chín màu vàng sẫm, vỏ quả [hình 4] có nhiều đốm tròn nhỏ (do sự có mặt của túi tiết rất lớn), cơm quả ngọt, chua và thơm. Thời điểm thu hái cây không có hoa do đó chúng tôi chưa xác định được loài.
Hoa thức và Hoa đồ:Tiêu bản:
Thân [hình 5] gần tròn. Biểu bì là các tế bào hình chữ nhật nhỏ kích thước đều nhau, rải rác có các lỗ khí [hình 6], cutin dày. Mô mềm vỏ khuyết, tế bào hình cầu hoặc hình bầu dục, vách mỏng, chứa nhiều túi tiết tiêu ly bào rất lớn. Giữa mô mềm vỏ có khoảng 4-5 lớp mô dày góc. Vòng trụ bì hoá mô cứng gần như liên tục. Libe 1 bị ép sát trụ bì, mạch gỗ 2 nhiều, rải rác; nhiều bó gỗ 1 phân hóa ly tâm, vùng mô mềm xung quanh gỗ 1 vách vẫn còn cellulose. Mô mềm tủy đạo, vách dày, tẩm chất gỗ. Tinh thể calci oxalat hình khối ít gặp trong mô mềm vỏ, vùng gỗ nhưng khá nhiều trong libe 2. Cuống lá [hình 7] có 2 cánh khá ngắn, mặt dưới lồi nhiều hơn mặt trên. Tế bào biểu bì hình bầu dục hoặc chữ nhật nhỏ dẹp, cutin rất dày. Rải rác trong biểu bì có các tế bào phình to hơn các tế bào lân cận chứa tinh thể calci oxalat hình khối [hình 8]. Dưới biểu bì là mô mềm vỏ khuyết, các tế bào gần biểu bì có vách mỏng hơn các tế bào gần trụ bì. Nhiều túi tiết tiêu ly bào lớn nằm trong vùng vỏ. 3-5 lớp tế bào trụ bì hóa mô cứng gần như liên tục. Hệ thống dẫn thành vòng liên tục, tương tự ở thân. Mô mềm tủy đạo, vách vẫn còn cellulose hoặc hóa mô cứng một phần. Nhiều tinh thể calci oxalat hình khối lớn nằm trong vùng vỏ và tinh thể hình khối nhỏ nằm trong libe 2. Lá [hình 9]: Gân giữa có hai mặt đều lồi. Tế bào biểu bì hình bầu dục hoặc chữ nhật nhỏ dẹp, cutin rất dày. Một số tế bào biểu bì phình to chứa tinh thể calci oxalat hình khối. Mô dày ở phía trên biểu bì dưới. Mô mềm vỏ khuyết, vách khá dày. Vòng trụ bì hóa mô cứng gần như liên tục. Hệ thống dẫn tạo thành vòng liên tục. Mô mềm tủy khuyết gồm những tế bào hình tròn thường bị tẩm chất gỗ. Túi tiết tiêu ly bào to nằm trong vùng vỏ và tinh thể calci oxalat hình khối có nhiều trong libe và vùng vỏ. Phiến lá [hình 10]: Mô mềm giậu khoảng 2 lớp tế bào; mô mềm khuyết nhiều, có khuyết to. Tinh thể calci oxalat ở biểu bì trên nhiều hơn biểu bì dưới. Biểu bì lá [hình 11]: Biểu bì trên là những tế bào đa giác nhỏ, ít có lỗ khí. Biểu bì dưới tế bào uốn lượn hơn, nhiều lỗ khí kiểu hỗn bào. Vỏ quả [hình 12]: Tế bào biểu bì [hình 13] nhỏ, hình vuông, cutin rất dày, lỗ khí rải rác. Mô mềm vỏ quả giữa là những tế bào hình chữ nhật, vách mỏng. Rải rác có các tinh thể calci oxalat hình khối, túi tiết tinh dầu to tròn hay hình bầu dục với các tế bào xung quanh bị ép dẹp nên vách tế bào hơi dày. Bó libe-gỗ rất ít. Vỏ quả giữa cấu tạo bởi những tế bào hơi uốn lượn.
Đặc điểm bột dược liệu:Bột vỏ quả [hình 14] màu nâu vàng, mùi thơm. Thành phần gồm: mảnh tế bào vỏ quả ngoài tế bào hình đa giác, màu vàng, vách hơi dày; mảnh mô mềm [hình 15] tế bào hình chữ nhật, vách mỏng; mảnh mạch vòng [hình 16], mạch xoắn; tinh thể calci oxalat [hình 17] hình khối nằm riêng rẽ hoặc trong tế bào.
Phân bố, sinh học và sinh thái:Mùa hoa, quả: tháng 7-12.
Bộ phận dùng:Vỏ quả (Pericarpium Citri reticulatae). Trần bì: vỏ quả chín đã phơi hoặc sấy khô và để lâu năm, thanh bì: vỏ quả xanh, quất hồng: vỏ ngoài của quả. Nhiều loài khác như quýt giấy, quýt tàu, quýt hôi và vỏ cam cũng được dùng. Vỏ quả sau khi sấy khô cuốn lại hoặc quăn, dày 1-1,5 mm, có mảnh còn vết tích của cuống quả. Mặt ngoài màu vàng nâu hay nâu nhạt, có nhiều chấm màu sẫm hơn và lõm xuống (túi tiết). Mặt trong xốp, màu trắng ngà hoặc hồng nhạt, thường lộn ra ngoài. Vỏ nhẹ, giòn, dễ bẻ gãy. Mùi thơm, vị hơi đắng, cay.
Thu hái và chế biến:Từ mùa đông năm trước đến mùa xuân năm sau, hái quả chín, bóc lấy vỏ phơi hay sấy nhẹ đến khô.
Thành phần hóa học:Vỏ quả chứa tinh dầu thành phần chủ yếu là d. limonen 91% và các terpen, caren linalool, anthranilat methyl lượng nhỏ hơn. Quả chứa 87,8% nước, 0,9% protein, 20,6 hydrat carbon, 0,3 chất béo (cao chiết bằng erther), 0,4% chất vô cơ gồm: Ca 0,05 mg%;P 0,02 mg%, Fe 0,01%, caroten 350 UI ,vitamin B1 40 UI % và vitamin C 68 mg%, phenyl propanoid glucoisid, terpenoid glucosid, limonoid glucosid và adnosin, trong đó chất citrusin A có tác dụng hạ áp.
Tác dụng dược lý - Công dụng:Quả Quýt được dùng để ăn khi chín. Dịch ép từ múi pha với nước và sirô là một loại giải khát thông dụng mát bổ dễ tiêu. Trong y học cổ truyền, trần bì là một vi thuốc thông dụng đối với nam giới. Trần bì chữa ăn không tiêu, đau bụng nôn mửa, ho tức ngực nhiều đờm. Có thể dùng phối hợp với các vị thuốc khác. Thanh bì chữa đau gan tức ngực, đau mạng sườn, sốt rét với liều dùng 3-9 g/ngày. * Bài thuốc có Quýt 1) Chữa ho mất tiếng: Trần bì 12 g sắc với 200 ml nước, còn 50 ml, thêm đường đủ ngọt, uống dần trong ngày. 2) Chữa ho đờm nhiều, đờm đặc, tức ngực: Trần bì, bán hạ (chế) mỗi vị 6g, phục linh 12 g, cam thảo 3 g. Sắc nước uống.
Hình đính kèm Hình 1:Khế chua, Ngũ liêm tử, Mạy phường (Tày), Co mác phương (Thái).
Tên khoa học:Averrhoa carambola L.
Họ:Chua me đất (Oxalidaceae)
Tên nước ngoài:Carambola apple, Coromandel goose-berry (Anh), Carambolier (Pháp)
Mẫu thu hái tại:Ký túc xá Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh tháng 04/2010.
Số hiệu mẫu:K0410, được lưu tại Bộ môn Thực vật-Khoa Dược
Cây gỗ nhỏ, cao 3-5 m, tiết diện tròn. Thân non màu xanh, có nhiều lông ngắn màu trắng. Thân già màu nâu, có nhiều nốt sần và có ít lông như thân non. Lá [hình 1] mọc cách, kép lông chim 1 lần lẻ, 9-11 lá chét, to dần từ dưới lên trên. Lá chét mọc so le, hình bầu dục 2 đầu nhọn, phiến hơi lệch, bìa nguyên, dài 8-8,5 cm, rộng 3-3,5 cm, mặt trên màu xanh đậm hơn mặt dưới. Gân lá hình lông chim với 11 cặp gân phụ. Cuống lá chính dài 2-3 cm, tiết diện hơi đa giác, màu xanh, đáy cuống phình to và có màu đỏ; cuống lá chét có tiết diện hình bầu dục, dài 1,5-2 mm. Trên cuống lá chính, cuống lá chét, bìa phiến và gân lá có nhiều lông. Cụm hoa [hình 2] dạng chùm xim, mọc ở nách lá hay ngọn cành. Trục cụm hoa hình trụ, màu đỏ, có nhiều lông, dài 4-10 cm. Hoa [hình 3] đều, lưỡng tính, mẫu 5. Cuống hoa dài khoảng 0,3 cm, tiết diện tròn, màu đỏ, có ít lông, có khớp cách đài hoa khoảng 0,1 cm. Lá bắc và lá bắc con hình tam giác nhỏ, màu xanh ở hoa non, màu đỏ nhạt ở hoa già có nhiều lông dài màu trắng. Lá đài 5, đều, dính một ít ở đáy, hình bầu dục hẹp, màu đỏ, cao khoảng ½ cánh hoa, có gân, tồn tại, tiền khai năm điểm. Cánh hoa 5, đều, rời. Mỗi cánh hoa có 2 phần: phần móng ngắn 0,1 cm, màu trắng; phần phiến hình bầu dục có màu hồng tím nhạt ở mặt ngoài, mặt trong đậm màu hơn và có rất nhiều chấm tím đậm, cánh hoa cao 0,6-0,8 cm, rộng 0,3 cm. Tiền khai cánh hoa lợp, 5 điểm, vặn cùng hay ngược chiều kim đồng hồ. Nhị [hình 4] 10, không đều, hơi dính nhau ở đáy chỉ nhị, xếp trên 2 vòng; 5 nhị lép ngắn hơn, ở vòng ngoài, không có bao phấn, đối diện cánh hoa; 5 nhị thụ ở vòng trong xen kẽ cánh hoa, chỉ nhị hình sợi hơi phình ở gốc, màu xanh, dài 0,1 cm. Bao phấn hình bầu dục, màu trắng, cao 0,3 cm, 2 ô, nứt dọc, hướng trong, đính đáy. Hạt phấn [hình 5] rời, hình bầu dục, màu vàng nhạt, có rãnh dọc, kích thước 25 x 20 µm. Lá noãn [hình 6] 5, trước mặt cánh hoa, bầu trên 5 ô, mỗi ô 4 noãn, đính noãn trung trụ. Bầu noãn có 5 khía dọc, cao 1,5 mm, màu xanh và có nhiều lông. 5 vòi nhụy rời, hình sợi, màu xanh, dài 1,4 mm đính ở đỉnh bầu. 5 đầu nhụy dạng điểm. Quả [hình 7] mọng, tiết diện hình ngôi sao 5 cánh, dài 8-10 cm, rộng 6-7 cm, khi non màu xanh lục nhạt, khi già màu vàng. Hạt [hình 8] hình bầu dục hai đầu nhọn, màu vàng nâu, kích thước 1 x 0,3 cm, bên ngoài hạt có lớp áo hạt nhớt màu trắng ngà.
Hoa thức và Hoa đồ:

Tiêu bản:
Thân: Vi phẫu thân non hơi đa giác, vi phẫu thân [hình 9] già gần tròn. Biểu bì ở thân non, 1 lớp tế bào hình chữ nhật, lớp cutin mỏng, nhiều lông che chở đơn bào. Bần ở thân già, 2 lớp tế bào hình chữ nhật, vách dày, xếp xuyên tâm, rải rác có lỗ vỏ, vài chỗ còn lớp biểu bì với ít lông che chở đơn bào. Lục bì 1-2 lớp tế bào hình chữ nhật, xếp xuyên tâm với tế bào bần. Mô mềm vỏ đạo, 8 lớp tế bào hình bầu dục nằm ngang hay đa giác. Trụ bì hóa sợi từng cụm tạo thành 1 vòng gần như liên tục, 2-3 lớp tế bào, giữa các cụm sợi trụ bì có những tế bào mô cứng kích thước to. Libe 1 ngay dưới cụm sợi trụ bì, tế bào đa giác nhỏ, vách uốn lượn. Libe 2 nhiều lớp tế bào hình chữ nhật, các lớp sát gỗ 2 xếp xuyên tâm rõ, một số tế bào libe 2 hóa sợi thành từng cụm rải rác. Mạch gỗ 2 tế bào hình đa giác, kích thước khác nhau, xếp lộn xộn đôi khi xếp thành dãy. Mô mềm gỗ 2, tế bào hình đa giác, vách tẩm chất gỗ, xếp xuyên tâm. Gỗ 1 phân hóa ly tâm, phân bố thành từng cụm, mỗi cụm có 1-9 bó, mạch gỗ 1 tròn. Mô mềm gỗ 1 tế bào nhỏ hình đa giác, vách cellulose. Tia tủy gồm 1-2 dãy tế bào đa giác thuôn hẹp. Mô mềm tủy đạo, vách tẩm chất gỗ, 2-3 lớp ngay dưới gỗ 1 hình bầu dục hay đa giác, 4-5 lớp kế tiếp hình đa giác dài kích thước to hơn, tâm vi phẫu các tế bào hình đa giác kích thước nhỏ.Tinh thể calci oxalat hình khối [hình 10] kích thước 25-35 µm, nhiều trong mô mềm vỏ; rải rác trong libe 2, rất ít trong mô mềm gỗ 2 và mô mềm tủy. Ít khi gặp tinh thể calci oxalat hình cầu gai trong mô mềm vỏ. Lá: Gân giữa [hình 11]: Lồi nhiều ở mặt dưới, mặt trên hơi lõm ở giữa. Biểu bì trên tế bào hình đa giác, kích thước to hơn, lớp cutin dày hơn biểu bì dưới; biểu bì dưới 1 lớp tế bào hình chữ nhật hay hơi bầu dục, lông che chở đơn bào có ở hai lớp biểu bì nhưng nhiều hơn ở biểu bì dưới. Mô dày trên góc, 1-2 lớp tế bào hình đa giác, kích thước to không đều, xếp lộn xộn; mô dày dưới góc, 1-4 lớp tế bào hình đa giác, kích thước nhỏ hơn tế bào mô dày trên, xếp lộn xộn. Mô mềm trên đạo; 3-4 lớp tế bào ngay dưới mô dày hình bầu dục ngắn hay đa giác có chứa lục lạp, 4-5 lớp kế tiếp tế bào hình đa giác, kích thước to hơn. Mô mềm dưới đạo, 2 lớp tế bào gần cung libe-gỗ có hình bầu dục, kích thước nhỏ, các tế bào còn lại hình đa giác, kích thước to hơn. Cung libe gỗ [hình 12] với libe ở dưới, gỗ ở trên. Mạch gỗ tròn, to dần từ trên xuống dưới. Giữa 2 bó gỗ là 1-3 dãy tế bào mô mềm gỗ hình đa giác, kích thước nhỏ, một số tế bào gần libe vách hóa gỗ. 2-3 lớp tế bào libe sát mạch gỗ có hình chữ nhật, xếp xuyên tâm; các tế bào libe còn lại hình đa giác nhỏ, vách uốn lượn, xếp lộn xộn. Trong vùng libe có những tế bào to, vách dày hóa gỗ. 2-3 lớp tế bào ngay phía trên gỗ và 2-4 lớp tế bào ngay phía dưới libe có hình đa giác hay gần tròn, kích thước nhỏ, xếp sát nhau, hóa mô cứng từng cụm. Nhiều tinh thể calci oxalat hình khối kích thước nhỏ trong libe, kích thước to rải rác trong mô mềm trên và dưới. Rất ít hạt tinh bột trong mô mềm trên và dưới. Phiến lá [hình 13]: Biểu bì trên và dưới giống ở gân giữa, lỗ khí chỉ có ở biểu bì dưới. Mô mềm giậu kéo dài đến vùng gân giữa, 2-3 lớp tế bào hình bầu dục dài xếp thẳng hàng, lớp ngay dưới biểu bì trên dài hơn, có nhiều lục lạp. Mô mềm khuyết tế bào có nhiều hình dạng, vách uốn lượn, khuyết to, có chứa lục lạp. Tinh thể calci oxalat hình khối kích thước như ở thân có nhiều trong mô mềm khuyết. Cuống lá: Vi phẫu cuống lá [hình 14] lồi tròn ở mặt dưới, mặt trên phẳng. Biểu bì 1 lớp tế bào hình chữ nhật, lớp cutin mỏng, rải rác có lỗ khí, nhiều lông che chở đơn bào. Mô mềm vỏ đạo, 8-9 lớp tế bào hình đa giác, tròn hoặc bầu dục, kích thước to. Trụ bì, 2-3 lớp tế bào hình đa giác, hóa sợi thành 1 vòng gần như liên tục. Vòng libe gỗ không liên tục. Libe 1 xếp từng cụm ngay dưới cụm sợi trụ bì, tế bào nhỏ hình đa giác, vách uốn lượn, xếp lộn xộn. Libe 2, 3-4 lớp tế bào hình chữ nhật, xếp xuyên tâm. Mạch gỗ 2 tế bào hình đa giác, kích thước khác nhau, xếp lộn xộn hay xếp thành dãy thẳng hàng với gỗ 1. Mô mềm gỗ 2, tế bào hình đa giác, vách tẩm chất gỗ, xếp xuyên tâm. Gỗ 1 phân hóa ly tâm, phân bố thành từng cụm, mỗi cụm có 1-11 bó, mạch gỗ 1 tròn; mô mềm gỗ 1 tế bào hình đa giác nhỏ, vách cellulose, xếp lộn xộn. Tia tủy gồm 1-2 dãy tế bào đa giác thuôn hẹp, vách tẩm chất gỗ trong vùng gỗ, vách cellulose trong vùng libe. Mô mềm tủy đạo, tế bào hình đa giác, tròn hay bầu dục rộng, các tế bào ở bên ngoài kích thước nhỏ hơn các tế bào bên trong, vách tẩm chất gỗ. Tinh thể calci oxalat hình khối kích thước to có nhiều trong mô mềm vỏ, rất ít khi gặp trong mô mềm tủy; kích thước nhỏ trong libe 2, mạch gỗ 2; đôi khi gặp vài tinh thể calci oxalat hình cầu gai [hình 15] và hạt tinh bột trong mô mềm vỏ, mô mềm tủy (các tế bào mô mềm tủy chứa tinh thể calci oxalat thường có vách cellulose). Quả: Vi phẫu quả [hình 16] hình ngôi sao năm cánh. Ngoài cùng là một lớp tế bào biểu bì hình chữ nhật, rất ít lông che chở đơn bào, ở quả non có rất nhiều lông tiết [hình 17] chân đa bào, đầu đơn bào. Mô mềm đạo, tế bào hình tròn, bầu dục hay đa giác, có 2 vùng: bên ngoài là những tế bào kích thước nhỏ chứa nhiều lục lạp, bên trong là những tế bào kích thước to không chứa lục lạp. Giữa vi phẫu có khoảng 10-11 bó libe gỗ cấu tạo cấp 1 xếp trên 1 vòng với gỗ ở trong và libe ở ngoài; xen giữa các bó là 5 khoang chứa hạt. Trong cùng là mô mềm đạo, tế bào hình tròn hay bầu dục, xếp lộn xộn. Dọc theo cánh vi phẫu cũng có những bó libe gỗ nhỏ cấu tạo như các bó trên.
Đặc điểm bột dược liệu:Bột lá [hình 18]: Bột hơi mịn, màu xanh nâu. Thành phần: Lông che chở đơn bào, mảnh biểu bì lỗ khí kiểu dị bào hoặc hỗn bào(nhìn từ trên xuống), mảnh mạch vạch, xoắn, tinh thể calci oxalat hình khối kích thước to và nhỏ. Bột quả [hình 19]: Bột hơi thô, màu nâu vàng. Thành phần: Tinh thể calci oxalat kích thước to và nhỏ, mảnh mạch xoắn, mảnh mô mềm, lông tiết, lông che chở đơn bào, mảnh biểu bì vỏ quả.
Phân bố, sinh học và sinh thái:Ở Việt Nam, Khế là cây quen thuộc được trồng từ đồng bằng đến vùng núi thấp dưới 1000 m. Nhìn chung, Khế là loại cây thích nghi với vùng khí hậu nóng và ẩm của vùng nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới. Cây sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ trung bình năm từ 200 đến 330. Cây trồng ở các tỉnh phía bắc, về mùa đông có thể chịu được nhiệt độ tối thấp 5-10 0C. Lượng mưa 1500-3000 mm/năm. Cây sống tốt trên nhiều loại đất. Khế ra hoa quả 1 hoặc 2 vụ một năm. Số lượng hoa quả rất nhiều, hoa thụ phấn tự nhiên nhờ gió hoặc côn trùng vào khoảng từ 8 đến 10 giờ sáng. Quả chín sau 2-3 tháng kể từ khi thụ phấn. Cây tái sinh tự nhiên chủ yếu bằng hạt, hay bằng cây chồi gốc sau khi bị chặt. Song người ta cũng có thể nhân giống bằng cách chiết cành.
Bộ phận dùng:Vỏ, quả, lá, hoa và rễ - Cortex, Fructus, Flos, Folium et Radix Averrhoae Carambolea. Lá, vỏ cây thu hái quanh năm. Lá dùng tươi, vỏ cây sao vàng. Hoa, quả thu hái vào mùa hạ, thu, dùng tươi.
Thành phần hóa học:Quả Khế chứa protein 0,5%, dầu 0,2%, carbohydrat 4,8%, đường toàn phần 3,5-11%, acid oxalic 1%, vitamin A 240 đơn vị quốc tế/100g, các vitamin A, C, B1, B2 và PP. Tinh dầu Khế có mùi giống táo, mơ với các thành phần etyl acetat, trans-2-hexenal, cis-3-hexenal, trans-2-hexenal, n-hexanol và một số thành phần khác (Nagy Steven và cs, 1995; CA. 123: 81787 v). Khế có 5-hydroxymethyl-2-furfural, flavonoid, anthranoid, cyanidin, ß-sitosterol (Jabbar A và cs, 1995; CA. 124: 25553z).Theo Luts Andreas và cs, 1993, dịch Khế chứa 2-o-ß-D-glucopyranosid của 4-(1’, 4’-dihydroxy-2’, 2’, 6’-trimethyl cyclohexyl) but-3-en-2-ol (CA.120: 240102 z).
Tác dụng dược lý - Công dụng:Nước sắc lá Khế có tác dụng kháng histamin trên mô hình thực nghiệm nghiệm pháp khí dung ở chuột lang, tác dụng yếu trên Plasmodium berghei thí nghiệm trên chuột trắng. Công dụng: Lá Khế chữa lở sơn, dị ứng, mày đay, cảm nắng, sổ mũi, sốt, ho, sốt xuất huyết, đái buốt, đái ra máu, mụn nhọt, viêm tiết niệu, âm đạo, ngộ độc. Ngày 20-40 g hoặc hơn, sắc uống. Hoa chữa sốt rét, ho khan, ho đờm, tiết lỵ, thận hư, kém tinh khí. Ngày 8-16 g, hãm với nước sôi, uống hoặc 4-12 g tẩm với Gừng sao, sắc uống. Quả chữa ho, viêm họng, sổ mũi, dị ứng, lở sơn, thúc sởi, bí đái, lách to sinh sốt (sốt rét), chữa scorbut. Ngày 20-40 g hoặc hơn, sắc uống. Vỏ thân, vỏ rễ chữa đau khớp, đau đầu mạn tính, viêm dạ dày, ruột, đái ít, trẻ lên sởi, ho, viêm họng. Ngày 8-16 g hoặc hơn, sắc uống.
Hình đính kèm Hình 1:Chua me hoa vàng, Toan tương thảo, Chua me ba chìa, Sỏm hém (Tày)
Tên khoa học:Oxalis corniculata L.
Tên đồng nghĩa:Oxalis repens Thunb.
Họ:Chua me đất (Oxalidaceae)
Tên nước ngoài:Yellow oxalis, Indian sorrel (Anh), Surelle jaune, Acetoselle a fleurs jaunes, Trefle jaunes (Pháp).
Mẫu thu hái tại:Quận 1- Tp. Hồ Chí Minh ngày 04/06/2010.
Số hiệu mẫu:CMDHV040610 được lưu tại Bộ môn Thực Vật – Khoa Dược. Được so với mẫu số: 40684 của Viện Sinh Học Nhiệt Đới Tp. Hồ Chí Minh.
Thân cỏ [hình 1] mọc bò sát đất. Thân mảnh hình trụ tròn màu xanh hoặc màu đỏ nhạt, có lông trắng mịn. Lá mọc cách [hình 2], kép chân vịt; cuống lá hình trụ dài 4-7 cm, màu xanh, có lông màu trắng mịn, thẳng đứng, mang ở đỉnh 3 lá chét [hình 3] mỏng đều nhau, đáy cuống bè ra tạo thành bẹ [hình 4] ôm thân, dài 0,2-0,3 cm, rộng 0,2-0,25 cm. Lá chét hình tim ngược, ngọn lá chia 2 thùy bằng nhau, gốc lá hình chót buồm nông, dài 1-1,5 cm, rộng 1,3-1,5 cm, màu xanh mặt trên đậm hơn mặt dưới, có lông trắng mịn ở mặt dưới và bìa phiến. Không có lá kèm. Cụm hoa [hình 5] xim ít hoa hiếm khi hoa đơn độc ở nách lá; trục phát hoa dài 1,5-3,5 cm. Hoa [hình 6] nhỏ, đều, lưỡng tính, mẫu 5; cuống hoa màu xanh có lông trắng mịn, dài 0,4-0,6 cm; 2 lá bắc con [hình 7] dạng vẩy hình tam giác nhọn dài 2-2,5 mm. Đài hoa [hình 8]: 5 lá đài đều, rời, màu xanh, có lông trắng mịn mặt ngoài, hình bầu dục nhọn ở đỉnh, dài 0,25-0,3 cm, rộng 0,1-0,15 cm, tiền khai lợp. Tràng hoa: 5 cánh hoa [hình 9], đều, hơi dính ở đáy, ống tràng màu xanh nhạt ; 5 phiến rời phía trên màu vàng, hình bầu dục, dài 0,3-0,4 cm, rộng 0,15-0,2 cm ; tiền khai vặn. Bộ nhị [hình 10] : 10 nhị không đều xếp thành 2 vòng theo kiểu đảo lưỡng nhị, vòng ngoài 5 nhị lép (bao phấn không có hạt phấn) đối diện với cánh hoa, vòng trong 5 nhị thụ xen kẽ với cánh hoa ; chỉ nhị dạng sợi màu trắng dài 0,15-0,2 cm, đính ở đế hoa ; bao phấn 2 ô hình thuôn dài, nứt dọc hướng trong, đính đáy. Hạt phấn [hình 11] hình cầu có rãnh, đường kính 30-35 µm. Bộ nhụy [hình 12]: Bầu trên hình trụ đỉnh thuôn, dài 0,1-0,15 cm, 5 ô [hình 13], mỗi ô 1 hàng noãn, đính trung trụ; 5 vòi nhụy [hình 14] rời màu vàng, dài 0,8-1 mm; 5 đầu nhụy màu vàng, mỗi đầu chia nhiều tua nhỏ; bầu và vòi nhụy có lông màu trắng. Quả [hình 15] thuôn dài đỉnh nhọn, nang nứt lưng tung hạt ra xa, vỏ quả mỏng nhăn nheo, màu xanh có lông. Hạt [hình 16] hình trứng 1 đầu nhọn hơi dẹt dài 1 mm, màu nâu đỏ, có các đường rãnh ngang.
Hoa thức và Hoa đồ:

Tiêu bản:
Thân [hình 17] Vi phẫu tiết diện tròn. Các mô [hình 18] gồm: Biểu bì tế bào hình chữ nhật hay đa giác, kích thước không đều, vách ngoài và trong dày, cutin mỏng răng cưa, lông che chở [hình 19] đơn bào, có lỗ khí rải rác. Mô mềm vỏ [hình 20] đạo 4-5 lớp tế bào đa giác tròn, kích thước không đều có những tế bào lớn gấp 3-4 lần các tế bào khác. Nội bì khung Caspary. Trụ bì [hình 21] hóa sợi 2-3 lớp tế bào đa giác, kích thước gần đều, xếp thành vòng gần liên tục. Bó dẫn không liên tục xếp thành nhiều bó lớn nhỏ không đều. Libe 1 tế bào vách uốn lượn, không rõ. Libe 2 tế bào đa giác vách uốn lượn xếp thành dãy hay xếp lộn xộn. Mạch gỗ 2 [hình 22] hình đa giác tròn, kích thước không đều, phân bố đều trong vùng mô mềm gỗ. Mô mềm gỗ bao quanh mạch, tế bào hình đa giác kích thước không đều, vách hóa gỗ. Mạch gỗ 1 ít hình đa giác tròn, xếp thành dãy 2-3 mạch rải rác trong mô mềm gỗ vách cellulose. Mô mềm tủy đạo tế bào hình đa giác hoặc đa giác tròn, kích thước không đều, một số tế bào vách nhăn nheo. Mô mềm tủy có nhiều tinh bột [hình 23] (chỉ có ở thân dưới đất). Tinh thể [hình 24] calci oxalat hình cầu gai hay hình khối trong mô mềm vỏ và tủy. Cuống lá [hình 25] Vi phẫu tiết diện gần tròn phẳng mặt trên. Tế bào biểu bì hình chữ nhật hay đa giác, kích thước không đều, vách ngoài và trong rất dày, cutin mỏng răng cưa, lông che chở đơn bào, có lỗ khí rải rác. Mô mềm đạo 3-4 lớp tế bào hình đa giác tròn, kích thước không đều, xếp lộn xộn. Nội bì khung Caspary. Trụ bì hóa sợi 1-2 lớp tế bào hình đa giác, kích thước đều nhỏ bằng 1/4-1/5 tế bào mô mềm, xếp thành vòng liên tục. Mô dẫn [hình 26] không liên tục gồm 5-6 bó xếp thành vòng, giữa các bó là mô mềm kích thước to. Libe tế bào đa giác, vách hơi uốn lượn xếp thành cụm phía trên gỗ. Gỗ ít, mạch gỗ hình đa giác tròn, kích thước không đều. Tủy hẹp. Tinh thể calci oxalat cầu gai hay hình khối nằm rải rác trong vùng mô mềm sát với vùng trụ bì. Lá [hình 27] Gân giữa: Vi phẫu lồi mặt dưới mặt trên hẹp và phẳng. Biểu bì trên tế bào hình bầu dục nằm vách ngoài có khi thẳng hoặc lõm, kích thước không đều, lớn gấp 2-3 lần tế bào biểu bì dưới; biểu bì dưới tế bào hình bầu dục đứng không đều; cutin mỏng; lông che chở đơn bào và ít lỗ khí [hình 28] ở cả 2 biểu bì. Mô mềm 1-2 lớp tế bào đa giác tròn hoặc tròn, kích thước không đều, xếp lộn xộn. Bó dẫn nhỏ, với ít gỗ ở trên, libe ở dưới; xung quanh bó dẫn có 2 lớp tế bào mô mềm kích thước nhỏ vách dày. Libe tế bào đa giác, kích thước nhỏ, vách uốn lượn. Mạch gỗ hình đa giác tròn, kích thước nhỏ. Tinh thể calci oxalat hình cầu gai nằm rải rác trong mô mềm. Phiến lá [hình 29]: Biểu bì trên và dưới giống nhau, tế bào hình bầu dục rộng, kích thước lớn, đều, lỗ khí ít. Mô mềm giậu 1 lớp tế bào thuôn dài, xếp xít nhau. Mô mềm khuyết 1-2 lớp tế bào đa giác tròn, kích thước bằng ½ tế bào biểu bì, xếp lộn xộn. Bó gân phụ nằm rải rác trong vùng mô mềm khuyết.
Đặc điểm bột dược liệu:Bột toàn cây có màu xanh, thể chất tơi mịn, không có mùi, vị chua gồm các thành phần sau: Mảnh mạch vạch [hình 30], mảnh mạch mạng [hình 31], mảnh mạch xoắn [hình 32], lông che chở [hình 33] đơn bào, nhiều tinh thể calci oxalat hình cầu gai [hình 34] và hình khối [hình 35], mảnh biểu bì [hình 36] mang lỗ khí kiểu hỗn bào, sợi [hình 37] vách mỏng xếp thành bó, mảnh mô mềm có chứa tinh bột [hình 38].
Phân bố, sinh học và sinh thái:Chi Oxalis gồm các loài đều là cỏ sống một năm hay nhiều năm, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc miền nam Châu Phi cả Madagasca, châu Á và Châu Mỹ. Một số ít loài còn thấy ở vùng ôn đới ấm. Ở Việt Nam chi này có 4 loài trong đó có 3 loài được dùng làm thuốc, loài này có mặt ở hầu hết các nước châu Á, ở vùng Đông Nam Á, Nam Á, Trung Quốc và một số nước khác. Chua me đất hoa vàng ưa sống nơi đất ẩm và hơi chịu nóng. Mùa hoa: tháng 3-7.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Oxalis corniculatae)
Thành phần hóa học:Trong lá và thân chua me đất có acid oxalic, oxalat, kali. Người ta tính được theo mg%: P 125, carotene 8,41; B1 0,25; vitamin C 48. Toàn cây chứa nhiều muối kali, acid oxalic, oxalat. Lá chứa vitamin C 125 mg/100 g, các acid tartaric, citric, malic và một lượng khá lớn oxalat 12%, calci 5,6%, so với nguyên liệu khô.
Tác dụng dược lý - Công dụng:Chua me đất hoa vàng có hoạt tính kháng tụ cầu vàng, nước ép toàn cây có hoạt tính kháng những vi khuẩn gram dương. Chua me đất hoa vàng chữa tiểu tiện không thông, ho, sốt nóng phổi, ứ huyết, lỵ trực khuẩn (toàn cây sao vàng sắc uống), chữa viêm đau họng, khan tiếng (lá tươi nhai với một ít muối rồi nuốt nước).
Hình đính kèm Hình 1:Đinh lăng lá nhỏ, cây Gỏi cá, Nam dương lâm.
Tên khoa học:Polyscias fruticosa (L.) Harms
Tên đồng nghĩa:Panax fruticosus L., Nothopanax fruticosus (L.) Miq., Aralia fruticosa (L.) Bailey, Tieghemopanax fruticosus (L.) R. Vig.
Họ:Ngũ gia bì (Araliaceae)
Mẫu thu hái tại:huyện Eakar - Tỉnh Đăk Lăk ngày 28/05/2010.
Số hiệu mẫu:DL2805 được lưu tại Bộ môn Thực Vật – Khoa Dược.
Cây bụi [hình 1] xanh tốt quanh năm, cao 0,5-2 m, thân tròn sần sùi không gai, mang nhiều vết sẹo lồi [hình 2] to màu nâu xám do lá rụng để lại. Lá [hình 3] mọc cách, kép lông chim 2-3 lần, dài 20-40 cm. Lá chét [hình 4] chia thùy nhọn không đều, màu xanh, bóng mặt dưới nhiều hơn, gốc lá và phiến lá thuôn nhọn [hình 5] dài 3-5 cm, rộng 0,5-1,5 cm; gân lá hình lông chim, gân chính nổi rõ, 3-4 cặp gân phụ. Cuống lá dài, tròn, màu xanh sậm, có những đốm xanh nhạt trên cuống, đáy cuống phình to thành bẹ lá [hình 6]. Lá kèm dạng phiến mỏng dính hai bên bẹ lá. Cụm hoa [hình 7] tán tụ thành chùm ở ngọn cành [hình 8]. Hoa [hình 9] nhỏ, đều, lưỡng tính, mẫu 5. Cuống hoa hình trụ, màu xanh, dài 0,3-0,4 cm. Lá bắc tập hợp ở gốc cuống hoa (tổng bao lá bắc), hình tam giác nhọn. Bao hoa: đài hoa [hình 10] thu hẹp chỉ còn 5 răng, đều, rời, dạng vảy màu xanh; 5 cánh hoa rời, đều, màu xanh, hình bầu dục thuôn nhọn ở đỉnh, dài 0,25-0,3 cm, rộng 0,1-0,15 cm, có gân giữa, tiền khai hoa van. Bộ nhị: 5 nhị [hình 11] rời, đều, đính xen kẽ với cánh hoa; chỉ nhị dạng sợi mảnh, màu trắng, dài 0,1-0,15 cm; bao phấn 2 ô thuôn dài màu vàng, nứt dọc, hướng trong, đính gốc. Hạt phấn [hình 12] rời, hình cầu có 3 lỗ, màu vàng nhạt, đường kính 30-35 µm. Bộ nhụy [hình 13]: 2-3 lá noãn, bầu dưới 2 ô [hình 14] hay 3 ô [hình 15], mỗi ô 1 noãn, đính noãn trung trụ; 2-3 vòi rời úp sát vào nhau, thẳng đứng, màu xanh đậm, dài 1 cm; đầu nhụy hình điểm. Quả [hình 16] hạch hình bầu dục mang trên đỉnh quả vòi nhụy tồn tại mọc choãi ra và đài tồn tại, vỏ quả màu xanh đậm có những nốt tròn màu xanh nhạt hơn, dài 4-6 mm, rộng 3-4 mm.
Hoa thức và Hoa đồ:

Tiêu bản:
Rễ [hình 17] Vi phẫu tiết diện gần tròn. Các mô [hình 18] gồm: Bần [hình 19] gồm nhiều lớp tế bào hình chữ nhật, vách mỏng uốn lượn xếp xuyên tâm, bong tróc rất nhiều. Mô mềm vỏ nhiều lớp tế bào đa giác, kích thước khác nhau, vách uốn lượn. Libe gỗ [hình 20]: Libe 2 nhiều tạo thành chùy libe, tế bào đa giác vách uốn lượn dày mỏng xen kẽ nhau thành tầng. Gỗ 2 chiếm tâm không liên tục; mạch gỗ tế bào đa giác tròn, kích thước không đều, phân bố đều trong vùng mô mềm gỗ; mô mềm gỗ tế bào đa giác, vách cellulose. Tia tủy 1-4 dãy tế bào hình chữ nhật. Tinh thể calci oxalate [hình 21] hình cầu gai nhiều trong mô mềm vỏ và libe 2. Thân [hình 22] Vi phẫu tiết diện tròn. Các mô [hình 23] gồm: Biểu bì [hình 24] hóa mô cứng bên ngoài bần, bị bong ra ở lỗ vỏ. Bần nhiều lớp tế bào hình chữ nhật, kích thước không đều, vách mỏng uốn lượn, xếp xuyên tâm; lục bì rất ít 1-2 lớp. Mô dày [hình 25] góc nhiều lớp tế bào đa giác tròn, kích thước không đều. Mô mềm vỏ đạo nhiều lớp tế bào hình đa giác hay bầu dục kích thước không đều, một số tế bào vách uốn lượn. Trụ bì [hình 26] hoá mô cứng, tế bào hình đa giác, xếp thành cụm trên libe 1. Libe 1 tế bào hình đa giác, vách uốn lượn, xếp thành cụm dẹt. Libe 2 [hình 27] tạo thành các chùy đỉnh bằng gần liên tục, tế bào đa giác kích thước không đều, vách hơi uốn lượn, xếp thành dãy xuyên tâm. Gỗ 2 [hình 28] liên tục, dày gấp 3-4 lần libe 2; mạch gỗ 2 hình đa giác, kích thước không đều, phân bố đều trong vùng mô mềm gỗ; mô mềm gỗ tế bào đa giác, kích thước nhỏ. Gỗ 1 [hình 29] xếp thành cụm, mỗi cụm 1-2 bó, mỗi bó 2-4 mạch nằm trong vùng mô mềm gỗ vách cellulose. Tia tủy hẹp 1-4 dãy tế bào hình chữ nhật có tinh bột rất nhiều. Mô mềm tủy [hình 30] đạo tế bào đa giác kích thước không đều. Tinh bột nhiều trong mô mềm vỏ, tuỷ và rải rác ở mô dày. Túi tiết ly bào [hình 31] kích thước khác nhau có nhiều trong mô mềm vỏ và mô dày. Tinh thể calci oxalat hình cầu gai rải rác trong mô mềm vỏ. Cuống lá [hình 32] Vi phẫu tiết diện gần tròn một đầu bằng. Lớp biểu bì hơi dợn sóng, tế bào hình chữ nhật, kích thước lớn hơn tế bào mô dày, đều, cutin mỏng. Mô dày [hình 33] góc 2-4 lớp tế bào đa giác gần tròn, kích thước không đều. Mô mềm vỏ đạo nhiều lớp tế bào đa giác, kích thước lớn hơn tế bào mô dày, không đều, xếp lộn xộn. Ống tiết ly bào nhiều trong vùng mô mềm vỏ và mô dày. Trụ bì hoá mô cứng 2-3 lớp tế bào không liên tục bên ngoài libe. Nhiều bó libe gỗ [hình 34] xếp thành vòng không liên tục, libe ở ngoài gỗ ở trong. Gỗ và libe có cấu tạo cấp 2. Libe 1 xếp thành từng cụm bên dưới trụ bì. Libe 2 nhiều lớp tế bào đa giác, kích thước không đều, xếp thành dãy xuyên tâm. Mạch gỗ 2 tế bào đa giác gần tròn, xếp rải rác trong mô mềm gỗ; mô mềm gỗ tế bào đa giác xếp thành dãy. Gỗ 1 tập trung thành từng cụm từ 3-5 bó, mỗi bó từ 2-3 mạch gỗ nằm trong mô mềm gỗ vách cellulose. Mô mềm tủy đạo tế bào hình đa giác hoặc đa giác gần tròn, kích thước không đều, 2-4 lớp tế bào dưới gỗ 1 vách tẩm chất gỗ mỏng. Lá [hình 35] Gân giữa: Lồi ở 2 mặt. Biểu bì tế bào hình chữ nhật không đều, kích thước gần tương đương ở 2 biểu bì trên và dưới, cutin mỏng. Mô dày góc [hình 36] 2-3 lớp tế bào đa giác kích thước đều nhau. Mô mềm đạo nhiều lớp tế bào đa giác tròn hoặc gần tròn, kích thước không đều. Bó dẫn [hình 37] xếp hình cung với gỗ ở trên libe ở dưới. Libe xếp thành cụm nhỏ. Mạch gỗ xếp thành dãy 3-5 mạch xen kẽ mô mềm gỗ vách cellulose. Túi tiết ly bào kích thước khác nhau nhiều trong vùng mô mềm đạo. Phiến lá [hình 38]: Biểu bì tế bào hình chữ nhật, biểu bì trên kích thước lớn hơn biểu bì dưới, cutin mỏng, lỗ khí ở biểu bì dưới. Mô mềm khuyết 6-7 lớp tế bào đa giác tròn, kích thước không đều, chứa lục lạp. Bó dẫn phụ rải rác gỗ ở trên, libe ở dưới.
Đặc điểm bột dược liệu:Bột rễ Đinh lăng có màu vàng, thể chất tơi thô, không có mùi, có vị ngọt gồm các thành phần sau: Nhiều hạt tinh bột [hình 39] hình chuông, hình đa giác, đường kính từ 10-20 µm nằm riêng lẻ, hạt tinh bột kép 2, 3, 4 hay tụ tập thành khối. Mảnh bần tế bào đa giác, kích thước khác nhau, vách dày, màu vàng. Mảnh mô mềm [hình 40] tế bào hình chữ nhật, kích thước khác nhau chứa tinh bột, vách mỏng. Tinh thể calci oxalat hình cầu gai [hình 41], hình khối [hình 42] kích thước khác nhau. Nhiều mảnh mạch [hình 43] vạch có khoang rộng.
Phân bố, sinh học và sinh thái:Có nguồn gốc từ đảo Thái Bình Dương, được trồng khắp nơi từ đồng bằng đến miền núi. Cây ưa sáng, ưa ẩm và đất sâu, có thể chịu hạn và bóng râm. Thường được trồng chủ yếu bằng cách giâm cành. Cây trồng càng lâu càng tốt. Mùa hoa quả: tháng 4-7.
Bộ phận dùng:Rễ, thân và lá (Radix, Caulis et Folium Polyciatis). Thu hoạch rễ của những cây đã trồng từ 3 năm trở lên (cây trồng càng lâu năm càng tốt). Nên thu hái vào mùa thu, rễ nhỏ để nguyên, rễ to chỉ dùng vỏ rễ. Thái rễ mỏng phơi khô ở chỗ thoáng mát. Lá thu hái quanh năm, thường dùng tươi.
Thành phần hóa học:Vỏ rễ và lá chứa saponin, alkaloid, vitamin B1, B2, B6, C, 20 acid amin, glycosid, alkaloid, phytosterol, tanin, acid hữu cơ, tinh dầu, nhiều nguyên tố vi lượng, 21,10% đường. Lá: saponin triterpen (1,65%)
Tác dụng dược lý - Công dụng:Tăng lực trên động vật thí nghiệm và trên người. Thân và lá cũng có tác dụng tăng lực nhưng yếu hơn so với rễ. Làm thuốc bổ làm tăng cân (thân và lá cũng có tác dụng này). Làm tăng hiệu quả điều trị của cloroquin trong bệnh sốt rét thực nghiệm trên động vật. Tăng co bóp tử cung và tăng tiết niệu. Tác dụng an thần và ít độc. Nước sắc đinh lăng có tác dụng đối kháng với trùng roi, trị lỵ amip cấp. Sau 10 ngày hết triệu chứng lâm sàng và sau 16 ngày xét nghiệm lại hết amip thực huyết, hết kén. Rễ làm thuốc bổ tăng lực, chữa cơ thể suy nhược, gầy yếu mệt mỏi, tiêu hóa kém, phụ nữ sau khi đẻ ít sữa, chữa ho ra máu, ho, đau tử cung, kiết lỵ, thuốc lợi tiểu, chống độc. Lá chữa cảm sốt, mụn nhọt sưng tấy, sưng vú, dị ứng mẩn ngứa, vết thương. Thân và cành chữa thấp khớp đau lưng.
Hình đính kèm Hình 1:Từ khóa » Công Thức Hóa Học Của Hoa Hồng
-
Geranyl Acetat – Wikipedia Tiếng Việt
-
Geranyl Axetat Có Mùi Hoa Hồng. Công Thức Của Geranyl ... - Hoc247
-
Hóa Học đằng Sau Hoa Hồng Rainbow | HHLCS
-
Công Thức Của Tinh Dầu Hoa Hồng, Hoa Nhài Và Một Số Tecpen - 123doc
-
Geranyl Axetat Có Mùi Hoa Hồng. Công Thức Của Gera... - CungHocVui
-
Geranyl Axetat Có Mùi Hoa Hồng. Công Thức ... - Trắc Nghiệm Online
-
Cây Hoa Hồng
-
Công Dụng, Cách Dùng Hoa Hồng đỏ - Tra Cứu Dược Liệu
-
Hóa Học Vui - MÙI CỦA MỘT SỐ ESTE THÔNG DỤNG TRONG...
-
Giải Bài 7 Trang 229 - SGK Môn Hóa Học Lớp 11 Nâng Cao
-
Tên Khoa Học Của Hoa Hồng Là Gì?
-
Tiền Hoa Hồng Là Gì? Cách Tính Tỷ Lệ Phần Trăm Hoa Hồng Chuẩn?
-
Cách Xử Lý Ra Hoa Cho Hoa Hồng Đúng Kỹ Thuật
-
Có Nên Bón NPK Cho Hoa Hồng Không? - Xanh Bất Tận