Phần Thứ V: Các Bài Sám Văn - Cảnh Tỉnh - Khuyến Tu
Tuyển tập các bài sám văn - Tập IV: 55 Bài sám văn chọn lọc
Phần thứ V: Các bài sám văn - cảnh tỉnh - khuyến tu
Thích Đồng Bổn sưu tập
Nguồn: Thích Đồng Bổn sưu tập
209. SÁM VÔ THƯỜNG (II)(Cảnh tỉnh vô thường 8)
Thế gian giả tạm bến mê Thành tâm hướng tới nẻo về đường chơn Cuộc đời cõi mộng chi hơn Người trong nhân thế oán hờn tranh nhau Dòng đời lắm nỗi lao xao Ðâu là bền chắc, có nào chi đâu? Sống thì ngụp lặn vọng cầu Tâm kia điên đảo, mối đầu trầm luân Tham sân si nặng vác khuân Thế nên tâm tánh trôi lăn đêm ngày! Từ thương đến giận ai hay Từ yêu đến ghét tháng ngày đa mang Từ buồn đến muốn lầm than Ðeo mang cho lắm con đàng sầu thương! Ðấy là tâm vọng đâu thường Tâm duyên trần cảnh là đường khổ đau Tâm nầy không thật mảy hào Cho nên biến đổi khi nào dứt đâu ? Thân ta ví một con tàu Luôn thay đổi bến chẳng lâu ở thường Khi thì nóng sốt khổ vương Khi thì lạnh rét tai ương đeo hoài! Lão sanh tử bệnh đổi thay Thọ thân là khổ nơi này trần gian Có đâu bền chắc mà màng Se sua thân xác theo đàng lụy thôi! Trau tria cho lắm để rồi Vô thường chợt đến mà lôi ra gò! Vô thường hai chữ nhớ cho Có chi bền chắc mà đo với lường Cảnh đời cũng phải vô thường Mọi loài mọi vật có dường bền lâu ? Thế nên phải dứt vọng cầu Gắng lòng tụng niệm đạo mầu bước lên Ðể tạo phước báo thiện duyên Ngày sau sẽ hưởng vượt lên cõi trần Ðừng say ngũ dục ấm thân Lầm mê trần thế, đắc phần tội mang Ai ai thức tỉnh thế gian Vô thường quỉ bắt, biết đàng nào đi ? Thân tâm hoàn cảnh bủa vây Nghiệp mang lửa đốt, do đầy lầm mê Ai ơi lòng hướng cầu về Nương theo chánh đạo một bề tu thân Tử sanh khổ ải muôn phần Vô thường phải sợ chuyên cần tu tâm Khổ công giáo lý nghiêm tầm Tâm kia bền vững đừng lầm đường mê Ðó là giác ngộ đường về Ai ơi nhớ lấy chớ mê cảnh trần. Trích soạn lại theo "Phật học sám kệ" - Thiích Tâm Minh - Bản in lụa Sàigòn 1994.
210. VĂN TẾ LIỆT SĨ (Thí thực cô hồn 10)
Hỡi chư Liệt sĩ ôi! Họa đao binh từng đốt nung đất Việt Nạn xâm lăng đã giày xéo trời Nam Phận làm trai, đành gánh vác nợ non sông Người chiến sĩ, phải hy sinh đời oanh liệt Nhớ những anh hùng xưa! Vì chánh nghĩa, mất còn nào tiếc Rửa nhục chung, sống chết đâu màng Chốn sa tràng, trải mật phơi gan Nơi chiến địa, nóng sôi nhiệt huyết Gió đạn, mưa bom ào ạt, xông pha bắn giết Núi xương, biển máu lăn mình, dày đẫm đau thương Màn trời chiếu đất, lướt trời nồng, dãi nắng dầm sương Vó ngựa sa trường, dày gió bụi, mang sao đội nguyệt Vì nước vì dân, trước cái chết, vươn mình quyết tiến Thương nòi thương giống, giữa đời trai, nung chí anh hùng Ðạn nổ súng rền, gió hơi bom, long trời lở đất, thi gan tiến tiến xung phong . Cờ phất còi reo, tiếng trống dục, chật đất tràn đồng, gắng sức đùng đùng tử chiến. Dưới làn bom, thịt nát xương tan, Ðành ngã gục không hề khuất tiếc. Trước mũi súng, ruột tuông máu đổ, cam lụy mình chẳng khứng phục hàng. Người chiến sĩ, đền xong nợ nước, trang sử xanh đánh dấu hiên ngang. Ðấng anh hùng, rửa sạch nhục chung, đài liệt sĩ nêu gương trung liệt. Than ôi! Vì nước quên mình, sống oanh liệt chết càng oanh liệt. Xả thân báo quốc, sống vinh quang chết cũng vinh quang Cảm thương người, tai nạn tràn lan Thương xót kẻ, uổng oan mất tích Nhờ đức Phật độ về cõi tịnh Nương tiếng Kinh thoát kiếp đao binh Nơi dạ đài, người tử si có linh Nương thể phách, về trai đàn chứng giám Hỡi ơi! Thương thay! Có linh xin chứng! Có linh xin chứng! Trích soạn "Kinh Nhựt tụng" - Chùa Niệm Phật Bình Dương 1994.
211. VĂN TẾ CÔ HỒN (II)(Thí thực cô hồn 11)
Từng nghe đạo cả, kỉnh thuật lời quê Cõi nhơn gian thủy lục ê chề Nỗi hồn phách tử vong ngao ngán Trên đến bực vương hầu khanh tướng Dưới đến người sĩ cổ nông công Nào kẻ ty, nào người tôn Nào là nam, nào là nữ Hoặc có kẻ buộc mình trong linh ngữ Hoặc có người sẩy bước chốn sa tràng Hoặc sa hầm sa hang Hoặc trúng thang trúng dược Ðau ngang, dây buộc, sản nạn, huyết bồn Hoặc nước bệnh dịch ôn, hoặc suông búa sấm Phép vua giảo trảm, trù ẻo vong thân, loài ấy rất nhiều Nhiều đã quá nhiều, dẫu muốn kể, kể sao cho xiết Kìa nương dựa, mả mồ đà mất biệt, Nào từ đường, nơi chỗ có chi chi Bơ vơ bên bụi dưới cây, lài lạc chốn đầu gành cuối biển Khổ nhiều nỗi gió mưa xao xuyến, Biết mấy thu lạnh nắng đổi thay Chẳng bốn mùa nào kẻ lạc trai Mãn tám tiết vắng người đơm quảy Rầu rầu rỉ rỉ, cõi u minh biết mấy xuân thu Mù mù mịch mịch, đường xuất lý mảng đợi trông ngày tháng Hội vô giá may vừa gặp khoản, Nương theo công bí mật hôm nay Này hà sa Phật tử là ai, rày gặp lúc tiêu diêu cõi thánh Nọ lụy thế oan thân mấy kẻ, lại nhờ ơn giải thoát nợ trần Chiến sĩ ôi! Cô hồn ôi! Ngôi liên đài quanh quất bên thân Miền tịnh độ chán chường gần trước mặt Ngón tay búng chẳng phiền nhọc sức Ðã chứng vào trong bực vô sanh Lòng hởi lòng, lòng vốn hư minh Ấy rõ thấu, ngôi Quan Âm Phật. Nam Mô Siêu Lạc Ðộ Bồ Tát Ma Ha Tát. Trích soạn theo Kinh Nhật Tụng - Bồ Tát Như Nguyện Thích Thiện Huê - Chùa Niệm Phật - Bình Dương 1974.
212. HỒI HƯỚNG TẾ VĂN (Thí thực cô hồn 12)
Kiến văn như huyển ế Tam giới nhược không hoa Văn phục, ế căn trừ Trần tiêu, giác viên tịnh Phục dĩ, Nguyên chơn như thanh tịnh Tội tánh vốn là không Biển khổ rộng mênh mông Sóng quanh theo đuổi mãi Bởi nghiệp cảm chúng sanh mang phải Khiến trầm luân kiếp nọ chịu đọa đày Ðịa ngục đà thọ báo đắng cay Ngạ quỉ lại chuyển sanh đói khát Ðã chẳng có ngày giải thoát Ắt là không chỗ đặng siêu thăng Ví chẳng nhờ từ nguyện đức kim thân Ðể mở đặng đảo huyền dây ác thú Chơn thuyên ấy, niệm đôi câu chú Thí ra trên tiệc cam lồ Bảo cự kia, thắp một ngọn đèn Soi khắp trong đường minh giới Nào những mấy dòng mê cả thảy Khiến đều về cực lạc phương tây Buổi đạo tràng nay, khắp thỉnh vào viên thí thực Ðem công đức ấy, trở về trong núi Thiết vi Diệm nhiên Ðại sĩ một tay Thống lãnh cả ba mươi sáu bộ chúng Ngạ quỉ hằng hà sa số Vô lượng vô biên xiết kể biết bao Cúi xin từ kiếp bỏ liền Cho đến ngày tái thế Tiêu nghiệp chướng chẳng còn chút để Rửa tội khiên phút đã sạch rồi Vạc nóng dầu sôi, biến làm bồn liên trì bát đức Lò hừng lửa cháy, hóa thành tòa hương cái thất trân Kìa mũi gươm trần, kiếm thọ hóa ra ngọc thọ Nọ con dao sắc, đao sơn đổi lại bửu sơn Khắp nơi bủa chật thiết sàng Hiện pháp tòa Bồ đề là đó Với chảo đựng đầy đồng trấp đỏ Sái đề hồ cam lộ vào đây Gặp người trái chủ hôm nay Buổi đó hết đòi hết hỏi Nhóm kiếp oan gia buổi trước, Cùng nhau thôi vấn thôi vương Dạ hưng từ ngục chủ yêu thương Lòng từ thiện minh quang bảo hộ Thân phụ mẫu đa sanh kim với cổ Nay thời nhập Thánh siêu phàm Nợ nhơn thân lụy thế hết còn Rày đã thừa ân giải thoát Cõi thiên thượng ngũ si chẳng hiện Miền nhơn gian tứ tướng có chi Tu la đà bỏ cả sân si Ðịa ngục lại hết điều khổ não Hồn ngạ quỉ nhộn nhàng sáu đạo Hứng gió thanh khỏi chốn lửa hồng Giống làm sanh chật nức mười loài Lên bờ giác lánh nơi đường tối Khắp xin cả hữu tình một nỗi Quốc độ này, quốc độ nọ Và vô lượng các quốc độ thảy Cùng nhau chung chứng chơn thường Lại nguyện cùng hàm thức mấy loài Thế giới đó, thế giới đây Và vô lượng các thế giới nào Buổi đó đều nên Phật đạo Tứ ân khắp báo Tam hữu đều nhờ Người trong pháp giới bao giờ Ai ai cũng đồng nên chưởng trí. Trích soạn "Kinh Nhựt Tụng " Chùa Niệm Phật - Bình Dương 1974.
213. KỆ KHUYÊN ÐỪNG SÁT SANH (Văn khuyến tu 10)
Muôn loài nào khác chi ta Cũng tìm sự sống lánh xa tai nàn Có cha mẹ, có họ hàng Kết bè sinh hoạt, hiệp đoàn tương siêng năng Ta đừng giết nó mà ăn Cũng đừng bắt nó trối trăng giam cầm Bẫy câu, chước độc, mưu ngầm Làm cho chúng nó âm thầm đớn đau Lạc bầy dớn dác xôn xao Lại e cái nạn thớt, dao hầu gần Mình có thân, nó cũng có thân Nuôi mình, giết nó trái cân công bằng Lâm mình cảnh ấy khổ chăng? Giả như có kẻ bắt phăng chúng mình Mẹ cha cô bác thảm tình Xót xa đã lắm, bất bình biết bao Ruột rà ai cắt chẳng đau Thương tình ai dứt, chẳng đau gan vàng Nếu ta suy nghĩ kỹ càng Tình này, cảnh ấy rõ ràng tương thân Làm người ta có lòng nhân Hãy khơi tánh Phật, lần lần sáng ra Người cùng muôn vật một nhà Ta là anh chị, chúng là đàn em Khôn hơn ta phải xét xem Trông nom giúp đỡ đàn em dại khờ Khi lâm nạn chúng bơ vơ Mau tay tiếp cứu chớ ngơ mắt nhìn Thấy ai giết thác sanh linh Lấy lời khuyên giải, dụng tình cản ngăn Thú kia nó cũng là thân Cũng xương cũng thịt cũng phần như ta Ðánh đau chúng nó kêu la Tiếng rên đứt ruột, tiếng la xé lòng Tánh linh người vật cũng đồng Xuống tay bao nỡ, cầm lòng sao đang Thân ta thì muốn cho an Mà thân kẻ khác lại toan xéo giày Lòng ta muốn tránh nạn tai Sao cùng kẻ yếu ra oai dữ dằn Nếu ta biết lẽ công bằng Biết câu phước tội, biết căn luân hồi Chớ nên giết nó đành rồi Cũng đừng hành hạ, tỏ lời dễ khinh Chớ cho chúng khổ vì mình Mở lòng thương xót tấm hình hài kia Ðừng làm chúng nó chia lìa Con nầy xa mẹ, con kia cách chồng Ðừng bày cắt cổ, nhổ lông Việc làm cũng phải dự phòng về sau Dây oan ai lại buộc vào Kiếp nầy gây nợ, kiếp nào trả xong Muốn cho mình được thong dong Ðừng làm kẻ khác khổ lòng làm chi Chớ vì một chút sân si Mà bao oan trái kéo trì cuốn lôi Muốn ra khỏi biển luân hồi Quả kia phải hái cho rồi đừng gieo Dừng chân là bóng chẳng theo Nhơn tay thì nghiệp chẳng đeo bên mình Ai ơi! Nên khá giữ gìn. Trích Kinh Nhật tụng - Tịnh xá Trung Tâm - Sàigòn 1974.
214. SÁM VĂN SỰ TÍCH HI THỊ, CHÍ CÔNG(Văn khuyên tu 11)
Tích xưa nhân quả một đường Có Bà Hi thị, xà vương biến hình Bởi gieo nhân dữ sát sanh Khiến cho Tam bảo điêu linh một thời, Mới hay oan báo chẳng rời Nếu không cắt đứt đời đời tiếng chê Xem gương Hi thị gớm ghê Phá Tăng hủy Phật nặng nề oan khiên Sát sanh mất hết phước duyên Làm bánh nhưn thịt cúng liền Chí Công Nào hay ngài đã tỏ thông Tráo bánh nhưn đậu ăn không tội gì Tánh tình Hi thị ngu si Xé kinh, đập tượng mắng thì chúng Tăng Bởi vì nghiệp báo tiền căn Hại người, người hại lẽ hằng xưa nay Tu hành giữ giới trì trai Bốn giờ Lương gáy dậy mà tụng kinh([1]) Cớ nào đem dạ bất bình Hòa thượng đi khỏi tự mình giết Lương Cho nên sái đạo chơn thường Khiến ra Hi thị nhiều đường tai ương Mãng xà thân rắn thảm thương Ở ngoài rừng nội tuyết sương lạnh lùng Hi thị nhớ nghĩ hãi hùng Xảo ta sao chẳng chịu dùng tu thân Ðể làm chi việc sát nhân Nay ta phải bị khổ thân chốn nầy Phổ Môn thuyền báu là đây Tỏ thông nghĩa lý nhờ Thầy giải phân Quan Âm xưa cũng thường nhân Phát lòng thệ nguyện chí chơn tu hành Hôm nay Ngài đã viên thành Tầm thinh cứu khổ chúng sanh đời đời Hi thị bà mới mở lời Phát tâm thiện niệm vậy thời Nam mô Quan Âm Bồ Tát Như Lai Từ bi cứu khổ muôn loài chúng sanh Con nay thệ nguyện tu hành Giải thoát thân rắn vãng sanh thiên đường Quan Âm cảm động lòng thương Phóng quang hiện tướng tỏ tường kim thân Chói lòa khắp hết hồng trần Quan Âm bèn dụng phép thần phóng ra Ma ni châu bửu đây mà Ðể vô trong miệng nói ra tiếng người Cầu Lương Võ Ðế giúp ngươi Rước Thầy sám hối đàn trời tụng kinh Mãng xà Hi thị chớ khinh Trở về cung viện sự tình tỏ phân Nhắc qua Võ Ðế lâm trào Chúa tôi Ngài mới bước vào Ngân An Nhìn xem thấy rắn kinh hoàng Mãng xà cất tiếng vang kêu nài Thiếp là Hi thị về đây Cầu xin Thánh thượng rước Thầy sám văn Bởi vì tại kiếp tiền căn Phá hủy kinh tượng đánh Tăng đốt chùa Nhân xưa đâu phải chuyện đùa Quả nay làm rắn bốn mùa tuyết sương Cúi xin Thánh thượng lòng thương Trai đàn thiết lập cúng dường chư Tăng Từ nay thiếp nguyện ăn năn Giải thoát thân rắn siêu thăng thiên đường Chí Công Hòa thượng đoái thương Nhập định cầu khắp mười phương Thánh hiền Ðêm ngày lễ sám kiền thiền Bốn mươi chín buổi tự nhiên an hòa Hi thị cổi lốt mãng xà Hiện thân tiên nữ đứng mà trên mây Cúi đầu làm lễ lạy Thầy Giã từ Võ Ðế cõi tây đặng về Thiện ác nhân quả bảng đề Làm lành đặng phước chớ hề bỏ qua Xem gương Võ Ðế vậy mà Làm dữ mắc họa như bà chánh cung Ai ai nghe đến cũng run Tránh xa sát nghiệp thung dung tu hành Kíp mau bỏ dữ làm lành Ngày sau mới đặng vãng sanh liên tòa Lương hoàng bửu sám tụng qua Ngày đêm lễ lạy Phật Ðà mười phương Chí Công Hòa thượng lòng thương Soạn ra Bửu sám làm gương tu hiền Bao nhiêu tội nặng dứt liền Tạ ơn sám chủ đàn tiền chứng tri. Nguyện trì ngũ giới tam quy Nguyện tu thiện nghiệp nguyện ly luân hồi. Trích soạn theo bài "Nguyên Thông Học tập Tam Quy Ngũ Giới " Của Thiền sư Thích Chơn Thường - Trường Quang Tự Mỹ Tho 1952. - Chiêu Ðề trích soạn - Xắ lợi tự - TPHCM 1997.
215. THIỀN CƠ YẾU NGỮ VĂN (Sám hồi tâm 6)
Lánh phồn hoa thanh nhàn dưỡng tánh Sửa tấm lòng thủng thỉnh hôm mai Xét mình kém đức sơ tài Kính tin đã có Phật trời chứng minh Thuở phù sinh gẫm mình thiếu phước Ngỡ tình cờ gặp được chánh tôn Cảm ơn đức lớn rộng dung Thâm ân đều gởi về dòng Phật gia Lòng thiết tha bốn ân hằng đội Phải toan phương tìm dõi minh sư Tập rèn lựa lọc kinh thư Chí lăm vượt tới vô dư cõi ngoài Thường đêm ngày dồi mài lòng cũ Cá hóa rồng chờ có thuở nên Ân sâu ghi dạ lo đền Vun trồng cội đức, giữ gìn chi sai Trọng hiền tài kỉnh tin tri thức Kết bạn lành nhờ đức hôm mai Ngọc lành sao chẳng dồi mài Gương xưa nỡ để trần ai lâu ngày Rất chóng thay tháng ngày dường gió Tới non vàng dễ bỏ về không Ngựa qua cửa sổ kịp dong Vui chi cá chậu chim lồng chẳng lo Ðã xét soi dốc theo thiền giáo Vật phi tài vô đạo chẳng tham Ruộng người năm mẫu hằng làm ([2]) Lọ là ruổi bắc tìm nam nhọc nhằn Nhà sáu căn che thân ngày tháng ([3]) Một ngọn đèn rọi sáng mười phương Hương phần ngũ phận danh hương Dâng lên thượng điện cúng dường pháp thân Tu cho cần thoát ba đường khổ ([4]) Dựa thuyền từ tìm ngõ tây phương Hôm mai lễ niệm không vương Chúng sanh mê muội lòng thương nỡ nào Cháy hồng hào rần rần lửa dục Nước ái hà rục rục dầu sôi Gương xưa trí tuệ trau dồi Dùng thanh lương thủy mà rươi lửa phiền Hãy tùng quyền nương thuyền vô để ([5]) Vượt ái hà nào kể phong ba Dạo chơi thế giới Ta bà Ðâu đâu là chẳng cửa nhà bần tăng Xem giàu sang ví bằng mây nổi Gẫm lợi danh dường đỗi mưa dông Vì tham tài sắc huyễn không Nên nỗi mê lòng sanh tử bèn quên Ðạo làm người ân trên phải nhớ Gắng công phu bồi nghĩa bồi nhân Mười phân chưa đặng một phần Lấy đâu ngay thảo xứng cân cho tày Dễ dám quên ơn thầy nghĩa bạn Chút lòng đan muốn cạn hiếu trung Một nồi hương tuệ đốt xông Ba biến kinh lòng thường niệm hôm mai Chữ sắc tài mặc ai đua sánh Giữ phận hèn nương cảnh thiền Tăng Mây che nên nỗi mờ trăng Huệ nhựt thăng đằêng sương tuyết mới tiêu Thuốc hay chữa đặng bệnh nghèo Vâng lời Phật dạy tội tiêu phước dày Như nhau dọc mũi ngang mày Lòng phàm lòng Thánh cách thay ngàn trùng Hãy dồi lòng “sắc không không sắc” Lo chi đường ruổi bắc tìm đông Nhớ câu ma Phật hỗn đồng Vằng vặc đèn lòng soi xét chẳng sai Sự sắc tài hay dời lòng đá Hằng lánh xa chớ bá chớ chen Cung dâu khéo bắn thì lên Chuyên chí giữ gìn đạo cả ắt nên Hãy chăm lòng vun cây tưới nước Quả Bồ đề chắc được chẳng sai Bỏ về thì thiệt mặc ai Chớ khá chê cười mà tổn phước ta Tảo tự gia môn tiền chi tuyết ([6]). Hơi nào mà đàm thuyết sự ai Mực vào son thắm ắt phai Gần đấng hiền tài, người dữ xa trông Tính chuốt trong, vì không nhân ngã Tợ trăng rằm chẳng bá chút mây Bã bôi liền cật chẵng nài Thảo lư am tiện tháng ngày dựa nương Cũng đã từng trải đường danh lợi Uổng nhọc mình thấy vậy lại không Sửa chí dùng, an lòng phân khổ Tháng ngày thường vui thú Phật tiền Giàu sang là áng ưu phiền Gây đường nghiệp chướng cần quyền làm chi Lời thị phi khen chê mặc thế Hơi nào mà cấm chợ ngăn sông Tơ kia ra mối ắt xong Máy thiền ngộ đặng tấm lòng bằng an Lửa cháy tàn lò than rời rạc Tưởng người đời há được bao lâu Mấy ai cho biết mà cầu Ngàn vàng dễ đặng lời mầu không trao Ðạo đức cao nên người kính mến Quyết một lòng vượt đến Linh sơn Cho hay túi rách có vàng Ðêm tối lạc đường, nhờ đuốc người ngay Vun lấy cây chờ ngày ăn trái Chữ cạn cùng, nghĩa lý thấm sâu Ðất liền ai mượn bắc cầu Bệnh lành phải dụng thuốc mầu làm chi Sự u mê khác chi tằm kén Mình buộc mình ai khiến đó sao Thuyền đưa xảy gặp ba đào Chóng chèo gắng sức tiêu dao có ngày Nom dưới ngòi ngậm ngùi bóng thỏ Thấy trăng tròn tay vỗ ca xang Bởi mình vụng liệu chẳng toan Chân không bước ngược lên ngàn đặng đâu Tuổi bạc đầu độc sâu không giản ([7]) Tham giàu sang biển cạn không phải Thân người như tuyết ban mai Bề ngoài sắc tướng dồi mài làm chi Vàng mạ xi trau chi vật ấy Sao chẳng tìm cho thấy chân kim Ðèn kia sáng bởi vì tim Ðốt thì thấy tỏ lọ tìm đâu xa Phật trong nhà thật là rất báu Biết tu trì đại đạo ắt nên Kẻ khó hèn tu hành chớ nệ Cây một mình chớ kể rằng cây Quản bao lưng gió xông mây Nhọc nhằn chớ nại quả rày mới cao Mật ngọt kia dính dao mấy chút Phỉnh hài đồng liếm mút đứt môi Ngao cò vô ý chẳng coi Mỡ dính miệng rồi được mấy mà ham Ngụ thảo am luận đàm đạo lý Chữ lợi danh, phú quý chẳng tham Ðạo lành phải gắng mà làm Máy thiền ngộ đặng mới cam tấm lòng Thuyền giữa dòng chí mong tới bến Dễ lòng còn tham mến chi sao Mình bia sá nại tên lao Cây kia đúng sức, đẽo bào mặc ai Chốn Chiên già khoan thai dưỡng tánh Ðượm màu thiền tịch mịch sớm trưa Bữa dùng rau cháo tương dưa Ý quen đã hiệp, miệng vừa thời thôi Nước chảy xuôi thuyền kia chống ngược Chốn phàm trần tu được mới ngoan Chí công mài sắt cũng mòn Ðường trường chớ ngại lòng son cho bền Kinh thánh hiền cho chuyên tập đọc Sự chửa từng chẳng học sao nên Chưa nên chớ khá xa thầy Bệnh già dễ dám buông hài đi không Còn cách sông nương thuyền Bát nhã Ðến bờ rồi mới thỏa chí mong Sự ở lòng tỏ thông thì được Phật hiện tiền phải kiếm đâu xa Nên hư cũng ở lòng ta Chẵng chánh thì tà, chẳng ngộ thì mê Quả Bồ đề một mai có chín Hoa Ưu đàm hóa hiện mấy thu Tam thừa diệc trí dữ ngu ([8]) Dứt trừ vọng niệm công phu mới thuần Có bi có lực có hùng Mới đủ sức dùng vượt biển trèo non Một bầu nhiệm giữ càn khôn Tùy duyên hóa độ ai còn dám chê Ngày xuân thong thả tay đề Bút hoa thảo thảo chép ghi để truyền. Thiền sư Toàn Nhựt 1754-1832 - Sao từ bản in Thạnh Mậu 1960 (mất nhiều đoạn). Ðối chiếu bổ sung đầy đủ từ Lịch Sử Phật Giáo đàng trong - Nguyễn Hiền Ðức - NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1995.
216. GIỚI HÀNH ÐỒNG TỬ VĂN(Sám hối tâm 7)
Tiết đông thiên đài đêm lâu khắc Một mình ngồi tịch mịch mao lư Ðã thương hậu học sơ cơ Chưa thông kinh luật còn lờ tánh linh Lại lo mình chuyên phương niệm Phật Ðâu dám cho thẳng giấc Trang Chu ([9]) Ðạo này rộng nhiệm cao sâu Trẻ nay biếng học già sau biết gì Lóng tai nghe các liêu vãi đạo ([10]) Lâng lâng chìm sâu giấc như nhau Ðặt mình những thuở canh đầu Cho liền một giấc trống lầu điểm năm Hãy còn nằm pho pho mà ngáy Phải như Thầy để dậy sáng ra Tớ Thầy cũng thể con, cha Ðem phần dạy dỗ rằng mà sao nên Phải răn khuyên chúng suy xét tỏ Tua nhớ lời hối ngộ lo thân Tổ xưa đã để lời răn ([11]) Sửa mình tấn đạo, giảm ăn ít nằm Lại chí lăm thoát vòng sinh tử Ắt sớm toan noi giữ lời xưa Kìa như lớp trước Nho gia Ông thì treo tóc người hằng gối cây ([12]) Hội rồng mây vận sau phát đạt Hưởng vinh hoa danh tạc sử xanh Ðể rồi cũng chịu gia hình Tôn thân lửa chói triều đình trọng thương Vả thế gian lo phương no ấm Các nghề đều dậy sớm thức khuya Huống chi đại đạo từ bi Tục ăn mê ngủ việc gì cho nên Ông Cao Phong ba năm lập nguyện Không gần giường chõng đến một giây([13]) Ông thì thiền định trên cây ([14]) Ðặng mau thấy Phật dẹp bầy thùy ma([15]) Nay chúng ta sinh đời ngũ trược Gắng học theo lớp trước mới hay Khuyên cùng vãi đạo chúng bay Muốn mau chứng đạo thuở nay cầm quyền Chịu lao phiền ở trong ba cõi Phật nói rằng vì cái thùy ma Nó làm khốn khổ chúng ta Mắc thân hữu lậu ở nhà vô minh Việc tử sinh vô thường tấn tốc([16]) Kíp lo toan tu học cho chuyên Muốn sau nhiều phước cả duyên Chói nêu Phật pháp chớ quên lời thầy Thương chúng bay gắng công răn dạy Dễ muốn chi làm vậy mệt ta Hễ người cho biết lo xa Bé thì làm tớ lớn ra làm Thầy Nếu lúc này luật kinh chẳng rõ Biết lấy chi tiếp độ hậu côn Phước đà vào chốn Phật môn Tua trừ tham trược chớ còn sân si Học từ bi cùng là hỉ xả Lại nhớ câu Bát nhã Ba la Gắng công hàng phục quần ma Thoát vòng hắc ám lên nhà quang minh Ngộ vô sinh, pháp thân tự tại Mặc tùy duyên ba cõi ra vào Ân sâu nghĩa nặng mẹ cha Cù lao cúc dục chúng ta nên hình Ðạo sinh thành ví như trời đất Lại cho đi đầu Phật xuất gia Tưởng nên đạo cả nghiệp nhà Tiếng mình rạng chói mẹ cha cậy nhờ Nếu lơ mơ tu không đắc đạo Biết lấy chi trả thảo đền ơn Một mai phút đến vô thường Làm sao cho khỏi Diêm vương gia hình Làm súc sinh cùng loài ngạ quỉ Ðến bây giờ năn nỉ kịp đâu Thầy đà tỏ bảo trước sau Khá điều tạc dạ, mựa hầu lãng xao Nguyện xuất gia vượt qua biển khổ Ðể thân nầy ở chỗ am tranh Vậy nên lánh trược tìm thanh Theo Thầy học đạo tu hành giới trai Cơ hàn tân khổ chi nài Lóng trong tánh nước, dồi mài lòng gương. Nguyên bản của Ngài Toàn Nhựt Thiền sư (1754-1832) - Ðối chiếu từ hai bản đánh máy lưu trữ của tủ sách Giác Ðạo Như Tâm cung cấp và bản in "Lịch sử Phật Giáo đàng trong" của Nguyễn Hiền Ðức - NXB Thành Phố HCM 1995. Nguyên văn thiếu mất một câu, Chiêu Ðề soạn bổ sung câu thứ 27 - Khi nào tìm được nguyên bản, sẽ đính chính lại. (Người soạn.)
217. HOÁN TỈNH TRẦN TÂM KHUYẾN TU TỊNH ÐỘ VĂN(Văn khuyến tu 12)
Chữ rằng : “Thiên cửu địa trường” ([17]) Phật Vô lượng thọ người thường hóa sanh Ai ơi gắng lấy tu hành Ðể sau tới bực vô sanh mới nhờ Tử sanh hai chữ hững hờ Sớm còn tối mất tựa hồ chiêm bao Ai mà biết đặng phẩm cao Công danh phú quý ngó vào hư không Thạch Sùng tiếng nổi non sông Sang giàu gẫm lại cũng không mấy hồi Nghĩ đời mà lại sợ đời Khôn ngoan mà khỏi luân hồi được chăng ? Trách thân rồi lại than rằng Tử sanh phú quý như từng mây che Lợi danh ai thấy chẳng ưa Vinh hoa biết mấy cho vừa lòng ai Gẫm thân nào có lâu dài Chữ rằng “nhựt vãng nguyệt lai” mấy hồi([18]) Sự đời biết nghĩ thì thôi Giờ không toan liệu sau rồi làm sao ? Thân này lấp lửng trên cao Cây bờ dây giếng có bao lâu dài Ðội trời đạp đất khoe tài Vênh vang mà có đời đời đặng không ? Tử sanh hai chữ chẳng đồng Chết thì muôn kiếp, sống không mấy hồi Nhân sinh ai cũng thế này Cuộc vui ai thấy chẳng say sưa lòng Chữ rằng “Sắc tức thị không” Ví trong giấc mộng gẫm trong người đời Cõi trần mấy chút thảnh thơi Vênh vang cho mấy sau rồi làm sao Nhớ xưa Hàn Tín tài cao Ra tay giúp Hán biết bao công trình Làm cho Tần, Sở thất kinh Quyền cao chức trọng hiển vinh ai bì Chẳng may gặp lúc hiểm nguy Công trăm năm cũng bỏ đi một hồi Làm người như thế thì thôi Khác chi cát bụi mà chơi sự thường Sao bằng hai chữ trung bình Vui chi cho quá thất thường cực thân Chữ rằng : "Lạc thị khổ thân" Mê đường danh lợi, bỏ thân tồi tàn Có vinh hiển, có gian nan Không tu sao biết an nhàn tấm thân Chữ rằng “Nhất nhật tu nhân” ([19]) Bao nhiêu tội chướng khỏa lần sạch không Vượn còn biết mến rừng trong Người sa vào chốn bụi hồng làm chi Chim còn biết chốn ẩn vi Người không biết chỗ để khi mà về Sự đời gẫm lại mà ghê Sanh lai tử khứ nhiều bề đắng cay ([20]) Chết thì đã chắc trong tay Sống thì thấp thoáng biết ngày nào đây Than rằng biển lớn non dài Trời cao đất rộng thân nầy bao hơi Những là vật sắc dò chơi Công danh cát bụi đua bơi làm gì Chi bằng hai chữ từ bi Không trông danh lợi bận gì gian nan Chữ tu là chữ an nhàn Tham tài tắc tử, thế gian vô thường Nhớ xưa Hạng Võ tranh cường Làm cho thiên hạ tứ phương hãi hùng Ra tài ra tướng anh hùng Quân ba mươi vạn đối cùng ai hơn Một mình cứ đỉnh bạc sơn Nhà Hán cũng sợ nhà Tần cũng kinh Ở đời vinh đã nên vinh Cũng không khỏi chết bỏ mình Ô giang Hết tài trí, hết khôn ngoan Hết danh, hết lợi, hết sang, hết cường Cho hay hoa nở cũng tàn Pháo mà kêu lắm càng tan xác nhiều Làm người chớ nghĩ thấp cao Chớ so hơn thiệt mà xao xác lòng Làm thân chi giống gà lồng Sao bằng hạc nội muôn trùng cao bay Khuyên người giữ giới ăn chay Chí tâm niệm Phật có ngày thảnh thơi Thuở xưa Phật cũng ra đời Lánh vòng danh lợi ra ngoài càn khôn Mới hay Phật đạo chí tôn Làm người trước biết thiền môn tu trì Ai ơi lòng thật chớ nghi Tu hành dốc chí liễu kỳ tử sanh Tuy rằng vạn quyển thiên kinh Chẳng qua sáu chữ hồng danh rất mầu Vui lòng một chuỗi giới châu ([21]) Sớm khuya tưởng niệm công phu mà lần Ðã tu thì phải ân cần Ðừng còn luyến ngó bụi hồng làm chi Sau về Tịnh độ một khi Thiếu chi châu báu, thiếu gì kim sa Giữa không thường rải thiên hoa Xuống hồ thơm nức chín tòa kim liên Phật cùng Thánh chúng hiện tiền Hào quang chói rạng bến biên bảo đài Lời quê khuyên mấy ai ai Gắng tu đến đó đặng đài châu ngân May mà chứng đặng kim thân Ðời đời thường ở chín từng phẩm cao. Bài do Ngài Toàn Nhật Thiền sư trước tác - (sđd)
218. SÁM HỐI TÂM HƯỚNG THIỆN (Sám hối tâm 8)
Trong tám vạn bốn ngàn cửa Pháp Nói không cùng lý đạt khó thông Y theo Tịnh độ thiền môn Mở ra một cửa chánh tông chân truyền Tiếp khách thiền có duyên thời gặp Dễ tu hành mà chắc nên công Như thuyền ra đến giòng sông Nước xuôi gió thuận khỏi công chống chèo Ðường ngàn dặm một lèo thẳng tới Khỏi quanh co biển ái sông mê Khuyên đừng thấy dễ mà chê Chớ trong sự dễ nhiều bề chẳng thông Câu vô niệm ẩn trong hữu niệm Có hữu vi mới nhiễm vô vi Thử coi hoa trái vật chi Lộ ngoài mới thấy có khi trong nhành Có cội nhành mới sanh hoa trái Không cội nhành hoa trái do đâu Tụng kinh niệm Phật làm đầu Cứ theo qui tắc chớ hầu sai ngoa Tín hạnh nguyện giữa ba điều ấy Trọn một đời như vậy cho y Tín là tin chắc không nghi Niệm Phật tưởng Phật đến kỳ vãng sanh Chữ hành là làm lành một mối Giữ thường thường chẳng đổi chẳng sai Nguyện là muốn thấy Như Lai Cầu về Tịnh độ liên đài phẩm cao Do chữ Tín nhiễm vào chơn lý Hữu sở hành, năng trí kỳ tri Nguyện là chung hữu sở qui Lòng thường tư tưởng cho y như lời Ba căn ấy thấu trời tịnh độ Thất bửu trì, hoa nở chờ ta Báo thân để lại Ta bà Tánh linh về yết Di Ðà pháp vương Ra lửa vườn hết đường sanh tử Quả Bồ đề bổ xứ siêu phương Xưa nay giáo pháp chiêu chương Rõ ràng Tịnh độ là đường vãng sanh Dễ tu hành mau thành chánh quả Các nẻo đường xa lạ hiểm nguy Khuyên đừng thủ dị cầu kỳ Nghe lời tà kiến mà đi sai lầm Phật tức tâm thậm thâm tưởng niệm Niệm thường thường công chuyện chẳng can Trong nhà thiết lập một bàn Ðến thời tu niệm sửa sang đàng hoàng Mặc áo tràng thắp nhang cắm thẳng Xướng hiệu rồi thoảng thoảng lạy ngay Lạy rồi quì gối chấp tay Tự trần tên họ sám bài nguyện sanh Khi sám rành lạy ba lạy nữa Ngồi bán già mình sửa cho ngay Trừng tâm bế mục chấp tay Lóng thần mật niệm hết bài xưng dương Niệm thường thường tâm vương chủ một Chuỗi tay lần mỗi hột mỗi câu Niệm rồi chấp chuỗi khấu đầu Niệm ba câu nữa mỗi câu mười lần ([22]) Mỗi mười lần chuyên thân khể thủ ([23]) Hồi hướng văn sám đủ kiền thiền ([24]) Khởi thân chiêm ngưỡng án tiền ([25]) Tạ đàn ba lạy hữu biên thoái hồi Nghi Tịnh độ dọn rồi rất chắc Lóng tâm thần sắp đặt chẳng sai Y theo giáo pháp Như Lai Chánh tông truyền kế chẳng sai chẳng lầm Ðạo thậm thâm khó tầm khó kiếm Sẵn sàng đây dễ niệm dễ tu Kính khuyên nam nữ trượng phu Biết thương bổn tánh phải tu kịp thời Chớ buông lời nay mai sẽ tính Cơn vô thường biết định bao lâu Cõi trần trăm thảm ngàn sầu Chưa toan dời bước còn cầu việc chi Một câu niệm A Di Ðà Phật Tiêu tội nhiều, phước thật vô biên Căn lành trước có nhân duyên Ngày nay gặp Phật phải chuyên tu hành Nguyện chúng sanh đồng thành chánh giác Chứng hưởng phần khoái lạc tiêu diêu Cần tu tịnh độ bao nhiêu Ðồng về cực lạc cao siêu liên đài Văn tịnh độ một bài chỉ tắt Nghi tu hành sắp đặt trước sau Muốn tu phải học cho làu Ðến khi hành sự mới mau việc làm Khuyên đừng thế sự luận đàm Tránh đường danh lợi để ham tu hành Nguyện sanh về cõi lạc thành Lâm chung gặp Phật vãng sanh sen vàng Nam mô Tịnh độ Lạc bang Chứng minh đệ tử Tây phang mau về. Trích "Pháp Môn Tịnh Ðộ" - Chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.
219. TIÊU TỰ THẦN CHUNG (Chuông sớm chùa Tiêu)(Văn khuyên tu 13)
Khách chùa Tiêu ân cần Phật sự Ðêm đêm hằng phân thứ âm dương Giấc hòe hồn bướm mơ màng Lầu quân, trống đã điểm sang năm dùi Nỗi buồn vui, mặc lòng nhộn nhã Gối chưa êm chưa hả sự lòng Gió đưa mấy tiếng thần chung Lóng tai nghe lọt, bên lòng vơi vơi Dọi hòa trời, sao bay lẻ tẻ Vén nhành dương, he hé bóng câu Chày kình thánh thót đêm thâu Tin nghe thì một, tin sầu thì trăm Kẻ chẳng nằm, ngồi chăm đạo vị Niệm cầu kinh, xử trí hằng đua Dầu không lộc nước quyền vua Cầu xoa lỗ kiến, cầu dùa chòm ong Tiếng lạnh lùng, vận vòng sầu thiết Khách tha phương sầu biết mấy mươi Phủi buồn lập chí thảnh thơi Ðã ôm sự nước, lại bươi sự nhà Chạnh lòng già, riêng buồn chích gối Một tiếng nghe bằng suối nước trong Thuyền ai dặt dựa trên sông Riêng than mấy tiếng não nùng nửa đêm Kẻ lòng êm càng nhiều phổ tế Ngộ thiền cơ làm lễ Y vương Phong đô khi nổi hỏa thang Dạ còn mơ tưởng mở mang từ đồ Ánh vầng ô vén mù dương cốc Tuệ nhãn xem trần tục cũng thanh Ðường thiền khéo dắt bóng quanh Cũng tay tinh trí tu hành rất sâu Khách ngao du hứng tình vì cảnh Bộ nguyên đề, phủ chánh tay cao Rừng thiền sít sát án ngoài tào Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao Chày thỏ bạt vang muôn khóm sóng Oai kình tan tác mấy cung sao Não phiền kẻ nấu sôi như vạc Trí tuệ người mài sắc tựa dao Mờ mịt gẫm đường say mới tỉnh Phù sinh trong một giấc chiêm bao. Bài do Mạc Thiên Tích trước tác - Ðây là bài thứ III trong mười bài được trích ra từ "Hà Tiên Quốc Âm Thập Vịnh" của Sĩ Lân Mạc Thiên Tích (1715-1780) - Bản thảo do Giác Ðạo - Dương Kinh Thành cung cấp - tủ sách Giác Ðạo - Như Tâm TPHCM 1996.
220. BÁT NHÃ TÂM KINH (IV)
Khi hành Bát nhã Ba la Ngài Quan Tự Tại soi ra tột cùng Thấy ra năm uẩn đều không Bao nhiêu khổ ách khốn cùng độ qua Nầy Xá lợi tử xét ra Không là sắc đó, sắc là không đây Sắc cùng không chẳng khác sai Không cùng sắc, cũng sánh tày như nhau Thọ, tưởng, hành, thức uẩn nào Cũng như sắc uẩn, một màu không không Này Xá lợi tử ghi lòng Không không tướng ấy đều không tướng hình Không tăng giảm, không trược thanh Cũng không diệt, cũng không sanh pháp đồng Vậy nên trong cái chơn không Vốn không năm uẩn cũng không sáu trần Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý, thân Vị, hương, xúc, pháp, cùng phần sắc thinh Từ không giới hạn mắt nhìn Ðến không ý thức, vô minh cũng đồng Hết vô minh cũng vẫn không Hết già, hết chết, giả không có gì Không khổ, tập, diệt, đạo kia Trí tuệ chứng đắc cũng là không không Sở thành sở đắc bởi không Các vì Bồ tát nương tòng huệ năng Tâm không còn chút ngại ngăn Nên không còn chút băn khoăn sợ gì Ðảo điên mộng tưởng xa lìa Niết bàn mới đến bên kia bến bờ Ba đời chư Phật sau xưa Ðắc thành chánh giác đã nhờ tuệ năng Trí tuệ năng lực vô ngần Ðại minh vô thượng, đại thần cao siêu Trí tuệ năng lực có nhiều Thật là thần chú trừ tiêu não phiền Trí tuệ năng lực vô biên Dẫn đường giải thoát qua bên giác ngàn Liền theo lời chú thuyết rằng Ðộ tha giác ngộ khắp trần chúng sanh. Trích "Nghi Thức Tụng Niệm" - Hệ phái Khất sĩ - Thành hội Phật giáo TPHCM 1994.
Chú thích
[1]) Lương : con vạc sành [2]) Ngũ uẩn. [3]) Lục căn - Lục trần. [4]) Tham sân si. [5]) Thuyền không đáy. [6]) Quét tuyết trước cửa nhà mình, ngụ ý chỉ lo riêng cho mình. [7]) Không nở thêm ra. [8]) Có sách ghi: tam thừa diệc trí thử ngu, hay tam thừa tuyệt trí thử ngu. [9]) Trang Chu mộng thấy mình hóa thành bướm, không biết mình là bướm hay bướm là mình. [10]) Các Tăng chúng chung quanh. [11]) Tổ Linh Hựu (770-853) viết trong văn cảnh sách "Tấn đạo nghiêm thân tam thường bất tức". [12]) Lưu Tuấn Hiếu liêm đời nhà Lương, nghèo nhưng ham học, ở nhờ chái nhà thiên hạ, treo tóc đốt đuốc học, lỡ ngủ ngục thì bị giựt cháy tóc. Tư Mã Quang đời nhà Tống, ham học, đẽo cây làm gối tròn để ít ngủ mà học. [13]) Nguyên văn "Cật cùng giường chẳng bén một giây". [14]) Thiền sư Ðạo Lâm (741-824) sôáng trên cây ở núi Tầm Vọng, do thiền định lâu ngày, chim quạ đến làm tổ trên đầu ngài , nên sau người ta gọi ngài là Ô Sào Thiền sư. [15]) Ma ngu si - ma ngủ. [16] Tiến bộ nhanh chóng. [17]) Trời lâu đất dài. [18]) Mặt trời đi, mặt trăng lại. Ý nói thời gian trôi đi nhanh chóng [19]) Mỗi ngày làm một điều nhân, có sách viết "nhứt nhựt tu thân.” [20]) Sinh ra, chết đi. [21]) Chuỗi bồ đề [22]) Ba câu : Quan Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ Tát [23]) Cúi đầu xá. [24]) Lạy. [25]) Ðứng dậy.
Từ khóa » Kệ Cảnh Tỉnh Vô Thường
-
Kệ Cảnh Tỉnh Vô Thường - Thích Huệ Duyên - NhacCuaTui
-
- KỆ CẢNH TỈNH VÔ THƯỜNG - Thích Huệ Duyên. - YouTube
-
Kệ Cảnh Tỉnh Vô Thường - YouTube
-
Sám Cảnh Tỉnh Vô Thường (9 Bài) - Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
-
Hội Quán A Di Đà - Kệ Cảnh Tỉnh Vô Thường - Thầy Thích Huệ ...
-
Kệ Cảnh Tỉnh Vô Thường - TikTok
-
Thơ : Cảnh Tỉnh Vô Thường | Phật Giáo Việt Nam
-
CẢNH TỈNH VÔ THƯỜNG | CHÙA TAM BẢO - TỈNH QUẢNG NAM
-
Kệ Vô Thường | Linh Quy Pháp Ấn
-
Cảnh Tỉnh! Vô Thường - Đạo Phật Ngày Nay
-
Hội Quán A Di Đà - Kệ Cảnh Tỉnh Vô Thường - Thầy Thích Huệ ...
-
Cảnh Tỉnh Vô Thường - Đạo Phật Ngày Nay
-
MP3 Thích Huệ Duyên Tụng Niệm
-
Chùm Thơ Về Quán Vô Thường - .vn