Phân Tích Biến Dạng Và đánh Giá độ Cứng Thực Tế Của Dầm ... - 123doc
Thông qua ví dụ tính toán một trường hợp cụ thể, phương trình thiết lập đã được kiểm tra so sánh với kết quả tính toán bằng phương pháp phần tử hữu hạn, cho sai số lớn nhất là 1.8%. Trên cơ sở đó và từ kết quả độ võng thực tế của dầm cho trước, bài báo đưa ra phương pháp đánh giá độ cứng thực tế của dầm này.
Trang 1PHÂN TÍCH BIẾN DẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ ĐỘ CỨNG THỰC TẾ CỦA
DẦM GIẢN ĐƠN CÓ ĐỘ CỨNG CHỐNG UỐN THAY ĐỔI
Trường Đại học Giao thông vận tải
thường dẫn đến việc phân tích biến dạng uốn (độ
võng, góc xoay) của dầm dưới tác dụng của tải
trọng tập trung Trong tính toán, chúng ta thường
hoặc sử dụng độ cứng (EI) là hằng số hoặc sử
dụng độ cứng (EI) thay đổi theo quy luật cho
trước Tuy nhiên, trong thực tế độ cứng của kết
cấu nhịp trên từng đoạn thường không giống
nhau theo như giả thiết tính toán (với cầu dầm
giản đơn đó là ảnh hưởng của dầm ngang, với
các cầu dầm liên tục đó là ảnh hưởng của các vị
trí tăng cường và các hư hỏng tiềm ẩn trong kết
cấu nhịp,…) Để làm rõ vấn đề này, bài báo tiến
hành xây dựng phương trình độ võng và góc xoay
của dầm giản đơn bằng phương pháp giải tích,
với trường hợp dầm có nhiều đoạn với độ cứng
chống uốn khác nhau Thông qua ví dụ tính toán
một trường hợp cụ thể, phương trình thiết lập đã
được kiểm tra so sánh với kết quả tính toán bằng
phương pháp phần tử hữu hạn, cho sai số lớn
nhất là 1.8% Trên cơ sở đó và từ kết quả độ
võng thực tế của dầm cho trước, bài báo đưa ra
phương pháp đánh giá độ cứng thực tế của dầm
này
Từ khóa: biến dạng uốn, độ cứng chịu uốn, tải
trọng tập trung, phương pháp phần tử hữu hạn
1 Giới thiệu chung
Bài toán tính độ võng, góc xoay của dầm rất
gần gũi với bài toán xếp tải tĩnh trong kiểm định
và thử tải cầu đã và đang được áp dụng cho các
công trình cầu mới đưa vào sử dụng hay đã qua
thời gian dài khai thác cần kiểm định lại Nhưng
phần lớn các báo cáo kiểm định và thử tải [1-3], thường dừng ở so sánh kết quả đo ngoài thực tế với kết quả tính toán lý thuyết Trong đó các số liệu như mô đuyn đàn hồi (E), mô men quán tính (I) lấy từ tài liệu thiết kế chứ không phải E, I thực
tế của kết cấu Hạn chế này một phần cũng là do thiếu những ngân hàng dữ liệu và thiếu những phương pháp hiện đại để đánh giá Ngày nay, cùng với sự phát triển khoa học, các phương pháp và lý thuyết mới ra đời góp phần khai thác các số liệu một cách triệt để hơn, một trong các hướng phát triển đó là ứng dụng mạng nơ ron nhân tạo (Artificial Neural Networks) trong kỹ thuật Ứng dụng mạng nơ ron nhân tạo trong chuẩn đoán kết cấu, xác định vị trí hư hỏng và mức độ hư hỏng của kết cấu cũng không phải là công việc ngoại lệ [4-7] Việc áp dụng mạng nơ ron nhân tạo trong chuẩn đoán, xác định vị trí hư hỏng và mức độ hư hỏng của kết cấu đòi hỏi một ngân hàng dữ liệu về các trường hợp hư hỏng của dầm Do đó, để đánh giá vị trí hư hỏng và mức độ hư hỏng một cách tổng quát, một số tác giả đã lựa chọn cách tiếp cận bằng cách chia dầm thành nhiều đoạn nhỏ, sau đó đi xác định độ cứng (EI) cho các đoạn dầm tương ứng, đoạn dầm nào có độ cứng (EI) giảm bất thường thì có thể coi như đoạn dầm đó bị hư hỏng và mức độ
hư hỏng sẽ là hiệu của một trừ đi tỉ lệ giữa EI đoạn hỏng với EI đoạn không hỏng [6-7] Trong các tài liệu tham khảo [4-7], các tác giả phần lớn
là sử dụng kết quả phản ứng động lực học để đánh giá, kết quả phản ứng động lực học chứa đựng nhiều thông tin nhưng cũng bị ảnh hưởng
Trang 2của nhiễu cao, bên cạnh đó việc đo đạc ngoài
thực tế và xử lý kết quả cũng cần những người
am hiểu về phân tích động lực học
Hiện nay, với sự phổ biến tính toán bằng
phương pháp phần tử hữu hạn (PTHH) việc tạo
ra ngân hàng dữ liệu để phục vụ công tác nói trên
trở nên dễ ràng hơn Các bài toán phức tạp được
giải một cách thuận tiện hơn nhưng bên cạnh sự
thuận lợi trong tính toán thì người tính toán khó
thấy rõ được các thành phần cấu thành nên kết
quả mà chỉ nhìn thấy con số ở kết quả Do đó khi
nhận được kết quả tính toán rất khó có những
phán đoán chính xác về sự làm việc của kết cấu
Để giải quyết các hạn chế của công việc kiểm
định - thử tải tĩnh đang phải đối mặt, xét đến các
điều kiện thực tế từ công tác kiểm định - thử tải
tĩnh đem lại, đó là kết quả đo độ võng của dầm
dưới tác dụng của tải trọng tĩnh [1-3], cho thấy
việc cần thiết phải tạo ra ngân hàng dữ liệu về độ
võng của dầm có độ cứng (EI) thay đổi bất kỳ
Với yêu cầu thực tế đó, bài báo tiến hành xây
dựng phương trình độ võng, góc xoay của dầm
có độ cứng thay đổi bất kỳ dưới tác dụng của tải
trọng tĩnh bằng phương pháp giải tích Kết quả
phân tích trong bài báo bước đầu góp phần tạo
cơ sở lý thuyết cho việc tính toán một ngân hàng
dữ liệu đối với kết quả chuyển vị của dầm có độ
cứng thay đổi bất kỳ phục vụ cho các ứng dụng
xác định hư hỏng, mức độ hư hỏng và các ứng
dụng khác sau này Kết quả tính toán bằng công
thức đề xuất được so sánh với kết quả tính toán
bằng phương pháp phần tử hữu hạn
2 Cơ sở lý thuyết
2.1 Trường hợp dầm có EI là không đổi
Xét trường hợp dầm giản đơn có chiều dài nhịp L, độ cứng EI, chịu tải trọng P tác dụng tại vị trí L/2 khi đó theo S T Mau [8] độ võng và góc xoay của dầm được xác định như sau:
( ) M x( ) ; (x)= M x( )
Hình 1 Tải trọng tác dụng và dạng đường cong
độ võng tương ứng
Trong trường hợp dầm giản đơn, xét P tác dụng tại vị trí giữa nhịp (L/2), khi đó có được mô men (M(x)) là hàm có dạng sau:
( )
khi 0 x L/2 2
P (L-x) khi L/2 x L 2
P x
M x
≤ ≤
=
(2)
Thay (2) vào (1) thu được kết quả góc xoay và
độ võng của dầm như sau:
( 4 ), 0 x L/2 16
P
EI
(3 4 ), 0 x L/2 48
P
EI
2.2 Xét trường hợp dầm có EI thay đổi
Xét một nửa dầm có n đoạn dầm với các giá trị độ cứng tương ứng là EI1, EI2, …, EIn như hình minh họa dưới đây:
Hình 2 Minh họa đoạn dầm có các độ cứng khác nhau
Khi đó theo lý thuyết ở mục 2.1, góc xoay và chuyển vị khi xét đối với đoạn dầm thứ i sẽ được viết
dưới dạng sau:
L/2
EI1 EI2 EIi EIi+1 EIn
P
X
x1 x2 xi xi+1 xn
Trang 3( )
C , x x x 4
i
P
( )
C x C , x x x 12
i
P
C = ;
( ) 1
n
C
= − = −
trường hợp không đối xứng sẽ sử dụng điều kiện biên tại hai đầu dầm, việc xây dựng sẽ tương tự)
1i , C2i
tích phân ở công thức (1)
Như vậy để có thể xác định chuyển vị và góc xoay của toàn bộ dầm thì cần phải xác định được các
hệ số C1( )i , C( )2i tương ứng
Từ mối quan hệ liên tục về chuyển vị và góc xoay ta có được các phương trình sau;
( ) ( 1)
( ) ( )
i i
θ = θ và ( ) ( 1)
( ) ( )
i i
thay các phương trình trên vào ta nhận được:
1
+
1
+
1i, C2i
C và ( 1) ( 1)
1i , C2i
1
+ +
2 ( )
1
16
n
n
P L C
EI
1
i
C
(1)
2
Ci Như vậy
2 1
1
1
C
n
i
−
= − + −
i
i
= − +
Từ kết quả trên nhận thấy trong thành phần hệ số tích phân C1( )i , C( )2i bằng hằng số tích phân của
trường hợp EI không đổi cộng thêm các cụm tương ứng
1
1
n
j i j j
−
−
i
−
Từ kết quả phân tích lý thuyết cho thấy có thể
sử dụng dữ liệu độ võng và góc xoay của trường
hợp chịu tải tĩnh để nhận ra sự khác biệt độ cứng
của các đoạn dầm Trên cơ sở này hoàn toàn có
thể xây dựng được ngân hàng dữ liệu về các
trường hợp độ cứng (EI) thay đổi trong dầm làm
cơ sở cho việc sử dụng mạng nơ ron nhân tạo để
đánh giá hư hỏng hay những thay đổi độ cứng (EI) trong dầm
2.3 Cơ sở lý thuyết giải bài toán ngược (xác định độ cứng (EI) của dầm)
Trên cơ sở ngân hàng dữ liệu được tạo ra từ
cơ sở lý thuyết trong mục 2.1 và 2.2, như vậy bộ
Trang 4dữ liệu trong ngân hàng kết quả độ võng nào sai
lệch với kết quả độ võng nhận được từ kết cấu
bên ngoài (đo đạc từ thực tế) nhỏ nhất sẽ cho
chúng ta thông tin về độ cứng của kết cấu tương
ứng với bộ kết quả độ võng đó Bài báo này sử
dụng tiêu chí trung bình bình phương bé nhất
giữa kết quả độ võng thu được từ kết cấu bên
ngoài với kết quả độ võng có được trong ngân
hàng độ võng (của một số trường hợp có các độ
cứng (EI) xác định), sai số nhỏ nhất thu được sẽ
chỉ ra trường hợp có độ cứng (EI) tương ứng
i
thu được từ kết cấu bên ngoài tại vị trí thứ i của
một dầm bất kỳ;
j i
hợp thứ j (EI thay đổi ở trường hợp j) tại vị trí thứ
i của dầm Khi đó sai số trung bình bình phương
1
1 n
i i i
n =
i
y là kết quả độ võng nhận được Err(k)=min {Err(j)} thì
có thể dự đoán dầm đang xét có độ cứng EI thay đổi theo trường hợp k
Kết quả số ở mục 3 sẽ chứng minh cho sự đúng đắn của phương pháp xây dựng hàm độ võng và góc xoay của dầm có nhiều độ cứng (EI) dưới tác dụng của tải trọng tĩnh và phương pháp xác định độ cứng EI của một trường hợp dầm bất
kỳ
3 Ví dụ phân tích đánh giá
3.1 Phân tích tính toán
Ví dụ tính toán đối với dầm Euler-Bernoulli giản đơn với các số liệu sau:
Nhịp L
(m)
Diện tích
A (m2)
Mô men quán tính (m4)
Trọng lượng riêng
ρ (kg/m3)
Mô đun đàn hồi E (kN/m2)
Hệ số Poisson υ
Tỉ lệ giảm chấn ξ
Trong trường hợp này dầm chia làm 16 đoạn mỗi đoạn dài 2.25m, giả sử giảm độ cứng (hư hỏng) tại đoạn thứ 6 và đoạn thứ 11 Công thức xác định mức độ giảm độ cứng (hư hỏng) được thể hiện như:
( )d ( ) ( 1 i) ( , 0 i 1, 1, 2, , )
EI = EI − α ≤ α ≤ i = n
Trong đó: n là tổng số các đoạn dầm, d chỉ số thể hiện hư hỏng, i thể hiện đoạn hư hỏng; trong ví dụ
Với kết quả trên áp dụng phương pháp đề xuất trên với các số liệu như minh họa hình 3
Hình 3 Minh họa đoạn dầm bị hư hỏng
áp dụng công thức (10) ta nhận được kết quả như sau:
2 2
1
0.00159
C
= − + − =−
∑
2
0.00
C
= − + − −=
EI (EI)d EI
x1=11.25
x2=13.5
x3=18
Trang 52 (3)
1
3
C
16 0.001525
P L
EI
=
−
= −
áp dụng công thức (11) nhận được kết quả như sau:
(1)
2
C =0
C
6 6 0.0011166
3
= − + =−
∑
thay vào công thức trên có phương trình độ võng đoạn dầm 1 là:
( )
1
06 3 1.56848 *10
C x C ( 0.00159) 0, 0 x 11.25
x
E
−
phương trình độ võng đoạn dầm 2 là:
1 2
3
2 1.96
C x C 06 *10 ( 0.001739) 0.001116 , 11.25 x 13
−
phương trình độ võng đoạn dầm 3 là
( )
3
06 3 1.56848 *10 ( 0
C x C 001525) 0.000813, 13.5 x 18 12
P
E
−
Xét sự quan tâm đến chuyển vị tại giữa nhịp
( )
v x , giá trị tăng về độ lớn khi (3) (3)
1 , C2
lớn, từ công thức (10) và (11) ở trên có thể
thấy bên cạnh sự phụ thuộc vào độ lớn tải
trọng, độ cứng (EI) thì độ võng còn phụ thuộc
vào vị trí hư hỏng và phạm vi hư hỏng Công
thức trên cũng cho thấy phần tử hư hỏng càng
gần giữa nhịp thì độ võng tại giữa nhịp càng lớn, phạm vi hư hỏng càng dài thì độ võng tại giữa nhịp cũng càng lớn
3.2 So sánh với việc tính toán bằng phương pháp PTHH
Kết quả tính toán độ võng (đơn vị m) với các vị trí tiêu biểu x1=9m; x2=13.5m; x3=18m
Qua so sánh ba vị trí ở trên cho thấy công
thức đề xuất bên cạnh sự rõ ràng trong phân tích
còn có độ tin cậy cao Kết quả mặc dù chỉ dừng
lại phân tích tĩnh nhưng cũng có thể sử dụng
chuyển vị tĩnh tại giữa nhịp để xác định tần số
dao động của dạng dao động uốn thứ nhất của
dầm bị hư hỏng ω = 1 / mL/ 2 ( / 2)ν L ; m L/2 khối
lượng quy đổi về giữa nhịp; v(L/2) chuyển vị tại
giữa nhịp do lực bằng đơn vị gây ra
3.3 Xác định độ cứng (EI) của một trường hợp dầm bất kỳ
Ví dụ tính toán đối với dầm Euler-Bernoulli giản đơn với các số liệu sau:
Nhịp L
(m)
Diện tích A
(m2)
Mô men quán tính (m4)
Trọng lượng riêng
ρ (kg/m3)
Mô đun đàn hồi E (kN/m2)
Hệ số Poisson υ
Tỉ lệ giảm chấn ξ
Trong trường hợp này dầm chia làm 16 đoạn
(17 nút) mỗi đoạn dài 2.25m, giả sử độ cứng (EI)
tại đoạn thứ 7 và đoạn thứ 10 bằng 0.7EI của các
đoạn dầm còn lại; Tải trọng P=100kN tác dụng tại
giữa nhịp Để cho gần với thực tế, kết quả tính toán độ võng đưa vào sẽ được tính bằng phương pháp PTHH (do không có kết quả thực nghiệm)
Trang 6và kết quả đưa vào tìm sai số nhỏ nhất sẽ được
lấy từ công thức đề xuất
Kết quả tính toán độ võng bằng phương pháp PTHH:
Vị trí Nút 1 Nút 2 Nút 3 Nút 4 Nút 5 Nút 6 Nút 7 Nút 8 Nút 9
độ võng
-0.00394
-0.00777
-0.01138
-0.01464
-0.01746
-0.01971
-0.02116
-0.02164
Giả thiết ngân hàng dữ liệu chỉ xét hai đoạn dầm đối xứng có EI khác so với các đoạn dầm còn lại, khi đó có các kịch bản như bảng sau:
Bảng 1 Các kịch bản độ cứng của dầm (xét cho nửa dầm)
Vị trí
Độ cứng
Đoạn dầm 1
Đoạn dầm 2
Đoạn dầm 3
Đoạn dầm 4
Đoạn dầm 5
Đoạn dầm 6
Đoạn dầm 7
Đoạn dầm 8
2.3 thì sẽ có 41 sai số bình phương ứng với 41 kịch bản trong bảng 1
Bảng 2 Các sai số trung bình bình phương ứng với các kịch bản độ cứng ở bảng 1
Vị trí
Độ cứng
Đoạn dầm 1
Đoạn dầm 2
Đoạn dầm 3
Đoạn dầm 4
Đoạn dầm 5
Đoạn dầm 6
Đoạn dầm 7
Đoạn dầm 8
0.5EI 1.428865 1.242711 0.892508 0.442234 0.420374 1.049529 1.773597 2.484852 0.6EI 1.439461 1.314591 1.075737 0.741651 0.348831 0.248335 0.696039 1.171109 0.7EI 1.447040 1.366448 1.211151 0.990831 0.717945 0.407685 0.079970 0.238196 0.8EI 1.452731 1.405588 1.314391 1.184543 1.023524 0.841408 0.652620 0.477313 0.9EI 1.457161 1.436166 1.395455 1.337438 1.265642 1.184870 1.101492 1.023046
Ghi chú: Giá trị trong bảng 2 chưa nhân thêm 10 -3
Từ kết quả ở bảng 2 có thể nhận thấy giá trị
nhỏ nhất rơi vào kịch bản 24, trường hợp đoạn
dầm 7 và 10 có độ cứng là 0.7EI, kết quả này
đúng với giả thiết xây dựng trong mô hình PTHH
của bài toán đưa vào Tương tự với cách làm
trên, nhóm tác giả cũng khảo sát với trường hợp
hư hỏng (giảm độ cứng) tại phần tử 6 với phần tử
11 và phần tử 8 với phần tử 9 cũng thu được kết
quả chính xác như trên
Trên đây là một ví dụ đơn giản góp phần thấy
rõ hơn sự cần thiết của việc thiết lập phương
trình độ võng của dầm ứng với các trường hợp
độ cứng khác nhau Ví dụ trên mới chỉ làm cho
41 trường hợp, nếu với số lượng lớn hơn (gần
với thực tế hơn) thì cần có hỗ trợ của mạng nơ
ron nhân tạo để giải quyết khối lượng lớn công việc
4 Kết luận
Thông qua biến đổi giải tích của một trường hợp cụ thể bài báo đã chỉ ra được các tham số thêm vào công thức độ võng khi dầm có nhiều độ cứng (EI) khác nhau chịu tải trọng tĩnh Qua đó cho thấy có thể sử dụng kết quả độ võng để đánh giá các phạm vi hư hỏng trong dầm giản đơn nếu
có ngân hàng dữ liệu đủ lớn
Với việc giải bài toán dầm có độ cứng thay đổi bất kỳ (vị trí và phạm vi thay đổi) bài báo góp phần cho việc phân tích chính xác hơn phản ứng của kết cấu ngoài thực tế dưới tác dụng của tải trọng tĩnh Bài báo thông qua biến đổi giải tích
Trang 7nên dễ dàng nhìn rõ xu hướng tăng giảm trong
kết quả cũng như các tham số ảnh hưởng chính
đến kết quả
Kết quả phân tích bước đầu phục vụ xây dựng
ngân hàng dữ liệu về chuyển vị thực tế của dầm
phục vụ cho việc chuẩn đoán kết cấu, xác định độ
cứng thực tế của từng đoạn kết cấu thông qua
các phương pháp hiện đại, đặc biệt là phương
pháp mạng nơ ron nhân tạo Bên cạnh đó với kết
quả này bước đầu hướng tới việc sử dụng hiệu
quả hơn những kết quả kiểm định, thử tải tĩnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Trường Đại học Giao thông vận tải (2004), “Báo
cáo thử tải cầu Kiền”
[2] Trường Đại học Giao thông vận tải (2005), “Báo
cáo thử tải cầu Bính”
[3] Hoàng Hà, Nguyễn Hữu Hưng, Nguyễn Đức
Vương, Nguyễn thị Cẩm Nhung (2006), “Một số
vấn đề mới về phân tích kết cấu cầu dây văng
hiện đại qua công việc thử tải cầu Bãi Cháy”,
Tạp chí Giao thông vận tải, số tháng 11
[4] W.T Yeung, J.W Smith (2005) “Damage de-tection in bridges using neural networks for pat-tern recognition of vibration signatures”, Engi-neering Structures 27, pp685–698
[5] M Mehrjoo, N Khaji, H Moharrami, A Bahreini-nejad (2008) “Damage detection of truss bridge joints using Artificial Neural Networks”, Expert Systems with Applications 35, pp1122–1131 [6] Jiangpeng Shu, Ziye Zhang, Ignacio Gonzalez, Raid Karoumi (2013) “The application of a damage detection method using Artificial Neural Network and train-induced vibrations on a simpli-fied railway bridge model”, Engineering Struc-tures 52, pp408–421
[7] Jiangpeng Shu, Ziye Zhang (2012) “Damage detection on railway bridges using Artificial Neural Network and train‐induced vibration”, Master of Science Thesis, Royal Institute of Technology (KTH), Stockholm, Sweden
[8] S T Mau (2012) “Introduction to Structural Analysis”, Taylor & Francis Group, LLC
Ngày nhận bài:12/5/2016
Ngày nhận bài sửa lần cuối:29/6/2016
Từ khóa » độ Cứng Ei
-
[PDF] Phân Tích Biến Dạng Và đánh Giá độ Cứng Thực Tế Của Dầm Giản đơn ...
-
độ Cứng Của Tiết Diện - Tư Vấn Kết Cấu, BTCT, Thi Công Xây Dựng
-
ảnh Hưởng Của độ Cứng đến Mô Men Trong Hệ Siêu Tĩnh
-
[PDF] SỨC BỀN VẬT LIỆU VÀ KẾT CẤU
-
Danh Lê - Thầy ơi. Cho E Hỏi Khi Biết độ Cứng Chống Uốn... | Facebook
-
[PDF] CHỌN TỶ LỆ HỢP LÝ ĐỘ CỨNG CỦA CÁP (EF) VÀ DẦM CỨNG ...
-
Công Thức Độ Cứng Của Thanh
-
Etabs - Giảm độ Cứng Của Các Cấu Kiện Cột, Dầm, Vách - KetcauSoft
-
(DOC) CH NG 9KẾT CẤU VÁCH | Tuan Nguyen
-
Độ Cứng Của Bê Tông – Wikipedia Tiếng Việt
-
(PDF) Ảnh Hưởng Của độ Cứng Dầm Nối đến Sự Làm Việc Chịu Xoắn ...
-
[DOC] Tính Toán Kết Cấu Bê Tông Cốt Thép Hình - Bộ Xây Dựng