Pháo Không Giật B-10 82 Mm – Wikipedia Tiếng Việt

Pháo không giật B-10 82 mm
LoạiPháo không giật chống tăng
Nơi chế tạo Liên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ1950 - nay
Sử dụng bởiXem Các nước sử dụng
TrậnChiến tranh Việt NamNội chiến LàoChiến tranh Yom Kippur[1]Chiến tranh thuộc địa Bồ Đào NhaNội chiến Liban[2]Chiến tranh biên giới Việt - Trung 1979Nội chiến Somali[3]Nội chiến Angola[4]
Lược sử chế tạo
Người thiết kếKBM (Kolomna)
Các biến thểK65, K65-1 (Type 65 và Type 65-1)
Thông số
Khối lượng85,3 kg; 71,7 kg Khi có đạn
Chiều dài1,85m
Kíp chiến đấu4
Cỡ đạn82 mm
Cơ cấu hoạt độngBắn từng phát
Góc nâng-20 ° đến 35 °
Xoay ngang250-360°
Tốc độ bắn5-7 phát/phút
Sơ tốc đầu nòng650 m/s
Tầm bắn hiệu quả400 m
Tầm bắn xa nhất4,5 km
Chế độ nạpKhóa nòng sau
Ngắm bắnỐng ngắm PBO-2

Pháo không giật B-10 (Tiếng Nga: Bezotkatnoye orudie-10) hay còn được biết đến với tên gọi RG82 ở Đông Đức,[5] là loại pháo không giật nòng trơn cỡ 82 mm[6] do Liên Xô thiết kế và sản xuất, được đưa vào sử dụng từ năm 1954 đến nay. Loại súng không giật này được thiết kế nhằm thay thể cho khẩu SPG-82 sử dụng từ Thế chiến thứ hai. Đến đầu những năm 1960, B-10 được bổ sung và thay thế bằng súng chống tăng không giật SPG-9 cỡ nòng 73 mm. Loại pháo này có thể mang trên xe bọc thép BTR-50 và thích hợp trang bị cho các đơn vị dù. Mặc dù khá lỗi thời, nó vẫn được các quốc gia trên khắp thế giới sử dụng xuyên suốt Chiến tranh Lạnh.[7][8] Giống như các loại súng không giật khác, ở Việt Nam, B-10 được gọi chung là súng DKZ hoặc SKZ, tên định danh của nó trong Quân đội Nhân dân Việt Nam là DKZ82-B10 (súng DKZ cỡ nòng 82 mm tên B-10).

Đặc điểm và sử dụng

[sửa | sửa mã nguồn]

B-10 được thiết kế bởi phòng thiết kế khí cụ quân sự KBM ở Kolomna - phòng thiết kế vũ khí chống tăng tiếng ở Liên Xô cũ, sau này các vũ khí chống tăng hiện đại của Liên Xô cũng được thiết kế tại đây như tên lửa 3M6 Shmel, 9M14 Malyutka, pháo không giật B-11 cùng các loại súng cối và súng DKZ khác. Nó được thiết kế với hình dáng nhỏ nhẹ hơn so với SPG-82 nhằm dễ mang theo, vận chuyển. B-10 có 1 giá 3 chân cùng 2 bánh xe có thể gập lại dễ dàng để kéo đi. Đạn được nạp từ phía sau lên súng, khi bắn, B-10 không phun lửa mà chỉ tỏa ra khói, hệ thống chống giật nằm ở nòng súng chính là bộ phận giúp chống giật cho súng. B-10 được trang bị 1 ống ngắm quang học PBO-2

Lịch sử hoạt động

[sửa | sửa mã nguồn]
Xe bọc thép M-113 bị pháo DKZ của Quân đội Nhân dân Việt Nam tiêu diệt

Cuộc chiến nổi tiếng nhất mà B-10 được sử dụng là Chiến tranh Việt Nam. Nó đã được Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng rất hiệu quả trong nhiệm vụ chống tăng-thiết giáp, tiêu diệt bộ binh, phá bãi mìn vật cản, tiêu diệt công sự. Rất nhiều xe tăng M-41, M-48 và xe bọc thép M-113 của Quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã bị tiêu diệt bằng nhiều loại súng DKZ trong đó có B-10.

Ngày nay, do các loại xe tăng ngày càng có vỏ giáp dày hơn, còn được bảo vệ bằng ERA nên B-10 chỉ cón có thể tiêu diệt các loại tăng thiết giáp có vỏ giáp mỏng còn đối với xe tăng được bảo vệ ERA thì nó gần như vô dụng.

Hiện đại hóa

[sửa | sửa mã nguồn]

Cục Kỹ thuật Binh chủng Pháo binh, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã chủ trì thực hiện đề tài "Cải tiến giá chuẩn bị phần tử bắn đêm của các loại súng ĐKZ" nhằm phục vụ pháo thủ chuẩn bị các phần tử bắn đêm một cách chính xác, nhanh chóng, bảo đảm yếu tố bí mật, bất ngờ và tiếp tục giảm khối lượng mang vác của bộ đội trong quá trình huấn luyện. Qua một thời gian nghiên cứu, các tác giả đã chế tạo thành công giá chuẩn bị phần tử bắn ban đêm với nhiều ưu điểm nổi trội so với sản phẩm cũ. Giá gồm 4 bộ phận chính: Bộ phận tầm; bộ phận hướng; chân giá và bộ phận lắp kính ngắm với kết cấu gọn nhẹ, có thể thu gọn khi mang vác. Giá chuẩn bị phần tử bắn đêm có độ chính xác và độ bền cao, sử dụng rất thuận tiện trong huấn luyện và chiến đấu. Giá có thể sử dụng được cho các loại súng ĐKZ khác nhau như: ĐKZ82-B10, ĐKZ82-K65, ĐKZ75-K56 và có thể sử dụng rộng rãi trong toàn quân.[9]

Đặc điểm kỹ thuật

[sửa | sửa mã nguồn]

ĐKZ 82mm B10

  • Nước sản xuất: Liên Xô
  • Khối lượng chiến đấu (kg): 86
  • Tầm bắn thẳng (m): 390
  • Sơ tốc đạn (m/s):
    • Đạn lõm : 322 m/s
    • Đạn nổ :320 m/s
  • Khả năng xuyên thép (mm): 150
  • Tốc độ bắn (phát/ph): 6
  • Khối lượng đầu đạn lõm (kg): 3,89

DKZ 82mm K65 (Type 65):

  • Nước sản xuất: Trung Quốc
  • Khối lượng chiến đấu (kg): 35
  • Tầm bắn thẳng (m): 300
  • Sơ tốc đạn (m/s): 310
  • Khả năng xuyên thép (mm): 180
  • Tốc độ bắn (phát/ph): 6
  • Khối lượng đầu đạn lõm (kg): 3,46[cần dẫn nguồn]

Các loại đạn

[sửa | sửa mã nguồn]
  • BK-881 - HEAT-FS 3,87 kg. 0,46 kg thuốc nổ RDX. GK-2 PIBD fuze.
  • BK-881M - HEAT-FS 4,11 kg. 0,54 kg thuốc nổ RDX. GK-2M PDIBD fuze. 240 mm RHA. Sơ tốc 322 m/s.
  • O-881A - HE-FRAG 3,90 kg. 0,46 kg thuốc nổ TNT/dinitronaphthalene. GK-2 fuze. Sơ tốc 320 m/s.
  • Type 65 (Trung Quốc) - HEAT 3,5 kg. 356 mm RHA. Sơ tốc 240 m/s.
  • Type 65-1 (Trung Quốc) - HE-FRAG 4,6 kg. Sơ tốc 175 m/s.

Biến thể

[sửa | sửa mã nguồn]
  • K65 (Type 65): Chỉ nặng 28,2 kg và chỉ có 1 chân bệ và bánh xe.
  • K65-1(Type 65-1)
  • RG-82 Phiên bản B-10 của Đông Đức

Các nước sử dụng

[sửa | sửa mã nguồn]
  •  Afghanistan[10]
    • Taliban
  •  Algérie: 120 tính đến năm 2016[cập nhật][11]
  •  Angola[12][13]
  •  Bulgaria[12]
  •  Campuchia[12][14]
  •  Tchad[12]
  •  Trung Quốc[7][15]
  •  Ai Cập[12]
  •  Ethiopia[16]
  •  Guinea[12][17]
  •  Guinea-Bissau[12][18]
  •  Iran[19]
  •  Iraq[20]
  •  Libya[21]
  •  Mozambique[12][22]
  •  Myanmar: Copy producing as MA-14.[23][24]
  •  Namibia[25]
  •  Nicaragua[26]
  •  CHDCND Triều Tiên:[12] 1,700 tính đến năm 2016[cập nhật][27]
  •  Pakistan
  • Nhà nước Palestine Tổ chức Giải phóng Palestine[28]
  •  Ba Lan[12]
  •  SADR[29]
  •  Somalia[30]
  •  Sudan
  •  Syria[12]
  •  Togo: Type 65[12][31]
  • Việt Nam:[12] B-10[32] và Type 65[33]
  •  Yemen[cần dẫn nguồn]

Thư viện ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ David Campbell (2016). Israeli Soldier vs Syrian Soldier : Golan Heights 1967–73. Combat 18. illustrated by Johnny Shumate. Osprey Publishing. tr. 78. ISBN 9781472813305. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2018.
  2. ^ Neville, Leigh (ngày 19 tháng 4 năm 2018). Technicals: Non-Standard Tactical Vehicles from the Great Toyota War to modern Special Forces. New Vanguard 257. Osprey Publishing. tr. 15. ISBN 9781472822512. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2018.
  3. ^ Neville 2018.
  4. ^ Fitzsimmons, Scott (tháng 11 năm 2012). "Executive Outcomes Defeats UNITA". Mercenaries in Asymmetric Conflicts. Cambridge University Press. tr. 217. doi:10.1017/CBO9781139208727.006. ISBN 9781107026919.
  5. ^ Jenzen-Jones, N. R. (tháng 12 năm 2015). "Recoilless Weapons" (PDF). Small Arms Survey Research Notes (55). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2018.
  6. ^ Technically, only devices fired projectiles from a rifled barrel are called recoilless rifles, while smoothbore variants are called recoilless guns. This distinction is often lost, however, and both are often called recoilless rifles. From Julio, S. (tháng 4 năm 1953), Las Armas Modernas de Infantería
  7. ^ a b "B-10 - Weaponsystems.net". weaponsystems.net. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2018.
  8. ^ Shinn, David H.; Eisenman, Joshua (ngày 10 tháng 7 năm 2012). China and Africa: A Century of Engagement. University of Pennsylvania Press. ISBN 978-0812208009. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2018 – qua Google Books.
  9. ^ "Cải tiến giá chuẩn bị phần tử bắn đêm súng ĐKZ - Quân đội nhân dân". Quân đội Nhân dân. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2015.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  10. ^ Bhatia, Michael Vinai; Sedra, Mark (tháng 5 năm 2008). Small Arms Survey (biên tập). Afghanistan, Arms and Conflict: Armed Groups, Disarmament and Security in a Post-War Society. Routledge. tr. 66. ISBN 978-0-415-45308-0. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018.
  11. ^ Military Balance 2016, tr. 320.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMilitary_Balance_2016 (trợ giúp)
  12. ^ a b c d e f g h i j k l m Jones, Richard D. Jane's Infantry Weapons 2009/2010. Jane's Information Group; 35 edition (January 27, 2009). ISBN 978-0-7106-2869-5.
  13. ^ Military Balance 2016, tr. 429.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMilitary_Balance_2016 (trợ giúp)
  14. ^ Military Balance 2016, tr. 239.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMilitary_Balance_2016 (trợ giúp)
  15. ^ Military Balance 2016, tr. 242.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMilitary_Balance_2016 (trợ giúp)
  16. ^ Military Balance 2016, tr. 445.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMilitary_Balance_2016 (trợ giúp)
  17. ^ Military Balance 2016, tr. 449.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMilitary_Balance_2016 (trợ giúp)
  18. ^ Military Balance 2016, tr. 450.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMilitary_Balance_2016 (trợ giúp)
  19. ^ Military Balance 2016, tr. 328.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMilitary_Balance_2016 (trợ giúp)
  20. ^ Rottman, Gordon L. (1993). Armies of the Gulf War. Elite 45. Osprey Publishing. tr. 49. ISBN 9781855322776.
  21. ^ Neville 2018, tr. 12.
  22. ^ Military Balance 2016, tr. 458.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMilitary_Balance_2016 (trợ giúp)
  23. ^ Maung, Aung Myoe (2009). Building the Tatmadaw: Myanmar Armed Forces Since 1948. Institute of Southeast Asian Studies. tr. 107. ISBN 978-981-230-848-1.
  24. ^ Gander, Terry J. (ngày 22 tháng 11 năm 2000). "National inventories, Myanmar (Burma)". Jane's Infantry Weapons 2001-2002. tr. 3112.
  25. ^ Military Balance 2016, tr. 459.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMilitary_Balance_2016 (trợ giúp)
  26. ^ Military Balance 2016, tr. 406.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMilitary_Balance_2016 (trợ giúp)
  27. ^ Military Balance 2016, tr. 265.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMilitary_Balance_2016 (trợ giúp)
  28. ^ Zaloga, Steven J. (2003). Tank battles of the Mid-East Wars (2): The wars of 1973 to the present. Hong Kong: Concord Publications. tr. 52. ISBN 962-361-613-9.
  29. ^ Salvador López de la Torre (ngày 20 tháng 11 năm 1984). "El fracaso militar del Polisario: Smul Niran, una catástrofe de la guerrilla". ABC (bằng tiếng Tây Ban Nha): 32–33. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018.
  30. ^ Small Arms Survey (2012). "Surveying the Battlefield: Illicit Arms In Afghanistan, Iraq, and Somalia". Small Arms Survey 2012: Moving Targets. Cambridge University Press. tr. 339, 342. ISBN 978-0-521-19714-4. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2018.
  31. ^ Military Balance 2016, tr. 474.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMilitary_Balance_2016 (trợ giúp)
  32. ^ Ezell, Edward Clinton (1988). Personal firepower. The Illustrated history of the Vietnam War 15. Bantam Books. tr. 142–144. ISBN 9780553345490. OCLC 1036801376.
  33. ^ Military Balance 2016, tr. 297.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMilitary_Balance_2016 (trợ giúp)

Từ khóa » Súng Dk