Phong Cách Nghệ Thuật Của Nam Cao - VĂN THƠ NHẠC
Có thể bạn quan tâm
Thứ Bảy, 4 tháng 9, 2021
Phong cách nghệ thuật của Nam Cao
Phong cách nghệ thuật của Nam Cao
Nói phong cách là nói đến những đặc điểm riêng, đặc điểm bền vững biểu hiện ra bên ngoài, giúp người đọc nhận dạng được đối tượng. Phong cách nghệ thuật biểu hiện ở nhiều cấp độ. Có phong cách ngôn ngữ, phong cách tác phẩm, phong cách nghệ thuật, phong cách tác giả, phong cách thời đại. Cũng có tác giả đa phong cách, nhưng không phải tác giả nào cũng có phong cách. Chỉ những nhà văn thực sự tài năng, có cá tính sáng tạo mạnh mẽ, có ý thức nghệ thuật độc đáo mới có thể có phong cách (Chẳng hạn Hồ Xuân Hương, Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính…)(…) Nguyễn Khải đã nhận xét về Nam Cao như sau: “Đó là một nhà văn chân chính, phải sống, phải làm việc như con người ấy”. Còn Phong Lê nhận xét về các sáng tác cuả Nam Cao: “Gần như toàn bộ những gì cuả Nam Cao sưu tầm được đều có thể in, có thể đọc, trong đó một tỷ lệ lớn những trang hay, tức là những trang có thể đọc đi đọc lại nhiều lần, mà không gây cảm giác cũ. Phải chăng đó chính là phẩm chất cuả những gì ưu tú, là cái giá trị đã có thể đi dần vào quỹ đạo cuả những gì thuộc về cổ điển” (Văn Nghệ, số 18, ngày 29.11.1986). Hà Minh Đức cũng khẳng định: “Sáng tác cuả Nam Cao giàu sức khám phá sáng tạo, với phong cách độc đáo “ (Tạp chí văn Học, số 6, 1982, tr 71)Ý kiến trên của các nhà nghiên cứu đều khẳng định điều này là, Nam Cao đã thực hiện đúng tuyên ngôn nghệ thuật cuả mình, đã để lại cho chúng ta những trang viết giá trị và một phong cách độc đáo, ngày càng tỏ rõ sức hấp dẫn kỳ lạ. Phong cách Nam Cao ngày càng trở nên lừng lững, không lẫn được, và dường như trở thành một trong những đầu nguồn phong cách truyện ngắn sau Cách mạng tháng támVậy những đặc điểm văn chương nào làm nên phong cách Nam Cao?Ở Nam Cao, phong cách hiện ra trong cả nội dung và hình thức thể hiện.Mỗi nhà văn có một hoàn cảnh sống riêng, một thế giới tinh thần riêng, có những tâm tư, ước vọng và một cái “tạng” riêng, những yếu tố ấy chi phối và làm nên phong cách. Nhưng yếu tố trực tiếp chi phối phong cách là bút pháp, bởi vì bút pháp thể hiện quan điểm cuả nhà văn, quy tụ tất cả năng lực tinh thần cuả nhà văn để làm nên tác phẩm. Nam Cao chọn lựa đứng hẳn về phía chủ nghiã hiện thực, nhưng cốt lõi chủ nghiã hiện thực cuả Nam Cao là chủ nghĩa nhân đạo. Ông đã phải đấu tranh quyết liệt với chính mình để khẳng định sự lưạ chọn cốt tủy cho việc sang tác: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lưà dối, không nên là ánh trăng lưà dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than vang dội lên mạnh mẽ trong lòng Điền. Điền chẳng cần đi đâu cả. Điền chẳng cần trốn tránh, Điền cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động cuả đời…” (Giăng Sáng)Về mặt ngôn ngữ, Nam Cao thường viết những câu rất ngắn, dường như không thể rút ngắn hơn. Chẳng hạn: “Chà! Thích quá! … Giàu bạc vạn! Hắn ra về hể hả. Bụng hắn không đói nưã. Người hắn không mệt nữa. Ảo tưởng lóa mắt hắn. Hy vọng nâng chân hắn. Mắt hắn sáng ngời, hí hửng. Hắn lẫng cẫng, mỉm cười một mình. Mắt long lanh nhìn tương lai rực rỡ, như một thí sinh vưà mới thấy tên mình trúng bảng. Hắn đi thoăn thoắt…” (Xem Bói)Có thể coi kiểu câu ngắn này là một đặc điểm phong cách ngôn ngữ Nam cao. Ngay cả khi Nam cao viết những câu dài, những câu ấy cũng được ngắt vụn ra. Câu ngắn tạo mạch văn nhanh, giọng văn đanh lại, lạnh lùng. Đọc Nam Cao, người đọc ít gặp giọng mềm mỏng âu yếm. Cả trong lúc diễn tả nỗi đau thương hay cảnh ngọt ngào, giọng văn Nam Cao vẫn “ cộc “ và “lạnh”.“Thế là xong. Anh chết rồi đấy nhỉ? Không lẽ tôi lại vui khi được một cái tin như thế. Nhưng thật tôi cũng không biết có nên buồn không đấy. Có người bảo: “sống khổ đến đâu, cũng còn hơn chết; cái tâm lý chung cuả người đời như vậy “ (Điếu Văn)Chúng ta tưởng Nam Cao không có tình cảm, hoặc là mọi thứ tình cảm đều đã khô kiệt, trái tim bị lộn trái, chỉ còn lại cái chất suy nghĩ khô khốc của lý trí. Câu văn Nam Cao không chuyển tải tình cảm. Nó gần như khô khốc, tạo nên chất giọng riêng cuả Nam Cao.Trước hết là cái giọng “như băm như bổ“ vào mặt người ta. Nam Cao nói toạc ra hết, không kiêng nể, cũng chẳng cần giữ gìn ý tứ. Đôi khi ngôn ngữ Nam Cao trở nên tàn nhẫn, khắc nghiệt. Nam Cao diễn tả tình yêu như thế này: “Từ yêu chồng bằng một thứ tình yêu rất gần với tình cuả một con chó đối với chủ nuôi” (Đời Thưà). Ông diễn tả tính hiền lành: “bao giờ Nhi chả dễ bảo như một con chó xiếc“(Ở Hiền), diễn tả nỗi đau thương cuả một người phụ nữ khi tình nhân chết: “Và khi trông thấy tình nhân, mụ rú lên. Mụ vật vã người, khóc rống như con chó chưa quen xích”(Lang Rận), diễn tả cảnh con bú mẹ: “đêm đêm cũng chưa được ngủ yên lành, còn bị con quấy rối, lúc khóc, lúc giẫy, lúc day vú như con chó nhay giẻ “(Cười). Truyện Đón Khách là một nụ cười hết sức tàn nhẫn và đau thương. Không phải vô tình mà Nam Cao có như lúc nghiêng về cái ác: “Phải biết ác, biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ” (Đời Thừa). Tuy giọng văn “băm bổ“ tàn nhẫn này là cuả nhân vật, cuả những con người không còn chịu đựng nỗi sự khốn khổ, nhưng cũng là giọng cuả Nam Cao, ông muốn “băm bổ” vào cái xã hội cũ, một xã hội mà “loài người còn kém xa loài vật” con người “khổ như một con chó vậy” (Nước Mắt)Chất giọng Nam Cao, trong khi “nói toạc ra”, trong khi “băm bổ” vẫn hàm chưá những yếu tố hài, như những cung bậc, sắc điệu cuả chất giọng, có khi chất hài thể hiện ở cách dùng từ . Nam Cao giới thiệu tên cuả một nhân vật:” Ngay cái tên cũng khó nghe rồi. Thà cứ là Kèo, là Cột, là Hạ, là Đông. Là gì cũng còn dễ nghe. Nhưng hắn ta lại là Trạch Văn Đoành. Nghe như súng thần công. Nó chọc vào lỗ tai” (Đôi Móng Giò), rõ là một giọng nói vưà bông phèng , vưà khó chịu ra mặt.Chất hài có nhiều trong hình ảnh méo mó cuả nhân vật. Chất hài còn toát ra từ câu chuyện được kể. Có cái cười gượng, nói huỵch toẹt cái xấu ra để cười (Nhỏ Nhen). Có cái cười khôi hài, tuy Nam Cao tỏ ra nghiêm trang (Cái Mặt Không Chơi Được). Có cái cuời để lại bài học thú vị (Truyện Tình). Có cái cười châm biếm sâu cay, cười đểu (Điếu Văn), cười tàn nhẫn (Đón Khách), có cái cười sảng khoái vỡ ra cuả chuyện tiếu lâm (Đôi Móng Giò) và có cả cái cuời “chưã bệnh“ nưã, Nam Cao luận về cái cười: “Nụ cười chính là một vị thuốc tiêu đàm, tẩy độc lượng huyết và bổ tâm, bổ phế, bổ tỳ, bổ vị, bổ gan, bổ thận, chẳng cái gì không bổ. Tiên dược đấy. Nó cải lão hoàn đồng rất mạnh. Mà không tốn kém một đồng xu nhỏ! Chỉ cần nhếch môi một cái. Dễ dàng hết sức. Vậy thì tội gì mà không cười. Cứ cười đi, cười nhiều đi…”(Cười).Thực ra cái hài trong giọng điệu Nam Cao chỉ là mặt phải, mặt nổi, mà cái bi đát, cái đau đớn, căm uất, cái yêu thương xót xa mới là bề sâu trong chất giọng Nam Cao. Truyện ngắn Nam Cao đem đến cái cười, nhưng đọc xong rồi, đằng sau cái cười là nỗi xót xa đau đớn và sự suy gẫm về cuộc đời cũ. Nam Cao chưa có cái cười chiến đấu. Ông chưa tiến công vào kẻ thù (hoặc nếu có thì cũng rất hiếm, chẳng hạn: Nỗi Truân Chuyên cuả Khách Má Hồng). Cái cười Nam Cao mang tính tự trào. Tuy “cười hì hì suốt ngày thật đấy, nhưng vẫn buồn”(Lang Rận). Chất hài của Nam Cao chỉ ở cấp độ giọng điệu không phải cấp độ bút pháp.Giọng điệu chính của Nam Cao trong truyện ngắn là giọng, điệu nói của người nông dân đồng bằng Bắc bộ. Cộc, và đốp chát. Bô bô, thẳng thừng. Nói xuôi cũng được mà ngược cũng nên. Chất giọng này đậm nét như trong các truyện viết về người nông dân. Nam Cao đã đem ngôn ngữ làng quê vào truyện cuả mình một cách tự nhiên, nguyên vẹn, cả giọng điệu, ngôn từ, tính cách, kiểu tư duy. Nhân vật luôn luôn nghĩ đi thì thế này, nghĩ lại thì thế này, đằng nào cũng có lý cả.Truyện Một Đám Cưới là một tiêu biểu cho kiểu ngôn ngữ này. Thực chất, đám cưới Dần là một đám cưới chạy đói. Cô dâu chỉ “mặc những áo vải ngày thường nghiã là một các quần cộc xẫng và đụp những miếng vá thật to, một cái áo cánh nâu bạc phếch và cũng vá nhiều chỗ lắm, một bên tay rách quá, đã xé cụt gần đến nách. Nó sụt sịt khóc đi bên cạnh mẹ chồng, chú rể dắt đưá em lớn cuả Dần. Còn thằng bé thì ông bố cõng. Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm, lẳng lặng, dắt dìu nhau đi tìm chỗ ngủ”. Thực sự cái đám cưới đã diễn ra như vậy, nhưng bà mẹ chồng và ông bố Dần đã bàn bạc bao nhiêu là nghi lễ, bao nhiêu điều gọi là “lòng thương”. Chỉ là để nói cho có chuyện, nói cho phải lẽ, nói đưa đẩy cho xong việc. Bà mẹ chồng nói với bố Dần : “… như thế này thì thật ông thương quá, thương mọi nhẽ, cái gì ông cũng châm chước đi cho cả, khiến chúng tôi lấy làm cảm tạ cái bụng ông mà lại lấy làm xấu hổ về cái cách chúng tôi xử lắm. Chúng tôi xử thế này thật quả là không phải. Nhưng lạy trời lạy đất!... chúng tôi cũng muốn nghĩ thế nào kia nhưng ông trời ông ấy cho chỉ nghĩ đến thế thôi, thì cũng phải rầu lòng mà chín bỏ làm mười, chứ như ông thì thật một bỏ làm mười mà không được, một cũng bỏ làm mười, có vậy thì công việc cuả cháu mới xong xuôi được. Giá phải bố vợ như bố vợ nhà khác, nhất nhất cái gì cũng bắt đủ lề lối, thì nhà như nhà chúng tôi lấy gì mà lo được? Ít là cháu suốt đời không có vợ. Nhưng phúc làm sao lại gặp ông bốn vợ thương con rể như ông, thì có phải ông trời ông ấy cũng còn thương nhà chúng tôi lắm lắm không“Đọc truyện ngắn Nam Cao, người đọc nhận ra rất nhiều từ ngữ đặc biệt cuả nông dân Bắc bộ. Những từ ngữ trong sinh hoạt hàng ngày, những cách so sánh ví von, những cách suy nghĩ, nói năng, cách diễn đạt đặc thù: “chạy xạc cả gấu váy”, buồn cười chưả, có vậy mà cũng gắt như mắm thối”, “cứ ngay mặt ra như cán tàn”, “đầu gio mặt muối”,”chõ mõm vào“, “giời ơi là giời! Có chồng con nhà nào thế không? Chỉ vác cái mặt lên như con trâu nghênh suốt ngày. Chẳng nhìn nhõ đến cái gì. Để cho con ăn đất ngoài sân kia kià!..”Có thể nói chất giọng ngôn ngữ nông dân Bắc bộ chi phối nhiều yếu tố văn chương cuả Nam Cao, và là một trong những đặc điểm quan trọng tạo nên phong cách nghệ thuật cuả Nam Cao, đặc biệt trong việc thể hiện tâm lý nhân vật.Truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng Tháng Tám là truyện ngắn tâm lý.. Ngay từ những dòng mở đầu cuả truyện, Nam Cao đã dẫn ta nhập ngay vào dòng chảy suy nghĩ, dòng chảy tâm trạng cuả nhân vật. Tính chất “đang suy nghĩ”, “đang đối thoại”, “đang độc thoại”. ”đang nói chuyện trong tâm tưởng” cuả nhân vật là một đặc trưng phong cách nghệ thuật cuả Nam Cao. Tác giả không kể lại những suy nghĩ cuả nhân vật. Suy nghĩ cuả nhân vật không phải là một dòng ý thức tuôn chảy. Không có sự phân tích những trạng thái tâm lý, cảm xúc. Nhưng nhân vật đang nói to lên (trong đầu), nói toạc ra (với chính mình), đang mở toang cánh cưả tâm hồn mình. Giọng điệu tâm lý là giọng đang nói to cho mọi người nghe.Người đọc khó nhận ra đâu là giọng kể cuả tác giả, đâu là giọng nói trong đầu nhân vật. Có sự chuyển hoá rất tự nhiên giữa hai giọng này: “Ầy là lúc hắn lò dò về đến sân. Hắn đang đi bỗng giật mình. Một con chó đang thiu thiu trong một bụi dong ở đầu sân nhảy choàng ra. Một tí nưã thì nó đớp vào chân hắn. Hắn nhảy cẫng lên một cái và hắn sực nhớ ra rằng: Nhà hắn có một con chó vện, con chó vện ấy hay trông gà hoá cuốc, nên lắm khi chực đớp cả chân người nhà. Đó là một cái tật không thể tha thứ được. Bởi không ai nuôi chó để nó cắn què chân bao giờ. Ờ mà lại điều này nưã: nuôi mèo hay nuôi chó cũng phải tuỳ cảnh gia đình; nhà giàu nuôi là phải; bởi nhà giàu sợ trộm mà lại nhiều cơm hớt ; còn nghèo rớt mồng tơi như nhà hắn nuôi làm gì? Giá thử nhà còn trẻ nhỏ, thì nuôi chó cũng được việc. Nhưng nhà không còn trẻ nhỏ. Thằng cu con đã lên ba. Nó đã có thể ra vườn được. Hạt gạo năm nay khó chuốc như hạt ngọc. Đến bưã ăn phải tính đầu để chia cơm. Cứ tình hình ấy, thì phải dở hơi lắm lắm mới nuôi một con chó để chẳng có việc gì cho nó làm… Thế là đủ lắm. Hắn sung sướng vì đã nghĩ ra điều ấy. Hắn gật đầu luôn mấy cái. Rồi hắn đưa mắt nhìn trộm con chó vện…”(Trẻ con không được ăn thịt chó)Trong khi thể hiện tâm lý nhân vật, Nam cao đã gọt tỉa hết những chi tiềt miêu tả ngoại cảnh. Văn Nam Cao có rất ít những đoạn tả cảnh, những đoạn dẫn truyện. Câu truyện là dòng tâm lý vận động không ngừng. Cảnh vật bên ngoài (nếu có) cũng thấm đấm tâm lý nhân vật. Thời gian hiện thực rất ít lộ ra. Đó là thời gian tâm lý, không xác định. Nam Cao hay diễn đạt thời gian bằng những từ phiếm chỉ: “Từ đấy”, “được ít lâu”, “từ ngày có ông Lang Rận”, “nhưng một đêm muà đông rét mướt kia”, “thế rồi một hôm”, ít lâu nay”, “buổi tối hôm ấy”…Có khi câu chuyện là lược sử cả một quãng đời dài cuả nhân vật (Dì Hảo, Ở Hiền). Thời gian cũng cũng lược giản còn vưà đủ để người đọc hiểu là nhân vật đã trải qua quãng thời gian ấy. Thời gian không phải là yếu tố chi phối tâm lý nhân vật và cốt truyện, mà tâm lý nhân vật tự vận động đẩy câu chuyện đi tới. Nhân vật suy đi, tính lại rồi hành động. Mạch truyện phát triển trên mạch tâm lý vận động. suy nghĩ diễn ra trong đầu nhân vật trước, từ đó thúc đẩy hành động.. Tất cả tự nhiên như sự việc phải xảy ra như vậy. Tính cách nhân vật hiện lên như khắc như tạc. Khó nhận ra bàn tay đạo diễn cuả tác giả. Tâm lý gợi tâm lý, ý tưởng gợi liên tưởng, suy diễn, đòi phải hành động, dẫn đến kết thúc bất ngờ, khi dồn nén tâm lý lên đỉnh điểm.“Anh Đĩ Chuột rít hai hàm răng lại. hai chân giận dữ đạp phắt cái ghế đổ văng xuống đất. Cái tròng rút mạnh lại. Cái bộ xương bọc da giãy giụa như một con gà bị bẫy, sau cùng, nó chỉ còn giật từng cái chậm dưới sợi thừng lủng lẳng” (Nghèo). Đĩ Chuột treo cổ tự tử, chết một cách tội nghiệp. Mọi chi tiết trước đó trong truyện như những sức ép tâm lý ngày càng tăng lên, mãnh liệt như nước dâng, như lưả cháy, khiến cho Đĩ Chuột không thể nào hành động khác được. Anh ta dứt khoát cho đầu vào thòng lọng và giận dữ đạp phăng ghế.Cái chết cuả Chí Phèo, cuả lão Hạc cũng diễn ra như vậy, bất ngờ, quyết liệt, dữ dội. Nhân vật không thể cưỡng lại những dồn nén tâm lý. Hành động cuả nhân vật phải diễn ra, như một tất yếu, để kết thúc tiến trình tâm lý đã phát khởi.Trong truyện Đón Khách, tuy tình huống là vui vẻ, nhưng mạch tâm lý được tích tụ ngầm ngầm, đầy ứ lên, và uất nghẹn ở kết thúc truyện. Trước mâm cơm tết “ cơm trắng, cá ngon, giò đầy mâm, bánh chưng rền lắm” cả nhà ngồi lặng im. Ông Đồ cứ nghẹn luôn mãi, đôi mắt ông ầng ậc nước mắt. Uất quá, ác quá mà không nói ra được. Truyện kết thúc, gây một ấn tượng rất mạnh trong lòng người đọc, để lại một dư vị thấm thiá, lâu dài, phải suy nghĩ.Để thực hiện được sự vận động tâm lý, gắn liền mạch truyện, loại bỏ thời gian, Nam Cao ít dùng hồi tưởng, như thủ pháp quen thuộc. Ông thường dùng liên tưởng, từ sự việc này, ông để nhân vật gợi ra, gọi ra sự việc khác. Có một mạch lập luận, suy diễn ngầm trong tâm lý nhân vật, trong kết cấu truyện. Một ý tưởng khởi điểm xuất phát, qua nhiều chặng liên tưởng loại suy, qua những sự việc hô ứng liên châu, câu chuyện phải tiến triển theo hướng đã định. Chẳng hạn truyện Những Truyện Không Muốn Viết, tác giả đã lập luận rằng, kể chuyện mình tức là “ đổ đốn”. “Cái tôi” là đáng ghét, bỉ ổi, thời còn nói đến làm gì. Tác giả nói đến những cái khác. Cái khác đó là chuyện người đàn ông có vợ, chuyện con chó mực, chuyện thằng say, và cuối cùng không còn dám viết cái gì nưã. Bởi vì viết chuyện gì cũng đụng chạm, kể cả những chuyện “buông cau, cây chuối, cục đất, buổi hoàng hôn hay con lợn, nhưng biết đâu đấy?... Tôi sợ có người lại nhận mình là buồng cau, cây chuối, cục đất, buổi hoàng hôn, hay con lợn để, để mà không bằng lòng. Bởi thế, tuy chẳng muốn, tôi đành lại lấy tôi ra mà viết để cho yên chuyện” Rõ ràng đó là một lập luận, một cấu trúc vòng tròn phát triển. Truyện Cười cũng có sự vận động tương tự. Mọi diễn biến xoay quanh cái trục lập luận là phải cười, “ cứ cười đi, cười nhiều đi “. Truyện Cái Mặt Không Chơi Được cũng xoay quanh chính cái nhan đề ấy mà phát triển qua nhiều tình huống, nhiều thời điểm trong cuộc đời…Tuy nhiên, không phải tất cả mọi truyện ngắn cuả Nam Cao đều có cấu trúc rõ như vậy. Nhưng nếu để ý kỹ, người đọc dễ nhận thấy một mạch lập luận ngầm trong phong cách ngôn ngữ cuả Nam cao, dù là một đoạn văn, hay một cảnh, hoặc cấu trúc truyện. Đoạn sau đây trong Đón Khách là một thí dụ“Có giời biết đấy; quả thật Sinh không ác. Nhưng mà Sinh nhẹ dạ. Ấy là cái tật chung cuả những người trẻ tuổi. Vả lại, Sinh vẫn tưởng không đời nào lại có những người ngớ ngẩn như thế đươc. Vẫn biết ông Đồ tính thật thà. Nhưng còn bà cụ nưã chứ! bà phải hiểu rằng Sinh đuà cợt, có ai ngờ bà Đồ cũng lẩn thẩn như ông Đồ nốt. Bởi thế, mới đầu năm mà hàng xóm đã được một mẻ tức cười. Nhưng nói thế thì ai hiểu. Truyện phải kể có đầu, có đuôi. Vậy đầu đuôi như thế này…”Người đọc thường gặp trong suy nghĩ của nhân vật hoặc trong chuyển mạch truyện, Nam Cao hay dùng từ ngữ của văn nghị luận: “quả thật”, “nhưng mà”, “vả lại”, “bởi thế”, “vậy”, “nên”, “thế mà”, “ấy mà”…Điều đặc sắc là tuy mạch truyện và ngôn ngữ được viềt bằng phong cách chính luận, nhưng văn Nam Cao vẫn tự nhiên. Người đọc tưởng như phải viết như vậy, nhân vật phải cảm nghỉ như vậy, câu chuyện phải tiến triển như vậy không khác đi được. Điều này gợi ra hai cách lý giải, tuy sử dụng ngôn ngữ lập luận nhưng đó chỉ là yếu tố nhỏ trong nhiều biện pháp xây dựng hình tượng nhân vật, đồng thời nó phản ánh tính chất suy tư trong con người Nam Cao.Nam Cao suy tư nhiều về cuộc sống cuả người nông dân và người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng Tháng tám. Cuộc sống cuả họ đói khổ, ngột ngạt , bết tắc, dằn vật triền miên. Tâm hồn họ cuồn cuộn những cơn bão bi kịch. Họ khao khát sống có ích, sống tốt đẹp, sống lương thiện, sống với ý nghiã đích thực một Con Người. Nhưng xã hội cũ không cho họ được quyền sống như vậy. Hoặc họ phải cam chịu (Dì Hảo, Ở Hiền) hoặc phải liều mình tìm cái chết ( Nghèo, Lão hạc, Lang rận), hoặc bị tha hoá (Chí Phèo, Tư cách Mõ, Đôi Móng Giò), hoặc âm thầm khóc cười (Cười, Nước Mắt, Một Đám Cưới). Nam Cao không đem đến một chút ánh sáng nào cho nhân vật cuả mình. Duy nhất có một lần, trong truyện Điếu Văn, Nam Cao tin tưởng “tương lai phải sáng suả hơn. Một rạng đông đã báo rồi. Một mặt trời mới sẽ mọc lên..” và Nam Cao “lờ mờ thấy một sự sụp đổ gì sắp tới” cuả cái xã hội cũ.Đọc Nam Cao ta không tìm thấy những rung chuyển lớn lao cuả xã hội Việt Nam trong đấu tranh Cách mạng, không có những trang miêu tả lịch sử đang vận động hướng về phiá trước, không có hình ảnh quần chúng thức tỉnh đang xông lên trước gươm súng quân thù. Chỉ có những con người không tên, bé nhỏ, khuất lấp trong làng quê, trong hoàn cảnh tù đọng tăm tối, quanh quẩn trong cái đói nghèo, bị trói buộc trong những cái vụn vặt đời thường. Nam Cao gọi chung là “hắn”, hoặc “y”, “thị”…và những câu chuyện về họ là những truyện không muốn viết.Khai thác chuyện đời thường bi đát là yếu tố thi pháp cuả Nam Cao, cũng là ý thức sáng tạo và bút pháp, có thể coi là một đặc điểm phong cách nghệ thuật cuả Nam Cao. Trái lại, Nguyễn Tuân đi tìm và miêu tả cái đẹp cao cả, cái phi thường, Thạch Lam khai nhìn thấy cái đẹp, cái thi vị cuả cuộc sống tầm thường, Nguyễn Công Hoan khai thác cái hài trong mâu thuẫn cuả mọi tình huống. Nam Cao nói nhiều đến chuyện đói, chuyện con cái nheo nhóc, vợ chồng dằn vật nhau, những thói xấu của con người, những chuyện mà tuy cười ở bên ngoài, nhưng căm uất và đầy nước mắt ở trong lòng. Tài năng cuả Nam Cao là từ những chuyện không muốn viết ấy, Nam Cao tìm thấy ý nghiã triết lý nhân sinh.Khuynh hướng tiết lý là một trong những đặc điểm phong cách nghệ thuật của Nam Cao. Hà Minh Đức nhận xét: “Tác giả triết lý, nhân vật triết lý, câu chuyện tự nó cũng toát lên tính chất triết lý. Nam Cao không thuyết lý dài dòng, không biện luận một cách trừu tượng mà triết lý về cuộc sống và để cho cuộc sống gợi lên ý nghiã triết lý cuả nó “ (Tạp chí Văn Học, số 6,1982.tr 72). Nói như vậy không có nghiã là những sáng tác cuả Nam Cao là những sáng tác triết lý và những điều Nam Cao triết lý là những gì siêu hình theo cách tư duy cuả những nhà tư tưởng. Thực ra, chất triết lý chỉ bàng bạc trong truyện, ẩn sâu bên dưới những sự việc, những tâm lý, những vui buồn hỗn độn cuả cuộc đời. Có khi nhân vật đang suy nghĩ, bỗng chen vào một ý tưởng như một triết lý sống, từ triết lý ấy, tâm lý vận động. Đây là cách nghĩ, cách nói năng cuả người nông dân. Trong khi nói chuyện đời, họ thường chêm vào những nhận định, những suy nghiệm chân lý, lẽ phải, mà ai đã trải qua, cũng nhận là đúng như thế. Chẳng hạn:“người điều độ là một người khôn ngoan”“những thằng không có cuả không bao giờ mất cuả”“sự co quắp cuả đàn bà thật là khó chịu nhưng nhiều khi có lý”“đời bạc lắm”“người ta thường bảo khi hai người con gái lớn ở với nhau cùng một nhà, thì họ thành tinh”“Những kẻ chỉ suốt đời tính toán là những kẻ làm khổ thân suốt đời”“Sống khổ đến đâu, cũng còn hơn chết. Cái tâm lý chung cuả người đời như vậy”“Thương con thì để bụng, nuông con thà giết con đi”“Con người ta, có cơm áo vào là có da, có thịt ngay. Chẳng lâu đâu”“Ngon hay không là tại miệng. Mà cái miệng người đói thì ăn gì cũng ngon”Những câu triết lý như vậy, ta gặp rất nhiều trong suy nghĩ cuả các nhân vật truyện Nam Cao. Thực ra, đó chỉ là kinh nghiệm sống, kinh nghiệm tâm lý trong quan hệ xã hội cuả một xã hội nông thôn. Người nông dân khi nói chuyện, thường rút ra những suy nghiệm cho bản thân cuả mình. Tuy nhiên, Nam Cao không dừng lại ở những kinh nghiệm kiểu ấy. Nam Cao muốn vươn tới triết lý nhân sinh sâu rộng hơn. Điều này thể hiện trong tư tưởng cuả tác phẩm. Xin đọc một đoạn trong Lão Hạc:“Lão chua chát bảo:-Ông giáo nói phải ! kiếp con chó là kiếp khổ thì ta phải hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra nó sung sướng hơn một chút… kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn!...Tôi bùi ngùi nhìn lão:- Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ! Cụ tưởng tôi sung sướng hơn chăng?- Thế thì không biết nếu kiếp người cũng khổ nồt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng?Lão cười và ho sòng sọc. Tôi nắm lấy cái vai gầy cuả lão, ôn tồn bảo:- Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng : bây giờ cụ ngồi xuống phản này chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một ấm nước chè tươi thật đặc ; ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút thuốc lào… Thế là sướng.- Vâng! Ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng”Nam Cao triết lý về kiếp người, về sướng, khổ, theo cách nghĩ cuả người nông dân (nhân vật là người nông dân). Không triết lý kiểu Phật giáo (“đời là bể khổ”) không lý giải tại sao kiếp người lại khổ, cũng không đề ra con đường thoát khổ. Nam Cao chỉ nghiệm sinh rằng “Chẳng kiếp gì sung sướng thật”, ấy là cái lẽ tương đối, thực tiễn. Không duy tâm siêu hình. Trong hoàn cảnh đòi khổ, có được củ khoai, chén trà, hơi thuốc lào, và nhất là có được một người để xẻ chia nỗi phiền muộn, thì đó là sướng.Thực ra, đó chỉ là hạnh phúc nhỏ nhoi, không thật. Cả ông giáo và Lão Hạc đều biết đó không phải là hạnh phúc thật, không là giải pháp căn cơ, không là cái mục đích sống cuả kiếp người, nó chỉ là cái tạm bợ, che lấp sự bế tắc và vô vọng. Nam cao mơ hồ thấy được nguyên nhân cuả sướng khổ chính là ở sự bất công. Có lần ông đã phẫn uất :“Tại sao trên đời này lại có nhiều bất công đến thế? Tại sao ở hiền không bao giờ cũng gặp lành? Tại sao những kẻ hay nhịn, hay nhường thì thường thường lại chẳng được ai nhịn nhường mình; còn những kẻ thành công thì hầu hết là những người rất tham lam chẳng biết nhịn nhường ai, nhiều khi còn xảo trá, lọc lưà và tàn nhẫn, nhất là tàn nhẫn”? (Ở Hiền)Nam Cao triết lý và suy nghiệm. Nam Cao thấy rất rõ sự bất công ấy hiện ra ở bọn nhà giàu: “cái bọn ngu dốt mà giàu đáng ghét vô cùng. Chúng chỉ biết có tiền và coi người như rác, như rơm”(Sao lại thế Này). Thực chất, bọn nhà giàu, theo cách hiểu cuả Nam Cao, là bọn bóc lột. Chúng bóc lột rất tàn nhẫn : “Cơm nhà giàu khó nuốt. Ăn cuả họ mà không làm lợi cho họ được thì họ làm cho đến phải mửa ra mà giả họ”( Một Đám Cưới) “gợi lòng thương một người chủ tham lam còn khó lắm thay!“(Điếu văn). Trong xã hội cũ, ”thiếu gì kẻ chẳng lấy gì làm can đảm vẫn phải bán dần dần sự sống đi để giữ cho mình khõi chết. Có lẽ chết đói là một cách chết mà chúng ta sợ nhất trong bao nhiêu cách chết. Ta có thể liều chết mà kiếm ăn” (Quên Điều Độ)Vấn đề là giải quyết những bất công ấy bằng cách nào, bằng con đường nào? Nam Cao không thấy có lối thoát nào. Ông triết lý:“Người thì ở chỗ nào chả là người? Mà cuộc đời thì ở bất cứ cảnh nào cũng chảy trôi theo những định luật chưa bao giờ lay chuyển được” (Ở Hiền)Đôi khi ta thấy Nam Cao lóe lên những ý nghĩ táo bạo: “Chàng muốn có can đảm giết người. Phải dám giết mà không run tay khi cần phải giết”(Cái Chết Cuả Con Mực), hoặc là: ”Phải biết ác, biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ”. Những ý nghĩ như vậy chỉ loé lên một lần rồi tắt ngấm. Cũng có khi Nam Cao biến ý nghĩ thành hành động. Chí Phèo chém chết bá Kiến, kẻ đã gây ra bao nhiêu đau khổ cho mình và dân làng, nhưng Chí phải tự sát, vì không thể sống được, không được quyền sống lương thiện. Bất công, đau khổ, áp bức, thống trị, bóc lột, vẫn còn nguyên đó “.. thằng ấy chết còn thằng khác..”. Không giải quyết được bất cứ điều gì. Đành cam chịu, ảo tưởng và rút vào vỏ ốc : “Ông cũng vậy mà tôi cũng vậy ít ra chúng ta cũng còn một xó để tự do. Khi cưả nhà chúng ta khép kín. Ta có thể lố lăng mà không bận gì đến ai” (Đôi Móng Giò). Dù vậy, Nam Cao không thể quên cuộc đời, ông vẫn buồn : “Cuộc đời quả thật cứ một ngày một thêm đáng buồn” bởi vì “Ta nên sợ cái chết trong lúc sống : cái chết đáng buồn cuả người sống sờ sờ ra đấy nhưng chẳng dùng sự sống của mình vào công việc gì”(Cười)Tuy Nam Cao bi quan, nhưng truyện cuả ông vẫn chưá những mầm mống cuả sự phản kháng, những biểu hiện quật khởi mãnh liệt, để giành lấy quyền sống, để giữ lấy tình thương và hạnh phúc nhỏ nhoi. Chí giết Bá Kiến là giết cái cội gốc gây hoạ bao đời cho dân. Đĩ Chuột tìm cái chết để vợ con đỡ khổ. Lão Hạc quyên sinh để giữ trọn nhân cách cuả mình và giữ lấy hạnh phúc cho thằng con.Truyện Sao Lại Thế Này là sự quật khởi cuả một người phụ nữ từ điạ vị một con ở, một lần ăn vụng cơm bị mẹ chồng “bóp chặt cổ… rồi lu loa cho hàng xóm đến xem. Đưá con dâu phải nhả cơm ra,nước mắt chứa chan…” trở thành một phụ nữ quý tộc đối đãi rất lịch sự với anh chồng cũ của mình, nay anh chồng ấy lại là người làm thuê cho mình. Trong Đôi Móng Giò, sự quật khởi cuả Trạch văn Đoành thật thú vị. Từ “một chàng bạch đinh, con một lão đi câu chết mất xác dưới sông, bỏ làng đi chán đi chê rồi đột nhiên trở về nhảy tót lên bao lơn ngồi làm một ông kỳ mục”, rồi đùng một cái “hắn đưa bốn ông lên huyện về việc bao chiếm công điền. Đùng một cái nưã, hắn đưa mấy ông khác lên huyện vì việc lạm tiền công quỹ. Rồi đùng một cái nưã… và cái nưã.. luôn năm sáu cái đùng như vậy hắn làm các ông xiểng liểng bởi tội các ông nhiều như lá trên rừng… các ông đâm hoảng”.Thế là Trạch văn Đoành sống ngang tàng ung dung, chẳng ông nào dám đụng đến hắn.Anh Cu Lộ trong Tư Cách Mõ cũng là một trường hợp quật khởi thành công. Từ một thằng mõ bị khinh miệt, Lộ ngang nhiên trơ tráo ngồi ăn, phè phỡn, một mình một mâm. “Muà đến hắn vác một cái đòn càn có quấn mấy sợi thừng ở một đầu, đi hết ruộng nọ đến ruộng kia… đến xin bà, hay thầy, hay cô lượm luá…Mồm hắn nói, tay hắn lượm. Hắn cứ chọn những gồi nào to nhất, mẩy nhất thì lượm… ai nấy đều im như thóc”. Tết đến, ngày mùng một, bố con hắn xách một bao chè với năm quả cau đến mừng tuổi các ông quan viên để kiếm cỗ ăn và kiếm tiền phong bao. Rồi mùng năm mùng sáu, vợ chồng hắn lại đi tua nưã. Để xin bánh chưng bánh thưà…”cứ thế, hắn ỷ vào cái điạ vị hèn hạ cuả mình để nhiễu người ta, và lấy sự nhiễu được người ta làm khoái lắm“. Trạch Văn Đoành cũng như Anh Cu Lộ đã làm điêu đứng bọn quan viên làng, hất chúng xuống chân và bắt chúng phải cung phụng lại mình. Người nông dân bị thống trị bóc lột, có lúc đã thay đổi được số phận mình. Nhưng đó chỉ là những hành động tự phát riêng lẻ, xuất phát từ sự liều lĩnh. Chưa bao giờ có ý thức cải tạo xã hội, thay đổi kiếp người, chưa được hướng dẫn bởi ánh sáng cuả bất cứ lý tưởng xả hội nào.Tuy bế tắc trong cách giải quyết những vấn đề triết lý nhân sinh, nhưng Nam Cao đã đặt ra những vấn đề có sức âm vang sâu xa trong cuộc sống, làm nên giá trị lâu dài cho tác phẩm cuả ông.Chẳng hạn, vấn đề quyền sống lương thiện. Chí Phèo quyết liệt đòi được sống lương thiện. Tưởng rằng câu trả lời là dễ dàng, như Bá Kiến từng trả lời: “Ồ, tưởng gì! Tôi chỉ cần anh lương thiện cho thiên hạ nhờ”. Nhưng không phải vậy. Bao giờ người lao động chưa thể sống lương thiện thì vấn đề Nam Cao đặt ra vẫn làm đau đáu chúng ta. Đó là vấn đề triệt lý đối với từng cá nhân, cũng là vấn đề xã hội rộng lớn đòi hỏi một cuộc cách mạng xã hội tiến bộ mới mong giải quyết được. Cũng vậy, vấn đề đấu tranh chống lại cái ác (Đón Khách, Lang Rận), vấn đề bảo vệ nhân cách trước áp lực tha hoá cuả hoàn cảnh (Lão Hạc, Tư cách Mõ), vấn đề cái xấu cuả người lớn trước mặt trẻ con (Trẻ con không được ăn thịt chó, Bài học quét nhà ), bi kịch “ sống thưà” cuả người trí thức ( Đời Thừa, Cười, Quên Điều Độ, Nước Mắt), những cái chết ngay trong lúc còn đang sống, chết cả trong lúc no, chết trong đau khổ cuả sự nhẫn nhục, cam chịu theo triết lý tôn giáo (Dì Hảo, Một Bưã No ), triết lý tình thương, sự công bằng (Mua Nhà)…tất cả những vấn đề ấy, mặt nổi là vấn đề xã hội, bề sâu là vấn đề triết lý, mà ngay cả khi hoàn cảnh xã hội Nam Cao viết truyện đã qua đi, thì những vấn đề triết lý vẫn còn đòi buộc người đọc tiếp tục suy gẫm.Chính ở những vấn đề triết lý này, người đọc nhận ra ở Nam Cao chiều sâu cuả một ngòi bút nhân đạo chủ nghiã thật đáng trân trọng, một cái nhìn hiện thực tỉnh táo, sắc bén, và một tài năng sáng tạo thật dồi dào. Những số phận và tính cách như Chí Phèo, Lão Hạc, Lang Rận, Dì Hảo, anh cu Lộ, Trạch Văn Đoành, và tính cách cuả chính Nam Cao qua các nhân vật ông Giáo, Điền, Hộ, Hắn, là những tính cách có sức khái quát mang tính triết lý nhân sinh sâu sắc. Những tính cách như vậy đã đặt những cột mốc trên con đường phát triển cuả văn xuôi hiện đại. Chính những nhân vật độc đáo cùng với triết lý nhân sinh sâu sắc đã làm cho truyện ngắn Nam Cao có khả năng vượt rất xa trong thời gian, và không thể lầm lẫn được trong cả đời thực và trong văn chương (tức là mang dấu ấn riêng cuả phong cách Nam Cao)Những truyện ngắn cuả Nam Cao sau cách mạng Tháng tám hầu như thay đổi hẳn về phong cách. Bút pháp miêu tả tâm lý được thay bằng lối trần thuật khách quan, ngôn ngữ không còn lạnh lùng đến tàn nhẫn như trước. Nhân vật người nông dân không còn là những con người “dốt nát, nheo nhóc nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương nưã”. Bây giờ họ là những người anh hùng quyết chiến thắng kẻ thù (Trần Cừ), đùm bọc nâng đỡ nhau quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ (Định Mức). Người trí thức như Độ (Đôi Mắt) được sống, được cống hiến tài năng, được hoà mình vào dòng chảy cách mạng, cùng với nhân dân dấn thân cho sự nghiệp lớn lao của dân tộc. Nam Cao không còn viết về những bi kịch, không còn đau đáu những vấn đề nhân sinh đời thường, không còn bị trói buộc trong nheo nhóc con ốm, con khóc , vợ cằn nhằn, cùng với nỗi lo chết đói…(Những truyện không muốn viết)…Những đổi thay ấy bắt nguồn từ sự đổi thay cuả đời sống, sự thay đổi phương pháp sáng tác, sự đổi thay cuả thế giới quan và nhân sinh quan cuả Nam Cao.. Năm 1948 Nam Cao trở thành nhà văn cuả giai cấp vô sản, sáng tác bằng phương pháp Tả Thực Xã Hội Chủ Nghiã ( Chủ Nghiã Mác và Văn Hoá Việt Nam). Nhà văn “đi sâu vào quần chúng, học và dạy họ, đồng thời tìm những cảm hứng mới cho văn nghệ” (Đôi Mắt). Tuy vậy, Nam Cao vẫn giữ được một vài đặc điểm phong cách nghệ thuật cuả truyện ngắn trước 1945. Chẳng hạn: tính triết lý cuả chủ đề, việc khai thác những chi tiết đời sống hàng ngày, sử dụng kiểu ngôn ngữ nông dân trong giai đoạn mới. Rất tiếc Nam Cao đã hy sinh quá sớm khi ông thay đổi cách viết mà chưa định hình hẳn một phong cách nghệ thuật mới.Thật khó có thể dùng một từ để xác định nội dung phong cách nghệ thuật cuả Nam Cao, bởi vì những sắc thái phong cách cuả ông khá phong phú, thể hiện ở nhiều bình diện tác phẩm. Nam Cao có một kiểu ngôn ngữ riêng, một kiểu tạo tác nghệ thuật riêng và những nét rất riêng cuả một cá tính sáng tạo. Tất cả những cấp độ phong cách này xuyên thấm vào nhau và cùng bộc lộ ra một lúc, thống nhất nhưng vận động.Phong Lê thì cho rằng chất tự truyện là một nét độc đáo trong phong cách truyện cuả Nam Cao (Văn Học số 6/1986.tr118). Nguyễn Hoành Khung gọi Nam Cao là một “ cây bút hiện thực tỉnh táo nghiêm nhặt… một phong thái trữ tình thắm thiết”(Lịch sử Văn học Việt Nam-Nxb Giáo Dục.1978.tr 67). Thực ra, chất tự truyện trong truyện ngắn cuả Nam Cao chưa hẳn đã là một đặc điểm độc đáo. Trước Nam Cao, chất tự truyện trong tác phẩm cuả Nguyễn Đình Chiểu còn rõ hơn , đậm đặc hơn nhiều so với Nam Cao. Nam Cao là một nhà văn Hiện Thực, điều ấy không thể là phong cách Nam Cao, vì nhiều nhà văn cùng viết bằng bút pháp Hiện Thực như Nam Cao(Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng...), gọi là “Hiện Thực tỉnh táo nghiêm nhặt”, tôi không rõ nội hàm cuả khái niệm này Nguyễn Hoành Khung muốn nói gì, phải chăng cụm từ ấy để chỉ việc Nam Cao viết đúng như thật, nhìn thẳng vào sự thật đời sống cuả mình và xung quanh mình? cái gọi là “Hiện Thực tỉnh táo nghiêm nhặt” chỉ là góc nhìn và chất liệu. Hai yếu tố này chưa đủ tạo nên phong cách. Bởi vì làm sao có thể giải thích tính triết lý trong tác phẩm cuả Nam Cao, tức là sự suy gẫm, nghiền ngẫm hiện thực, và cách Nam Cao miêu tả tâm lý như yếu tố nội tại làm phát triển câu truyện. Và hơn thế, ở nhiều truyện, tính hư cấu mới làm nên tài năng cuả Nam Cao. Chí Phèo là một thí dụ điển hình về khả năng hư cấu sáng tạo cuả Nam Cao. Khó tìm thấy cái Hiện Thực tỉnh táo nghiêm nhặt” ở tác phẩm này.Trong ba cấp độ phong cách, thì cấp độ nghệ thuật tạo tác trội hơn cấp độ ngôn ngữ và phong cách tác giả. Bút pháp tâm lý và tính triết lý là những đặc sắc bao trùm lên ngôn ngữ đồng bằng Bắc bộ và chất trí thức tiểu tư sản, giàu suy tư, bi đát cuả Nam Cao.Nghệ thuật thể hiện tâm lý và tính triết lý cũng là những đóng góp nghệ thuật đặc sắc cuả Nam Cao cho truyện ngắn trước 1945. Tôi đề xuất cách gọi này: Nam Cao là cây bút tâm lý-triết lý, như đặc trưng phong cách cuả Nam Cao.(Bởi vì, cùng thời với ông, và cả sau ông, không có ai viết như ông)Bài này đã in trong Tạp chí Văn Học, số 2, 1997In lại trong Nam Cao -về tác giả và tác phẩm-Nxb Giáo Dục 1998. (tr.368-380).Tháng 4/1987Bùi Công ThuấnTheo http://buicongthuan.blogtiengviet.net/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ Đăng ký: Đăng Nhận xét (Atom)Truyện cái giường
Truyện cái giường Tôi là một cái giường hư bỏ trong nhà chứa đồ cũ. Tôi buồn lắm. Cái nhà nhỏ như một cái hộp lớn, tồi tàn, dơ bẩn, bụi đâ...
-
Nguyễn Du - Từ một ai đó đến không ai cả Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại... -
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ... -
Ánh trăng trong thơ Dương Quân Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...
Tìm kiếm Blog này
- Trang chủ
Giới thiệu về tôi
vanthonhactrieuchau.blogspot.com Xem hồ sơ hoàn chỉnh của tôi Báo cáo vi phạm |
Lưu trữ Blog
- ► 2026 (700)
- ► tháng 1 (700)
- ► 2025 (12333)
- ► tháng 12 (1104)
- ► tháng 11 (1284)
- ► tháng 10 (669)
- ► tháng 9 (652)
- ► tháng 8 (1029)
- ► tháng 7 (1089)
- ► tháng 6 (630)
- ► tháng 5 (169)
- ► tháng 4 (1068)
- ► tháng 3 (1461)
- ► tháng 2 (1517)
- ► tháng 1 (1661)
- ► 2024 (12472)
- ► tháng 12 (1393)
- ► tháng 11 (1264)
- ► tháng 10 (1177)
- ► tháng 9 (1325)
- ► tháng 8 (1389)
- ► tháng 7 (1163)
- ► tháng 6 (1180)
- ► tháng 5 (1313)
- ► tháng 4 (1125)
- ► tháng 3 (875)
- ► tháng 2 (163)
- ► tháng 1 (105)
- ► 2023 (18725)
- ► tháng 12 (1084)
- ► tháng 11 (1259)
- ► tháng 10 (1315)
- ► tháng 9 (1328)
- ► tháng 8 (1879)
- ► tháng 7 (1631)
- ► tháng 6 (1542)
- ► tháng 5 (1769)
- ► tháng 4 (1515)
- ► tháng 3 (1728)
- ► tháng 2 (1680)
- ► tháng 1 (1995)
- ► 2022 (12243)
- ► tháng 12 (1784)
- ► tháng 11 (989)
- ► tháng 10 (1360)
- ► tháng 9 (897)
- ► tháng 8 (1142)
- ► tháng 7 (1350)
- ► tháng 6 (890)
- ► tháng 5 (994)
- ► tháng 4 (756)
- ► tháng 3 (726)
- ► tháng 2 (499)
- ► tháng 1 (856)
- ► 2020 (3898)
- ► tháng 12 (293)
- ► tháng 11 (382)
- ► tháng 10 (226)
- ► tháng 9 (290)
- ► tháng 8 (440)
- ► tháng 7 (324)
- ► tháng 6 (276)
- ► tháng 5 (346)
- ► tháng 4 (335)
- ► tháng 3 (328)
- ► tháng 2 (274)
- ► tháng 1 (384)
- ► 2019 (4436)
- ► tháng 12 (442)
- ► tháng 11 (434)
- ► tháng 10 (376)
- ► tháng 9 (440)
- ► tháng 8 (404)
- ► tháng 7 (388)
- ► tháng 6 (185)
- ► tháng 5 (390)
- ► tháng 4 (380)
- ► tháng 3 (151)
- ► tháng 2 (291)
- ► tháng 1 (555)
- ► 2018 (4856)
- ► tháng 12 (467)
- ► tháng 11 (538)
- ► tháng 10 (359)
- ► tháng 9 (246)
- ► tháng 8 (333)
- ► tháng 7 (571)
- ► tháng 6 (187)
- ► tháng 5 (282)
- ► tháng 4 (495)
- ► tháng 3 (405)
- ► tháng 2 (335)
- ► tháng 1 (638)
- ► 2017 (5442)
- ► tháng 12 (208)
- ► tháng 11 (108)
- ► tháng 10 (587)
- ► tháng 9 (477)
- ► tháng 8 (436)
- ► tháng 7 (442)
- ► tháng 6 (779)
- ► tháng 5 (423)
- ► tháng 4 (608)
- ► tháng 3 (519)
- ► tháng 2 (394)
- ► tháng 1 (461)
- ► 2016 (5115)
- ► tháng 12 (310)
- ► tháng 11 (315)
- ► tháng 10 (509)
- ► tháng 9 (473)
- ► tháng 8 (378)
- ► tháng 7 (269)
- ► tháng 6 (303)
- ► tháng 5 (365)
- ► tháng 4 (486)
- ► tháng 3 (544)
- ► tháng 2 (644)
- ► tháng 1 (519)
- ► 2015 (3761)
- ► tháng 12 (497)
- ► tháng 11 (374)
- ► tháng 10 (423)
- ► tháng 9 (341)
- ► tháng 8 (444)
- ► tháng 7 (339)
- ► tháng 6 (322)
- ► tháng 5 (171)
- ► tháng 4 (66)
- ► tháng 3 (253)
- ► tháng 2 (284)
- ► tháng 1 (247)
- ► 2014 (2747)
- ► tháng 12 (277)
- ► tháng 11 (462)
- ► tháng 10 (348)
- ► tháng 9 (289)
- ► tháng 8 (517)
- ► tháng 7 (503)
- ► tháng 6 (237)
- ► tháng 5 (79)
- ► tháng 4 (35)
Từ khóa » Cả Bọn đi Lủi Thủi Trong Sương Lạnh
-
Bộ đề Đọc Hiểu Một đám Cưới Hay Nhất Thi THPT Quốc Gia - TopLoigiai
-
Thuylinh #11tin Truyện Ngắn Một đám Cưới Của Nhà Văn Nam Cao Là ...
-
Phân Tích Những điểm Giống Và Khác Nhau Của Hai Truyện Ngắn “Một ...
-
Một đám Cưới | Truyện Ngắn Nam Cao
-
Truyện Ngắn Một Đám Cưới - Nam Cao - Tài Liệu Text - 123doc
-
Nêu Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ So Sánh Trong Câu Văn:Cả Bọn đi ...
-
Điểm Khác Nhau Giữa Chí Phèo Và Các Tác Phẩm Cùng Viết Về đề Tài ...
-
Một Đám Cưới- Nam Cao- Truyện Ngắn - YouTube
-
Top 10 Truyện Ngắn Hay Nên đọc Của Nam Cao - Tikibook
-
Nhà Văn Nam Cao Và Những Giọt Nước Mắt - Thích Văn Học
-
Top 9 Tác Phẩm Nổi Tiếng Nhất Của Nhà Văn Nam Cao - Wowhay
-
Top 7 Truyện Ngắn Hay Nên đọc Của Nam Cao
-
Top 10 Truyện Ngắn Hay Nên đọc Của Nam Cao