Phù Phổi – Wikipedia Tiếng Việt
Có thể bạn quan tâm
| Phù phổi | |
|---|---|
| Synonyms | chứng phù nề ở phổi |
| Phù phổi với tràn dịch màng phổi nhỏ ở cả hai bên. | |
| Phân loại và tài liệu bên ngoài | |
| ICD-10 | J81 |
| ICD-9 | 514 518.4 |
| DiseasesDB | 11017 |
| MedlinePlus | 000140 |
| eMedicine | article/157452 article/300813, article/360932 |
| MeSH | D011654 |
Phù phổi (tiếng Anh: Pulmonary edema) là tích tụ dịch trong mô và phế nang của phổi.[1] Nó gây giảm sự trao đổi khí và có thể dẫn đến suy hô hấp. Nguyên nhân do tâm thất trái của tim bị suy nên không đẩy hết máu trong tuần hoàn phổi (phù phổi do tim), hoặc do một chấn thương ở nhu mô phổi hay mạch máu phổi (phù phổi không do tim).[2] Việc điều trị được tập trung vào ba khía cạnh: đầu tiên là phải cải thiện chức năng hô hấp, thứ hai là điều trị nguyên nhân cơ bản, và thứ ba là tránh những thiệt hại thêm cho phổi. Phù phổi, đặc biệt trong trường hợp cấp, có thể dẫn đến suy hô hấp gây tử vong hoặc ngừng tim do thiếu oxy máu. Đó là đặc trưng chính của suy tim sung huyết.
Nguyên nhân
[sửa | sửa mã nguồn]Phù phổi cấp (tiếng Anh: Acute pulmonary oedema, tiếng Pháp: Œdème aigu du poumon) có thể được chia thành hai nhóm nguyên nhân chính là phù phổi cấp do tim (Cardiogenic pulmonary oedema) và phù phổi cấp không do tim (Noncardiogenic pulmonary oedema, NCPO). Nhóm nguyên nhân phù phổi cấp không do tim có thể chia thành hai phân nhóm: hội chứng suy hô hấp nguy kịch hay hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (Acute respiratory distress syndrome, thường viết tắt là: ARDS) và nhóm các nguyên nhân không do suy hô hấp nguy kịch. Phân nhóm phù phổi cấp không những gợi ý cơ chế bệnh sinh chủ đạo mà còn gợi ý hướng quản lý tối ưu nhất với từng người bệnh[3].
Phù phổi cấp do tim
[sửa | sửa mã nguồn]Phù phổi cấp không do tim
[sửa | sửa mã nguồn]Hội chứng suy hô hấp nguy kịch (ARDS)
[sửa | sửa mã nguồn]
Phân loại
[sửa | sửa mã nguồn]Hội chứng suy hô hấp nguy kịch là một trong những trạng thái nguy kịch hô hấp trầm trọng nhất, đặc trưng bởi tình trạng tổn thương phổi lan tỏa, cấp tính do phản ứng viêm nặng gây nên bởi một phổ bệnh lý khác nhau như nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp tính do virus SARS-CoV-2 (COVID-19), ngạt nước, viêm tụy cấp,v.v.[4] Người bệnh mắc hội chứng suy hô hấp nguy kích thường được chuyển vào chế độ chăm sóc đặc biệt ở khoa Hồi sức tích cực (Intensive Care Unit, ICU) hoặc đơn vị hồi sức hô hấp khác ở cơ sở y tế. Nguyên nhân của hội chứng này có thể do các bệnh lý gây tổn thương trực tiếp ở phổi như viêm phổi cấp tính mắc phải cộng đồng, viêm phổi hít, ngạt khói, ngạt nước, v.v. hoặc tổn thương gián tiếp là hậu quả của một tình trạng viêm nặng hệ thống (thí dụ, nhiễm khuẩn huyết/ choáng nhiễm khuẩn, choáng chấn thương có truyền máu, ngộ độc thuốc/hóa chất) hay tại cơ quan khác (như viêm tụy cấp)[5].
Sinh lý bệnh học
[sửa | sửa mã nguồn]Chẩn đoán
[sửa | sửa mã nguồn]Chẩn đoán hội chứng suy hô hấp cấp nguy kịch (ARDS) được đặt ra sau khi đã chắc chắn loại trừ nguyên nhân phù phổi cấp do tim. Bộ tiêu chuẩn chẩn đoán ARDS thay đổi theo từng giai đoạn với độ chính xác tăng dần theo thời gian. Năm 1994, Hội nghị đồng thuận Mỹ Âu (American - European Consensus Conference, viết tắt AECC) đề xuất tiêu chuẩn chẩn đoán tổn thương phổi cấp (Acute Lung Injury) và hội chứng suy hô hấp nguy kịch (ARDS) khi người bệnh thỏa mãn các tiêu chí sau, lần lượt là khởi phát cấp tính/dai dẳng, hình ảnh thâm nhiễm hai phổi lan tỏa dai dẳng do phù phổi, rối loạn oxygen hóa máu (trong đó, PaO2/FiO2 ≤ 300 mmHg (40kPa) với tổn thương phổi cấp và PaO2/FiO2 ≤ 200 (27kPa) với ARDS) và đã loại trừ bằng chứng do tăng áp lực tâm nhĩ trái hoặc áp lực động mạch phổi bít (Pulmonary-artery wedge pressure, PAWP) ≥ 18mmHg[6]. Tiêu chuẩn này chuẩn hóa xác định ARDS nhưng vẫn tồn tại nhiều điểm yếu nhất định và đã được tu chỉnh nhiều lần sau đó[7]. Năm 2012, một hội nghị đồng thuận họp tại thành phố Berlin, khởi xướng bởi Hội Y học Hồi sức Châu Âu (European Society of Intensive Care Medicine, ESICM) với sự ủng hộ của Hội Lồng ngực Mỹ (American Thoracic Society, ATS) với Hội Y học Hồi sức (Society of Critical Care Medicine, SCCM), đã ban hành một bộ tiêu chuẩn mới được ra đời nhằm kiện toàn chẩn đoán hội chứng suy hô hấp nguy kịch (gọi tắt là Định nghĩa Berlin 2012 về ARDS)[8]. Định nghĩa Berlin 2012 (Berlin Definition of ARDS) được sử dụng phổ biến ở toàn cầu cũng như ở Việt Nam.
| STT | Tiêu chí | Mô tả | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 1 | Mức độ nặng rối loạn oxygen hóa | Phân độ:
| |
| 2 | Đặc điểm lâm sàng | Thỏa mãn tất cả các đặc điểm lâm sàng sau
| |
| Chú thích: PaO2 (phân áp/áp suất riêng phần oxygen trong máu động mạch; đơn vị mmHg), FiO2 là phân lượng oxygen trong khí hít vào (ghi dưới dạng chữ số thập phân), PEEP là áp lực dương cuối thì thở ra (Positive-end expiratory pressure, đơn vị cmH2O), CPAP là thở áp lực dương liên tục (Continuous positive airway pressure, đơn vị cmH2O). | |||
Sau đó, bộ định nghĩa Berlin đã được tu chỉnh nhiều lần bởi nhiều tổ chức khác nhau nhằm tối ưu hóa trong mức chính xác và khả năng sử dụng thực tế. Sự tu chỉnh càng được thúc đẩy sau khi thế giới phải đối diện với sự thiếu thốn về nguồn lực gây nên bởi đại dịch COVID-19 trong đầu thập niên nay, như sử dụng độ bão hòa oxygen theo mạch đập (spO2) thay cho phân áp oxygen động mạch (PaO2) hay bãi bỏ yêu cầu PEEP ra khỏi tiêu chuẩn xác định độ nặng giảm oxygen hóa, v.v., tuy nhiên sự hiệu chỉnh này cũng vấp phải sự phản đối không nhỏ bởi lo ngại về giảm mức độ chính xác[10].
Dấu hiệu và triệu chứng
[sửa | sửa mã nguồn]Triệu chứng phổ biến nhất của phù phổi là khó thở, nhưng cũng có thể bao gồm những triệu chứng khác chẳng hạn như ho ra máu (đờm dãi màu hồng sủi bọt), ra mồ hôi nhiều, lo âu, và da nhợt nhạt. Khó thở có thể biểu hiện như chứng orthopnea (khó thở khi nằm) và/hoặc khó thở kịch phát về đêm (paroxysmal nocturnal dyspnea) (các đợt khó thở trở nên đột ngột nghiêm trọng vào ban đêm). Đây là những triệu chứng phổ biến của phù phổi do suy tâm thất trái mạn tính. Sự phát triển của phù phổi có thể liên đới với những dấu hiệu và triệu chứng của "quá tải dịch"; đây là một thuật ngữ không rõ ràng dùng để mô tả các biểu hiện của suy tâm thất phải và có thể bao gồm phù ngoại biên (phù chân, nói chung là bị thủng, tức là da đàn hồi chậm khi bị ấn xuống), tăng áp lực tĩnh mạch và gan to (hepatomegaly). Các dấu hiệu khác bao gồm tiếng crackles ở cuối kỳ thở vào (âm thanh ngắt quãng không có dạng nhạc ở cuối chu kỳ hít sâu) khi thính chẩn và xuất hiện tiếng tim thứ 3 (T3).[2]
Chẩn đoán
[sửa | sửa mã nguồn]

Không có một xét nghiệm đơn độc nào có thể giúp xác định khó thở do phù phổi; thực tế có nhiều trường hợp có lẽ do nhiều yếu tố gây ra khó thở.
Nồng độ oxy hòa tan thấp và kết quả khí máu động học nhiễu loạn thì chẩn đoán được đề xuất là một shunt phổi. Chụp X-quang ngực có thể cho thấy dịch trên các màng phế nang, các đường Kerley B, mạch máu tăng độ mờ trong vùng quanh rốn phổi có hình cánh dơi, chuyển dòng thùy trên (tăng lưu lượng máu đến các phần trên của phổi), và có thể tràn dịch màng phổi. Ngược lại, thâm nhiễm phế nang thường liên quan đến phù phổi không do tim.[2]
Siêu âm phổi cũng có thể là một biện pháp hữu hiệu để chẩn đoán phù phổi; nó không những chính xác, mà còn có thể xác định được lượng mức của dịch phổi, theo dõi sự thay đổi theo thời gian, và phân biệt được phù phổi do tim hay không do tim.[11]
Đặc biệt với những ca phù phổi do tim, siêu âm tim có thể tăng cường chẩn đoán do nó thể hiện rõ sự suy giảm chức năng của tâm thất trái, áp lực tĩnh mạch trung tâm và tĩnh mạch phổi tăng.
Xét nghiệm máu các chỉ số điện giải (natri, kali) và chỉ số chức năng thận (creatinin, urê). Men gan, dấu hiệu viêm (thường là protein phản ứng C) và một công thức máu cũng như các xét nghiệm đông máu (PT, aPTT) cũng thường được chỉ định. Peptid natri lợi niệu não (BNP) có sẵn ở các bệnh viện. Mức BNP thấp (<100 pg/ml) cho thấy không phải nguyên nhân do tim.[2]
Phòng ngừa
[sửa | sửa mã nguồn]Ở những người bị bệnh tim, tầm soát hiệu quả những triệu chứng sung huyết có thể ngăn ngừa phù phổi.
Dexamethasone được dùng rộng rãi để ngừa phù phổi do độ cao. Sildenafil được dùng để ngừa phù phổi do độ cao và tăng áp động mạch phổi,[12][13] cơ chế tác dụng là thông qua ức chế phosphodiesterase làm tăng cGMP, dẫn đến giãn động mạch phổi và ức chế sự tăng sinh tế bào cơ trơn.[14] Trong khi hiệu ứng này chỉ mới được phát hiện gần đây, sildenafil đã được chấp thuận để điều trị cho trường hợp này, đặc biệt là trong những trường hợp mà điều trị tiêu chuẩn nhanh bị trì hoãn vì một số lý do.[15]
Phân loại
[sửa | sửa mã nguồn]Nguyên nhân cơ bản là do bệnh tim (tâm thất trái) nhưng dịch cũng có thể tích tụ do tổn thương ở phổi. Tổn thương này có thể là thương tích trực tiếp hoặc thương tích trung gian do áp suất cao trong tuần hoàn phổi. Khi phù phổi trực tiếp hoặc gián tiếp do tăng áp tâm thất trái có thể làm áp lực phổi tăng từ mức bình thường 15 mmHg[16] lên trên 25 mmHg.[17] Nhìn chung, nguyên nhân gây phù phổi có thể được chia thành từ tim và không từ tim. Trong trường hợp từ tim, thì theo thông lệ nguyên nhân là từ tâm thất trái.
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ "pulmonary edema" tại Từ điển Y học Dorland
- ^ a b c d Ware LB, Matthay MA (tháng 12 năm 2005). "Clinical practice. Acute pulmonary edema". N. Engl. J. Med. Quyển 353 số 26. tr. 2788–96. doi:10.1056/NEJMcp052699. PMID 16382065.
- ^ Sureka, Binit; Bansal, Kalpana; Arora, Ankur (2015). "Pulmonary edema − cardiogenic or noncardiogenic?". Journal of Family Medicine and Primary Care (bằng tiếng Anh). Quyển 4 số 2. tr. 290. doi:10.4103/2249-4863.154684. ISSN 2249-4863.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: DOI truy cập mở nhưng không được đánh ký hiệu (liên kết)
- ^ Wick, Katherine D.; Ware, Lorraine B.; Matthay, Michael A. (ngày 28 tháng 10 năm 2024). "Acute respiratory distress syndrome". BMJ (bằng tiếng Anh). Quyển 387. tr. e076612. doi:10.1136/bmj-2023-076612. ISSN 1756-1833. PMID 39467606.
- ^ Bos, Lieuwe D. J.; Ware, Lorraine B. (ngày 1 tháng 10 năm 2022). "Acute respiratory distress syndrome: causes, pathophysiology, and phenotypes". The Lancet (bằng tiếng English). Quyển 400 số 10358. tr. 1145–1156. doi:10.1016/S0140-6736(22)01485-4. ISSN 0140-6736. PMID 36070787.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
- ^ Bernard, G. R.; Artigas, A.; Brigham, K. L.; Carlet, J.; Falke, K.; Hudson, L.; Lamy, M.; Legall, J. R.; Morris, A. (tháng 3 năm 1994). "The American-European Consensus Conference on ARDS. Definitions, mechanisms, relevant outcomes, and clinical trial coordination". American Journal of Respiratory and Critical Care Medicine. Quyển 149 số 3 Pt 1. tr. 818–824. doi:10.1164/ajrccm.149.3.7509706. ISSN 1073-449X. PMID 7509706.
- ^ Luce, J. M. (tháng 2 năm 1998). "Acute lung injury and the acute respiratory distress syndrome". Critical Care Medicine. Quyển 26 số 2. tr. 369–376. doi:10.1097/00003246-199802000-00043. ISSN 0090-3493. PMID 9468178.
- ^ The ARDS Definition Task Force* (ngày 20 tháng 6 năm 2012). "Acute Respiratory Distress Syndrome". JAMA (bằng tiếng Anh). Quyển 307 số 23. doi:10.1001/jama.2012.5669. ISSN 0098-7484.
- ^ ARDS Definition Task Force; Ranieri, V. Marco; Rubenfeld, Gordon D.; Thompson, B. Taylor; Ferguson, Niall D.; Caldwell, Ellen; Fan, Eddy; Camporota, Luigi; Slutsky, Arthur S. (ngày 20 tháng 6 năm 2012). "Acute respiratory distress syndrome: the Berlin Definition". JAMA. Quyển 307 số 23. tr. 2526–2533. doi:10.1001/jama.2012.5669. ISSN 1538-3598. PMID 22797452.
- ^ Grasselli, Giacomo; Calfee, Carolyn S.; Camporota, Luigi; Poole, Daniele; Amato, Marcelo B. P.; Antonelli, Massimo; Arabi, Yaseen M.; Baroncelli, Francesca; Beitler, Jeremy R. (ngày 1 tháng 7 năm 2023). "ESICM guidelines on acute respiratory distress syndrome: definition, phenotyping and respiratory support strategies". Intensive Care Medicine (bằng tiếng Anh). Quyển 49 số 7. tr. 727–759. doi:10.1007/s00134-023-07050-7. ISSN 1432-1238. PMC 10354163. PMID 37326646.
- ^ Volpicelli, Giovanni; Elbarbary, Mahmoud; Blaivas, Michael; Lichtenstein, Daniel A.; Mathis, Gebhard; Kirkpatrick, Andrew W.; Melniker, Lawrence; Gargani, Luna; Noble, Vicki E. (ngày 1 tháng 4 năm 2012). "International evidence-based recommendations for point-of-care lung ultrasound". Intensive Care Medicine. Quyển 38 số 4. tr. 577–591. doi:10.1007/s00134-012-2513-4. ISSN 1432-1238. PMID 22392031.
- ^ Richalet JP, Gratadour P, Robach P, và đồng nghiệp (2005). "Sildenafil inhibits altitude-induced hypoxemia and pulmonary hypertension". Am. J. Respir. Crit. Care Med. Quyển 171 số 3. tr. 275–81. doi:10.1164/rccm.200406-804OC. PMID 15516532.
- ^ Perimenis P (2005). "Sildenafil for the treatment of altitude-induced hypoxaemia". Expert Opin Pharmacother. Quyển 6 số 5. tr. 835–7. doi:10.1517/14656566.6.5.835. PMID 15934909.
- ^ Clark, Michael; Kumar, Parveen J. (2009). Kumar and Clark's clinical medicine. St. Louis, Mo: Elsevier Saunders. tr. 783. ISBN 0-7020-2993-9.
- ^ Fagenholz PJ, Gutman JA, Murray AF, Harris NS (2007). "Treatment of high altitude pulmonary edema at 4240 m in Nepal". High Alt. Med. Biol. Quyển 8 số 2. tr. 139–46. doi:10.1089/ham.2007.3055. PMID 17584008.
- ^ What Is Pulmonary Hypertension? From Diseases and Conditions Index (DCI). National Heart, Lung, and Blood Institute. Last updated September 2008. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2009.
- ^ Chapter 41, page 210 in: Cardiology secrets By Olivia Vynn Adair Edition: 2, illustrated Published by Elsevier Health Sciences, 2001 ISBN 1-56053-420-6, ISBN 978-1-56053-420-4
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- HeartFailureMatters.org Animation showing How Heart Failure causes Fluid Accumulation – Created by the European Heart Failure Association
Bản mẫu:Respiratory pathology Bản mẫu:Hemodynamics
| Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩn | |
|---|---|
| Quốc tế |
|
| Quốc gia |
|
| Khác |
|
Từ khóa » X Quang Phù Phổi Cấp
-
Phù Phổi Cấp: Chẩn đoán Và điều Trị | Vinmec
-
Chẩn đoán Và điều Trị Phù Phổi Cấp | Vinmec
-
Phù Phổi Cấp - SlideShare
-
Nguyên Nhân Dẫn đến Phù Phổi Cấp Và Cách điều Trị Bệnh
-
PHÙ PHỔI CẤP
-
Chẩn đoán Hình ảnh Phù Phổi Cấp Và Hội Chứng Nguy Cấp Hô Hấp ở ...
-
Pulmonary Edema - Rối Loạn Tim Mạch - Cẩm Nang MSD
-
Phù Phổi Cấp - Bệnh Viện đa Khoa Tỉnh Quảng Nam
-
Phù Phổi Cấp: Chẩn đoán Và điều Trị
-
Phù Phổi Một Bên: Cơ Chế, Chẩn đoán Và điều Trị – P1
-
X-Quang Phù Phổi Cấp (Bs. Nguyễn Quý Khoáng) - YouTube
-
Cấp Cứu Một Trường Hợp Phù Phổi Do Ngạt Nước Tại BV Hoàn Mỹ ...
-
Phù Phổi Một Bên: Cơ Chế, Chẩn đoán Và điều Trị (Unilateral ...