Phương Châm 16 Chữ Vàng – Wikipedia Tiếng Việt

Bài viết này hiện đang gây tranh cãi về tính trung lập. Có thể có thảo luận liên quan tại trang thảo luận. Xin đừng xóa bảng thông báo này cho đến khi vấn đề được giải quyết hoặc đạt được đồng thuận trên trang thảo luận của bài viết. (Tìm hiểu cách thức và thời điểm xóa thông báo này)
Bài viết hoặc đoạn này cần được wiki hóa để đáp ứng tiêu chuẩn quy cách định dạng và văn phong của Wikipedia. Xin hãy giúp sửa bài viết này bằng cách thêm bớt liên kết hoặc cải thiện bố cục và cách trình bày bài.

Phương châm 16 chữ vàng (tiếng Trung: 十六字方针; Hán-Việt: Thập lục tự phương châm) là nguyên tắc chỉ đạo nền tảng trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc, được lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước xác lập vào năm 1999.[1] Nội dung cốt lõi của phương châm này bao gồm 16 chữ: "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" (tiếng Trung: 睦邻友好、全面合作、长期稳定、面向未来; bính âm: Mùlín yǒuhǎo, quánmiàn hézuò, chángqī wěndìng, miànxiàng wèilái).[2][3] Đây được coi là kim chỉ nam định hình khuôn khổ hợp tác song phương trong thế kỷ 21, đánh dấu bước chuyển mình từ giai đoạn bình thường hóa (1991) sang giai đoạn phát triển chiều sâu và chiến lược.[4]

Phương châm 16 chữ vàng chính thức được thông qua trong Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 2 tháng 3 năm 1999, sau các cuộc hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Giang Trạch Dân. [5][6][7]Bên cạnh 16 chữ này, vào năm 2005, trong chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tới Bắc Kinh, hai bên đã thống nhất bổ sung "Tinh thần 4 tốt" (Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt) để làm phong phú thêm nội hàm quan hệ.[8][9]

Bối cảnh ra đời phương châm

[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 1991, sau khi Trung Quốc và Việt Nam thực hiện bình thường hoá quan hệ, nhà lãnh đạo cấp cao hai đảng, hai nước liên tiếp đi thăm lẫn nhau, sự giao lưu và hợp tác giữa hai bên trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hoá ngày càng mở rộng và sâu sắc.[10][11]

Do đặc thù địa lý tự nhiên, con người, chế độ xã hội và vận mệnh sống còn của hai đảng cầm quyền của hai nước hết sức gần gũi, gắn bó:

Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương quan Chữ Hán: 山水相連 理想相通 文化相同 運命相關

Giai đoạn sau bình thường hóa (1991–1998)

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Hội nghị Thành Đô tháng 9 năm 1990, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc chính thức được bình thường hóa vào tháng 11 năm 1991.[12] [13]Trong những năm đầu sau khi nối lại bang giao, hai nước tập trung vào việc khôi phục các kênh liên lạc và xây dựng lòng tin chính trị.[14] [15]Kim ngạch thương mại hai chiều tăng trưởng nhanh chóng, từ mức 32 triệu USD vào năm 1991 lên các mức cao hơn trong các năm tiếp theo, tạo tiền đề vật chất cho sự hợp tác.[16][17]

Tuy nhiên, trong giai đoạn này, mối quan hệ chủ yếu mang tính chất "khôi phục" và giải quyết các vấn đề tồn đọng do lịch sử để lại. [18][19]Các cuộc đàm phán về biên giới lãnh thổ diễn ra phức tạp, đòi hỏi một tư duy chỉ đạo cấp cao nhất quán để tháo gỡ vướng mắc.[20] Lãnh đạo hai nước nhận thấy cần phải nâng cấp quan hệ từ mức độ "bình thường" sang một khuôn khổ "ổn định và lâu dài" hơn. [21]Đến cuối thập niên 1990, bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế khu vực gia tăng, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xác định rõ định hướng chiến lược cho quan hệ song phương trong thế kỷ mới.[22]

Hội đàm cấp cao năm 1999

[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1999 được xác định là thời điểm chín muồi để hai Đảng, hai nước thống nhất về nguyên tắc chỉ đạo quan hệ.[23] Nhận lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Giang Trạch Dân,[24] Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu đã dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sang thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc.[25] Chuyến thăm diễn ra từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 2 tháng 3 năm 1999.[26]

Tại Bắc Kinh, trong các cuộc hội đàm, lãnh đạo hai bên đã thảo luận sâu rộng về các vấn đề khu vực và quốc tế.[27] Phía Trung Quốc, đại diện là Tổng Bí thư Giang Trạch Dân, đã đề xuất sự cần thiết phải có một phương châm ngắn gọn, súc tích để khái quát hóa tầm nhìn quan hệ. Ngày 27 tháng 2 năm 1999, hai bên đã ra Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc,[28] trong đó chính thức xác lập phương châm 16 chữ: "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai".

Việc thông qua phương châm này được xem là cam kết chính trị cao nhất của lãnh đạo hai nước vào thời điểm đó.[29] Nó đánh dấu bước chuyển mình quan trọng từ việc "bình thường hóa" sang giai đoạn "hợp tác toàn diện".[30] Các thành tố trong phương châm được thiết kế để bao quát cả quá khứ ("láng giềng hữu nghị"), hiện tại ("hợp tác toàn diện") và tương lai ("ổn định lâu dài").[31] Phương châm này cũng trở thành cơ sở pháp lý và chính trị quan trọng để hai nước đẩy nhanh tiến trình đàm phán biên giới,[32] dẫn đến việc ký kết Hiệp ước biên giới trên đất liền vào tháng 12 năm 1999[33] và Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ vào năm 2000.[34] Đây được coi là những thành quả cụ thể đầu tiên của việc áp dụng phương châm 16 chữ vào thực tiễn quan hệ song phương.

Phương châm giữa 2 nước

[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1999, Tổng bí thư Giang Trạch Dân đã đề ra và Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu đã đồng ý Phương châm 16 chữ vàng "Ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện" đã xác định tư tưởng chỉ đạo và khung tổng thể phát triển quan hệ hai nước trong thế kỷ mới, đánh dấu quan hệ Trung Việt đã bước vào giai đoạn phát triển mới được lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước xác định trong Tuyên bố chung, từ tháng 2/1999.

Nội dung

[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 2000, khi hội đàm với Tổng bí thư mới đảng cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh đến thăm, Tổng bí thư Giang Trạch Dân nêu rõ, 16 chữ này là phương châm quan trọng chỉ đạo sự phát triển quan hệ hai nước[10]

  • "Ổn định lâu dài" (长期稳定, Trường kỳ ổn định) là nhấn mạnh tình hữu nghị Trung Việt là phù hợp lợi ích căn bản của hai đảng, hai nước và nhân dân hai nước, bất kỳ lúc nào, bất kỳ tình hình nào đều phải giữ sự ổn định và phát triển lành mạnh của quan hệ hữu nghị, khiến nhân dân hai nước đời đời hữu nghị với nhau;[10]
  • "Hướng tới tương lai" (面向未来, Diện hướng vị lai) là phải xuất phát từ hiện nay, nhìn về lâu dài, kế thừa truyền thống, mở ra tương lai tốt đẹp hơn cho quan hệ Trung Việt;[10]
  • "Hữu nghị láng giềng" (睦邻友好, Mục lân hữu hảo) là yêu cầu hai bên phải làm người láng giềng tốt, người bạn tốt, trước sau xử lý mọi vấn đề trong quan hệ hai nước với tinh thần hữu nghị láng giềng;[10]
  • "Hợp tác toàn diện" (全面合作, Toàn diện hợp tác) là phải không ngừng củng cố, mở rộng và sâu sắc sự giao lưu và hợp tác giữa hai đảng, hai nước trong mọi lĩnh vực, để mưu cầu hạnh phúc cho hai nước và nhân dân hai nước, đồng thời góp phần cho việc giữ gìn và thúc đẩy nền hoà bình, ổn định và phát triển trong khu vực.[10]

Tác động

[sửa | sửa mã nguồn]

Việc xác định Phương châm 16 chữ vàng, khiến quan hệ hai đảng, hai nước Trung Việt đã thu được tiến triển quan trọng mới. Hai nước đã lần lượt lý hiệp ước biên giới trên bộ, Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ và hiệp định hớp tác ngư nghiệp. Hai đảng, hai nước Trung Việt đã triển khai cuộc giao lưu kinh nghiệm quản lý đảng, quản lý đất nước một cách sâu rộng, sự hợp tác kinh tế thương mại giữa hai nước đã bước lên thềm cao mới, sự giao lưu hữu nghị giữa nhân dân hai nước, nhất là giữa thanh niên hai nước cũng đã tiến ra một bước có nghĩa sâu xa.[10]

Thực hiện Phương châm 16 chữ vàng, trong những năm qua lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước liên tục có các chuyến thăm quan trọng, nhằm không ngừng vun đắp, đưa quan hệ hữu nghị đặc biệt đồng chí anh em lên tầm cao mới, đáp ứng lòng mong mỏi của nhân dân hai nước.

Tiếp tục các chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Lý Bằng, tháng 11-1992 và tháng 6-1996, của Tổng Bí thư Đảng, Chủ tịch nước Giang Trạch Dân, tháng 11-1994 và tháng 3-2002, của Chủ tịch Quốc hội Kiều Thạch, tháng 11-1996, của Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ, tháng 12-1999, của Thủ tướng Ôn Gia Bảo, tháng 10-2004, chuyến thăm Việt Nam lần này của Hồ Cẩm Đào từ ngày 31/10 đến 2/11 năm 2005 [35] là chuyến thăm cấp cao nhất, với cương vị đầy đủ nhất- Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Chủ tịch quân uỷ Trung ương, kể từ Đại hội XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2002 đến nay. Đây thực sự là chuyến thăm lịch sử, là bước ngoặt, tiếp tục thúc đẩy quan hệ ngoại giao giữa hai Đảng, là biểu hiện của tình đoàn kết hữu nghị thủy chung, đồng chí anh em, được chứng minh bằng những thành tựu mà nhân dân hai nước đã giành được trong 55 năm qua, đồng thời khẳng định trước sau như một đường lối đối ngoại mà lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước đã khẳng định trong các chuyến thăm cấp cao giữa hai bên từ khi bình thường hoá quan hệ năm 1991 đến nay.[36]

Ý nghĩa

[sửa | sửa mã nguồn]

Sự hợp tác giữa 2 nước trên Phương châm 16 chữ vàng hoàn toàn phù hợp lợi ích lâu dài của hai nước và nguyện vọng của nhân dân hai nước Trung Việt, đặt cơ sở vững chắc cho việc phát triển sâu sắc quan hệ hữu nghị láng giềng và hợp tác toàn diện giữa hai nước[10]

Tình hữu nghị Trung Việt là của cải quý báu của hai đảng, hai nước và nhân dân hai nước. Nhà lãnh đạo hai nước nhiều lần nhấn mạnh, trong thế kỷ mới phải lấy Phương châm 16 chữ vànglàm chỉ đạo, không ngừng phong phú, tăng cường và sâu sắc nội hàm của nó, đưa quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống Trung Việt lên trình độ phát triển cao hơn [10]

Triển vọng

[sửa | sửa mã nguồn]

Quan hệ hai nước theo Phương châm 16 chữ vàng "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" chắc chắn sẽ sống động hơn, hiệu quả hơn, nhất là về kinh tế thương mại, cũng như đẩy nhanh hơn tiến độ triển khai các Thoả thuận, Hiệp định hợp tác giữa hai nước và trao đổi về các vấn đề quốc tế và khu vực hai bên cùng quan tâm.[36]

Phổ biến

[sửa | sửa mã nguồn]

Báo chí dư luận Việt Nam chưa nói đến chuyện Trung Quốc đã hứa hẹn với Việt Nam Phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt [37] cũng như vạch ra sự tráo trở của Trung Quốc nói lời mà không giữ lấy lời khi cho tàu lạ đâm chìm tàu cá Việt Nam [38]

Nghi vấn

[sửa | sửa mã nguồn]

Những cuộc xung đột vì tranh giành lãnh thổ luôn đưa tới những nghi ngờ là cái phương châm này chỉ là những chiêu bài với những ý đồ nào đó, khác hẳn với thực tế.

  • Trong cuộc hội kiến với Thủ tướng Quốc Vụ viện Trung Quốc Ôn Gia Bảo vào ngày 19 tháng 7 năm 2005, Chủ tịch nước Trần Đức Lương khẳng định, Nhà nước và nhân dân Việt Nam rất coi trọng mối quan hệ truyền thống với Trung Quốc và sẽ làm hết sức mình để thực hiện "phương châm 16 chữ" và "quan hệ 4 tốt".[39]
  • Thứ trưởng ngoại giao Hồ Xuân Sơn, với tư cách là đặc phái viên của lãnh đạo cấp cao Việt Nam, đã gặp ủy viên quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc vào ngày 25 tháng 6 năm 2011 để đưa ra các thông điệp của Việt Nam liên quan đến vấn đề biển Đông, gồm 3 điểm chính. Điểm 1: "Khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc theo phương châm 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt."[40]

Vụ giàn khoan HD-981

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam bày tỏ quan điểm của chính phủ Việt Nam: "Phía Việt Nam luôn luôn thực tâm, chân thành và nỗ lực hết sức để phấn đấu xây dựng mối quan hệ dựa trên Phương châm 16 chữ vàng..."[41]
  • Nhà hoạt động xã hội dân sự TS Nguyễn Quang A ở Hà Nội nhận định: "... còn chuyện vẫn nói tới 4 tốt 16 chữ vàng thì những người ấy chắc là đã bị ăn vào bùa lú mất rồi."[42]
  • Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Đặng Ngọc Tùng đề cập tới Vụ giàn khoan HD-981, nhận định: ""Đây là bài học cho những ai còn mơ hồ về 16 chữ vàng, về 4 tốt"[43]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Nguyễn, Minh Vũ (13). "Bảy mươi lăm năm xây dựng và phát triển quan hệ Việt Nam - Trung Quốc". Tạp chí Cộng sản. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |ngày truy cập=, |ngày= và |năm= / |ngày= không khớp (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |tháng= (trợ giúp)
  2. ^ "Phương châm "16 chữ" và tinh thần "4 tốt" trong quan hệ Việt Nam-Trung Quốc là gì?". special.nhandan.vn (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  3. ^ laodong.vn https://laodong.vn/thoi-su/viet-nam-trung-quoc-kien-tri-phuong-cham-16-chu-va-tinh-than-4-tot-1278654.ldo. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  4. ^ "Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc". https://www.qdnd.vn. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026. {{Chú thích web}}: Liên kết ngoài trong |website= (trợ giúp)
  5. ^ "Attention Required". vov.vn. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  6. ^ baochinhphu.vn (ngày 25 tháng 4 năm 2019). "Thúc đẩy quan hệ Việt Nam-Trung Quốc phát triển ổn định, lành mạnh, bền vững". baochinhphu.vn. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  7. ^ "中越双边重要文件_中华人民共和国外交部". www.mfa.gov.cn. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  8. ^ Phong, Báo điện tử Tiền (ngày 22 tháng 7 năm 2005). "Thông cáo chung Việt Nam - Trung Quốc". Báo điện tử Tiền Phong. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  9. ^ "重要新闻_中华人民共和国外交部". www.mfa.gov.cn. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  10. ^ a b c d e f g h i Phương châm 16 chữ vàng chỉ đạo phát triển toàn diện quan hệ Trung Việt[liên kết hỏng] 2008-06-24 14:55:49
  11. ^ Website Hơp tác kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam trang có đuôi gov.cn
  12. ^ https://vnexpress.net/quan-he-kinh-te-viet-trung-sau-mot-phan-tu-the-ky-3305898.html
  13. ^ "外交史上的今天_中华人民共和国外交部". www.mfa.gov.cn. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  14. ^ http://thuvien.due.udn.vn:8080/dspace/bitstream/TVDHKT/9680/1/000000CVv183S022008027.pdf
  15. ^ "越中建交70周年:友谊与合作仍是主流". cn.qdnd.vn. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  16. ^ "Hiệp định hợp tác thương mại song phương Việt Nam - Trung Quốc". https://everest.org.vn/ (bằng tiếng VN). Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026. {{Chú thích web}}: Liên kết ngoài trong |website= (trợ giúp)Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  17. ^ https://www.ydylcn.com/skwx_ydyl//competitiveReportDetail?SiteID=1&contentType=literature&subLibID=8730&mediaID=4534679
  18. ^ https://www.vietnam.vn/75-nam-quan-he-trung-quoc-viet-nam-ke-thua-qua-khu-viet-tiep-trang-moi-tuong-lai
  19. ^ "内容详情". www.xuexi.cn. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  20. ^ "中华人民共和国政府和越南社会主义共和国政府关于中越陆地边界管理制度的协定_中华人民共和国外交部". www.mfa.gov.cn. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  21. ^ "Phương châm 16 chữ chỉ đạo phát triển toàn diện quan hệ Trung Việt - Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc". vietnamese.cri.cn. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  22. ^ baochinhphu.vn (ngày 17 tháng 1 năm 2010). "Tình hữu nghị Việt – Trung mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững". baochinhphu.vn. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  23. ^ https://nvsk.vnanet.vn (ngày 7 tháng 9 năm 2023). "Chuyến thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu (25/2 - 2/3/1999)". Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026. {{Chú thích báo}}: Liên kết ngoài trong |last= (trợ giúp)
  24. ^ https://nvsk.vnanet.vn (ngày 7 tháng 9 năm 2023). "Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc (25/2 - 2/3/1999)". Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026. {{Chú thích báo}}: Liên kết ngoài trong |last= (trợ giúp)
  25. ^ Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, người dám làm và dám chịu trách nhiệm trước những quyết định lịch sử, Báo Nhân Dân. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  26. ^ Dấu ấn sâu đậm của nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Báo Nhân Dân Multimedia. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  27. ^ baochinhphu.vn (ngày 12 tháng 8 năm 2020). "Những dấu ấn sâu đậm của nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu". baochinhphu.vn. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  28. ^ https://nvsk.vnanet.vn (ngày 7 tháng 9 năm 2023). "Tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc (27/2/1999)". Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026. {{Chú thích báo}}: Liên kết ngoài trong |last= (trợ giúp)
  29. ^ News, VietNamNet. "Báo VietnamNet". VietNamNet News (bằng tiếng vietnamese). Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026. {{Chú thích web}}: |last= có tên chung (trợ giúp)Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  30. ^ "Attention Required". vov.vn. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  31. ^ Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc: Kiên trì phương châm "láng giềng hữu nghị...", VnEconomy. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  32. ^ Hội nghị tổng kết công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc, Bộ Nội vụ. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  33. ^ Nam, Biên Phòng Việt. "Hiệp ước Biên giới trên đất liền giữa Việt Nam- Trung Quốc ký ngày 30-12-1999". Biên Phòng Việt Nam. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  34. ^ tử, Báo Nhân Dân điện (ngày 2 tháng 7 năm 2004). "Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ góp phần tăng cường sự tin cậy giữa Việt Nam và Trung Quốc". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  35. ^ Thư ngỏ gửi các nhà văn Trung Quốc
  36. ^ a b Nâng quan hệ Việt - Trung lên tầm cao mới Lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2010 tại Wayback Machine 14:27 | 30/10/2005 Trần Doãn Tiến
  37. ^ " láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt
  38. ^ "Tàu lạ" tấn công ngư dân Việt Nam là tàu Trung Quốc Lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2009 tại Wayback Machine Đức Tâm Bài đăng ngày 20/07/2009 Cập nhật lần cuối ngày 20/07/2009 16:48 TU
  39. ^ Việt Nam sẽ làm hết sức mình để thực hiện "phương châm 16 chữ" và "quan hệ 4 tốt"[liên kết hỏng], Đảng Cộng sản Việt Nam, 20/07/2005
  40. ^ Việt Nam khẳng định phương châm 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt với Trung Quốc, RFA, 06.28.2011
  41. ^ Các nhà khoa học phải làm tốt hơn để đất nước mạnh hơn! 17.05.2014
  42. ^ Còn tin vào 16 chữ vàng là lú lẫn?, RFA, 23.05.2014
  43. ^ Bài học cho những ai còn mơ hồ về "16 chữ vàng", về "4 tốt" Lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2014 tại Wayback Machine, Lao động, 2.6.2014

Từ khóa » Núi Liền Núi Sông Liền Sông