QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỔ MÔN PHẨM GIẢNG KÝ
Có thể bạn quan tâm
Huyền diệu trên đời Pháp rộng sâu, Trăm ngàn muôn kiếp dễ chi cầu. Nay con nghe thấy chuyên trì tụng, Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu. |
|
| QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỔ MÔN PHẨM GIẢNG KÝ 2. Kệ tụng hợp hiển (Hợp giải kệ tụng) 2.1. Trùng vấn đắc danh sở dĩ(Hỏi lại duyên do được danh hiệu) Chánh kinh: Nhĩ thời, Vô Tận Ý Bồ Tát dĩ kệ vấn viết: Thế Tôn diệu tướng cụ, Ngã kim trùng vấn bỉ, Phật tử hà nhân duyên Danh vi Quán Thế Âm? 爾時無盡意菩薩以偈問曰。 世尊妙相具。 我今重問彼。 佛子何因緣。 名為觀世音。 (Lúc bấy giờ, Vô Tận Ý Bồ Tát dùng kệ hỏi: - Thế Tôn, đủ diệu tướng, Con nay xin lại hỏi: Nhân duyên gì Phật tử Tên là Quán Thế Âm?) Phần Trường Hàng của phẩm này đến đây đã giảng xong, nay giảng tiếp phần Kệ Tụng. Trường Hàng dùng thể tài văn xuôi để tuyên thuyết; Kệ Tụng dùng thể tài văn vần. Đức Phật giảng kinh, đa phần có đủ hai loại thể tài này. Như trong hai mươi tám phẩm kinh Pháp Hoa, chỉ có phẩm sau cùng là phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát không có kệ tụng, các phẩm khác đều có kệ tụng. Thế nhưng khi ngài La Thập dịch phẩm Phổ Môn này, chưa dịch phần Kệ Tụng; sau này, ngài Xà Na Cấp Đa (Jhanagupta) dịch ra, các sư đời sau Ngài cho rằng Phạn bản vốn có phần Kệ Tụng này nên đem bài kệ đây ghép vào sau phần Trường Hàng của phẩm Phổ Môn do ngài La Thập dịch, hợp thành một phẩm hoàn chỉnh. Bởi thế phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa khi được lưu truyền trong hiện tại đều có phần Kệ Tụng này. Do vậy, tôi lại dựa theo phần Kệ Tụng để giải thích đại lược. Kệ Tụng là so với Trường Hàng mà nói, có các dạng ba chữ, bốn chữ, năm chữ, bảy chữ, tám chữ khác biệt, nhưng phải có đủ bốn câu mới gọi là Kệ; tiếng Phạn gọi là Kệ Đà, Hán dịch là Ứng Tụng; nếu gộp cả tiếng Ấn lẫn tiếng Hoa thì thành ra Kệ Tụng. Nếu phân loại thì lại có hai loại khác nhau: 1) Nếu là một kết cấu đơn độc để diễn giải pháp nghĩa thì trong mười hai bộ loại kinh, nó được gọi là Già Đà (Gatha); dịch là Cô Khởi Tụng, chẳng gọi là Trùng Tụng. 2) Nếu là bài kệ dùng để kết lại ý nghĩa đã giảng trong phần kinh văn bằng văn xuôi đã giảng trước đó thì trong mười hai bộ loại kinh gọi là Kỳ Dạ (Geya), dịch là Ứng Tụng, hoặc Trùng Tụng. Kệ Tụng trong phẩm này thuộc loại Trùng Tụng. Sở dĩ gọi là Trùng Tụng, cũng có hai ý nghĩa: 1) Để cho những thính chúng đến sau trong pháp hội cũng được nghe giản lược những điều đã giảng trong phần văn xuôi trước đó. 2) Để cho những thính chúng chưa thể hiểu thật sâu những điều đã nói trong phần trước, sẽ nhờ vào phần Kệ Tụng này mà được hiểu rõ và dễ ghi nhớ trong tâm. Chữ “nhĩ thời” chỉ lúc đức Phật nói xong phần Trường Hàng. Vào đúng lúc đó, Vô Tận Ý Bồ Tát lại dùng kệ tụng hỏi đức Phật. “Thế Tôn” là một trong mười hiệu chung của đức Phật, do được hết thảy phàm thánh thế gian xuất thế gian cùng tôn trọng nên có danh hiệu này. Đức Thế Tôn đã chứng Vô Thượng Chánh Giác chẳng giống với mọi phàm phu, Phật có đủ ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, bởi thế gọi là “diệu tướng cụ” (đầy đủ các tướng mầu nhiệm). Đầy đủ các diệu tướng, trong phẩm Đề Bà Đạt Đa nói: Vi diệu tịnh Pháp Thân, Cụ tướng tam thập nhị, Dĩ bát thập chủng hảo, Dụng trang nghiêm Pháp Thân. (Pháp Thân tịnh vi diệu, Đủ ba mươi hai tướng, Dùng tám mươi vẻ đẹp, Để trang nghiêm Pháp Thân) Trong phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự gọi là “dung nhan thậm kỳ đặc” (dung mạo rất lạ lùng, đặc biệt). [Khi nói] Phật có đủ các diệu tướng, ta thường hiểu là nói về Ứng Thân, nhưng trong phẩm Đề Bà Đạt Đa lại nói Pháp Thân đủ các tướng, đó là điều rất đáng chú ý! Pháp Thân có tướng trạng hay không, các học giả thường tranh luận, ở đây tôi chẳng thể giảng kỹ vì nói ra dài dòng quá. Còn như ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, danh tướng rắc rối quá nên bất tất phải giảng từng thứ một, chủ yếu là: Dưới lòng bàn chân có tướng bánh xe ngàn căm, trước ngực có chữ Vạn, giữa hai mày có tướng bạch hào, trên đảnh có nhục kế v.v… Tướng hảo chẳng phải ngẫu nhiên mà có được, phải do tu các phước đức mà có. Bởi thế mới có hai câu nói như sau: “Tam kỳ tu phước huệ; bách kiếp chủng tướng hảo” (Ba A-tăng-kỳ tu phước huệ; trăm kiếp trồng tướng hảo). Mỗi một tướng hảo do một trăm phước tạo thành, chẳng phải là chuyện đơn giản! Chúng ta nếu muốn được tướng hảo thì phải đúng pháp tu tập đức hạnh mới được như nguyện, bởi những tướng hảo ấy là do tu tập mà thành chứ chẳng phải tự nhiên mà có vậy! Vô Tận Ý tôi nay lại hỏi đức Phật lần nữa: Vị Phật tử kia do nhân duyên nào mà được danh hiệu là Quán Thế Âm? Chữ “bỉ” và “Phật tử” trong phần Kệ Tụng đều chỉ Quán Thế Âm Bồ Tát. “Phật tử” vốn là tiếng để gọi chung người tin Phật, học Phật, như tứ chúng, thất chúng[1] đều có thể xưng là Phật tử, nhưng ở đây chữ “Phật tử” này chuyên chỉ Quán Thế Âm Bồ Tát. Nếu nói dễ dãi, đức Phật coi chúng sanh đều như con một, nên hết thảy chúng sanh trong pháp giới đều xưng là “Phật tử” cũng chẳng hề gì; nhưng nếu nói phân biệt thì có đích tử và thứ tử. Theo Đại Thừa Phật pháp: Nhị Thừa là thứ tử (con dòng thứ) của Phật, vì chẳng thể kế thừa gia nghiệp Như Lai, Bồ Tát Thừa là đích tử (con dòng chánh) vì có thể thiệu long Phật chủng, gánh vác gia nghiệp Như Lai, nên người thật sự có thể xưng là con dòng, cháu đích của Phật chỉ có hàng Bồ Tát độ sanh tự lợi lợi tha. Quán Âm là đại Bồ Tát, đương nhiên có đủ tư cách xưng là Phật tử. Cần biết: Đức Phật xuất thế hoàn toàn lấy việc hoằng pháp độ sanh làm gia vụ sự nghiệp, ngoại trừ việc hoằng pháp độ sanh, bất cứ việc gì khác Phật cũng chẳng làm! Hiện thời chúng ta đã là Phật tử, phải hoằng pháp độ sanh giống như đức Phật, phải gánh vác sự nghiệp đức Như Lai đã từng gánh vác, giống như con cái kế thừa giữ gìn sự nghiệp của cha mẹ. Làm đệ tử Phật, nếu chẳng thể thực hiện sự nghiệp Phật hóa, mà suốt đời chỉ có thể thực hiện Phật sự quấy quá cho xong thì chẳng những là bất hiếu đối với Phật, mà còn là cô phụ thân phận Phật tử của chính mình nữa. Đặc biệt là trong thời đại hiện tại, nhân loại đúng là đang cần được Phật pháp cứu vớt; là người con Phật càng phải nên tích cực thực hiện công tác hoằng dương Phật pháp, ngõ hầu nhân loại thế giới khỏi bị hủy diệt bởi oai lực của bom khinh khí (H-bomb). Do vậy, tôi mong những Phật tử chân chánh có lòng thiệu long Phật chủng chẳng để Phật chủng đoạn tuyệt hãy nên biết trách nhiệm trọng đại của chính mình, nhất trí vì Phật pháp, vì nhân loại, vì chúng sanh mà nỗ lực thực hiện sự nghiệp Phật hóa. 2.2. Hợp hiển đắc danh du hóa(giải thích rõ duyên do đắc danh và sự du hóa) 2.2.1. Hiển đắc danh sở dĩ(nêu nguyên do được danh hiệu) 2.2.1.1. Tổng tiêu(nêu chung) Chánh kinh: Cụ túc diệu tướng tôn, Kệ đáp Vô Tận Ý: Nhữ thính Quán Âm hạnh, Thiện ứng chư phương sở, Hoằng thệ thâm như hải, Lịch kiếp bất tư nghị, Thị đa thiên ức Phật, Phát đại thanh tịnh nguyện, Ngã vị nhữ lược thuyết, Văn danh cập kiến thân, Tâm niệm bất không quá, Năng diệt chư hữu khổ. 具足妙相尊。 偈答無盡意。 汝聽觀音行。 善應諸方所。 弘誓深如海。 歷劫不思議。 待多千億佛。 發大清淨願。 我為汝略說。 聞名及見身。 心念不空過。 能滅諸有苦。 (Đấng đầy đủ diệu tướng, Kệ đáp Vô Tận Ý: Ông nghe hạnh Quán Âm, Khéo ứng các nơi chốn, Nguyện lớn sâu như biển, Trải kiếp chẳng nghĩ bàn, Hầu nhiều ngàn ức Phật, Phát đại thanh tịnh nguyện, Ta vì ông nói lược: Nghe tên và thấy thân, Tâm niệm chẳng luống qua, Diệt khổ trong các cõi). Vô Tận Ý dùng kệ thỉnh vấn đức Phật, đức Phật là “cụ túc diệu tướng tôn” (đấng đầy đủ tướng tốt) bèn dùng kệ phúc đáp Vô Tận Ý: Ông nay nghe ta nói sơ lược các hạnh môn ngài Quán Âm đã tu, chẳng phải đơn giản như mọi người tưởng tượng đâu nhé, mà thật là vi diệu chẳng thể nghĩ bàn được. Đối với các pháp môn ngài Quán Âm đã hành và các công đức Ngài đạt được, vì sao chẳng nói là Quán hay là Thấy mà lại nói là “nghe” (“Ông nghe hạnh Quán Âm”); trong phần giải thích vì sao Quán Thế Âm Bồ Tát có tên là Quán Thế Âm trong phần trên, tôi đã có nói rồi: Bồ Tát dùng lẫn lộn sáu căn, ở đây chẳng nhắc lại nữa. Do Quán Âm Bồ Tát tu chẳng thể nghĩ bàn các hạnh môn, đã từng đạt được sức oai đức thần thông chẳng thể nghĩ bàn, bởi thế Ngài có thể “thiện ứng chư phương sở” (khéo hiện [trong khắp] các nơi chốn). Ở đây nói “phương sở” là chỉ mười phương quốc độ, ý nói: Quán Thế Âm Bồ Tát dùng ba mươi ba ứng thân ứng hiện trong bất cứ cõi nước nào, cũng có nghĩa là trong mọi ngóc ngách của mỗi một thế giới đều có Quán Âm Bồ Tát thị hiện, như trong phần trên nói là “vô sát bất hiện thân” (không cõi nào chẳng hiện thân) cũng chỉ là cách nói khác của “thiện ứng chư phương sở” vậy. Chẳng những là không một cõi nào trong không gian Bồ Tát chẳng hiện thân, mà trong thời gian, không lúc nào Bồ Tát chẳng hiện. Quán Âm Bồ Tát đã đạt đến mức “không cõi nào chẳng hiện thân” là vì khi mới phát tâm, Ngài đã từng phát hoằng thệ sâu như biển cả nên nói là “hoằng thệ thâm như hải” (nguyện lớn sâu như biển). Hoằng (弘) nghĩa là rộng lớn, Thệ (誓) nghĩa là ước định, tức là hành theo đúng đại nguyện mình đã lập, chẳng cần biết là gian nan khốn khổ như thế nào, đều chẳng vì gặp bất cứ trở ngại và thử thách nào mà buông bỏ hết thảy những điều mình đã lập nguyện phải làm. Sách Pháp Giới Thứ Đệ, quyển Hạ viết: “Duyên rộng khắp gọi là Hoằng, tự chế tâm mình gọi là Thệ, chí mong trọn đủ gọi là Nguyện”. Một con người lập chí phát nguyện nếu chẳng chế ngự được cái tâm mình, nếu chẳng muốn làm [nhất định] như thế nào đó thì sẽ khó tránh khỏi lui sụt, thất bại. Chỉ có nhờ vào tinh thần trăm thứ trở ngại chẳng nao núng, sau khi phát nguyện lập thệ, nhất tâm chuyên chí phấn đấu tiến lên, khi chưa trọn vẹn ý nguyện quyết chẳng ngưng nghỉ [thì mới thành tựu ý nguyện]. Thế nào mới là Hoằng Thệ? Trong Phật pháp, chỉ có đại thệ nguyện độ sanh mới là hoằng thệ. Nhưng độ sanh cũng chẳng phải là độ một hai chúng sanh hoặc một số ít chúng sanh mà phải độ khắp hết thảy chúng sanh; như kinh Kim Cang dạy: “Sở hữu nhất thiết chúng sanh chi loại... ngã giai linh nhập Vô Dư Niết Bàn nhi diệt độ chi” (tất cả hết thảy loài chúng sanh… tôi đều khiến cho nhập Vô Dư Niết Bàn để diệt độ); ấy mới là hoằng thệ đại nguyện chân chánh. Trong lúc còn là phàm phu, mới phát tâm, Quán Âm Bồ Tát từng có mười hai đại nguyện, như nói: “Quán Âm Đại Sĩ, hiệu là Viên Thông, mười hai đại thệ nguyện rộng sâu” chính là lời thuyết minh rất khéo về hoằng thệ sâu như biển cả của Ngài. Bởi thế, mỗi một hành giả Bồ Tát chân chánh chẳng những có những nguyện chung phải nên lập, mà mỗi người còn phải lập những lời nguyện riêng biệt; như mười hai đại nguyện của đức Quán Âm cố nhiên là biệt nguyện. Như nói đến năm trăm đại nguyện của Phật Thích Ca, bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Đà, mười hai đại nguyện của Phật Dược Sư, đều là nói về biệt nguyện vậy. Quán Âm đại sĩ phát Bồ Đề tâm, lập hoằng thệ nguyện, chẳng phải chỉ trong một hai ngày bèn hoàn thành đại thệ nguyện đó, mà là trong chẳng thể nghĩ bàn trần kiếp, tinh tấn dũng mãnh thực hiện Bồ Tát hạnh, nên nay mới đạt đến địa vị Nhất Sanh Bổ Xứ, bởi thế nói là “lịch kiếp bất tư nghị” (trải kiếp chẳng nghĩ bàn). Kiếp trong tiếng Ấn là Kiếp-ba (kalpa), tương phản với sát-na (ksana). Sát-na tượng trưng cho thời gian cực ngắn, Kiếp-ba tượng trưng cho thời gian cực dài. Thời gian lâu dài ấy chẳng thể dùng năm tháng ngày giờ thông thường để tính toán được nổi. Kiếp-ba còn dịch là Đại Thời, như quyển mười tám Trí Độ Luận chép: “Đại Thời gọi là Kiếp”. Xét ra, có ba loại: Đại Kiếp, Tiểu Kiếp, Trung Kiếp. Thời gian đức Quán Âm dành để tự hành hóa tha chẳng phải là một hai kiếp, dăm ba kiếp để con người chúng ta có thể tâm nghĩ, miệng bàn hòng suy lường được, mà là trải qua trần điểm kiếp, đấy là điều chúng ta chẳng thể nghĩ bàn được nổi. Trải qua chẳng thể nghĩ bàn trần sa kiếp, Quán Âm Bồ Tát rộng tu đại hạnh Bồ Tát, thời gian Ngài trải qua đương nhiên rất dài. Chính vì thời gian hành đạo Bồ Tát cực dài, nên Ngài cũng phụng sự chư Phật nhiều đến trăm ngàn vạn ức vị, như kinh Kim Cang nói: “Đương tri thị nhân, bất ư nhất Phật, nhị Phật, tam, tứ, ngũ Phật nhi chủng thiện căn, dĩ ư vô lượng thiên vạn Phật sở chủng chư thiện căn” (Phải biết người ấy chẳng phải gieo thiện căn nơi một Phật, hai Phật, ba bốn năm đức Phật, mà là gieo thiện căn nơi vô lượng ngàn vạn đức Phật). Bởi thế, kệ tụng nói: “Thị đa thiên ức Phật” (Hầu nhiều ngàn ức Phật). Sở dĩ một đức Phật xuất thế, Bồ Tát phải phụng thị (vâng kính, hầu hạ) là vì: 1) Bồ Tát phải thường theo học với Phật, dù nói “Phật Phật đạo đồng”, nhưng phương tiện độ sanh của mỗi một đức Phật rốt ráo vẫn có điểm bất đồng. Bởi thế, Bồ Tát chẳng thể không phụng sự, học tập theo Phật. 2) Bồ Tát phải giúp đức Phật tuyên dương, giáo hóa, dù ngàn vạn ức Phật xuất thế, Bồ Tát chẳng thể không phụng sự trước tòa mỗi đức Phật, nghe chư Phật sai khiến, giúp Phật tuyên dương pháp hóa. Hầu Phật đã rất nhiều, đương nhiên tích tập hạnh cũng rất thù thắng, cho nên nguyện đã phát cũng chỉ là thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh, tuyệt đối chẳng có các tạp niệm bất thuần chánh nào khác xen tạp vào, nên nói là “phát đại thanh tịnh nguyện”. Chúng ta lập nguyện nếu thuần vì lợi lạc cá nhân, chẳng những nội tâm đã sớm chẳng thanh tịnh mà còn do nguyện lực thúc đẩy, tự biểu hiện ra hành vi cũng chẳng thuần khiết. Động cơ lập nguyện của Bồ Tát, nhìn lên chỉ là thượng cầu Phật đạo, nhìn xuống chỉ mong hóa độ chúng sanh. Do hết thảy hoạt động của ba nghiệp thân - ngữ - ý tạm thời xa lìa hết thảy phiền não ác hạnh cấu nhiễm, hoặc vĩnh viễn xa lìa hết thảy cấu nhiễm phiền não ác hạnh, có thể nói là ba nghiệp không lầm lỗi, nên gọi là thanh tịnh; đấy mới thật sự là đại nguyện thanh tịnh. Chỉ có đại nguyện thanh tịnh như thế mới có thể ứng hiện trong hết thảy cõi nước, cứu tế khắp hết thảy chúng sanh. Pháp sư Thông Lý nói: “Hai câu ‘lịch kiếp’ (tức “lịch kiếp bất tư nghị, thị đa thiên ức Phật”) cho thấy hạnh tự tu thù thắng, nghĩa là: Bồ Tát lúc tu nhân, trải qua kiếp số đã đến mức chẳng thể nghĩ bàn, những đức Phật Ngài đã hầu nhiều đến số ngàn ức. Hạnh ấy có thể nói là thù thắng vậy”. Như vậy, “phát đại thanh tịnh nguyện” đương nhiên có nghĩa là phát nguyện thù thắng. “Nguyện lớn, hạnh lớn, cúng nhiều Phật, nguyện rộng xa, gốc sâu rễ chắc, nên mới có đủ các thân ứng hóa Phổ Môn thị hiện như thế, thí đại vô úy, diệu lực chẳng thể nghĩ bàn, ví như thuyền cao nước lớn, đất nhiều [đắp được tượng] Phật to. Đấy là lời đức Thích Ca Mâu Ni Phật tán thán Quán Thế Âm Bồ Tát diệu lực chẳng thể nghĩ bàn vậy”. Do vậy, Quán Âm Bồ Tát dù hạnh hay nguyện đều chẳng thể nghĩ bàn, đều đáng khen ngợi cả, bởi lẽ, Ngài chẳng vì tự thân mà phải làm như thế, mà thật sự là vì chúng sanh mà làm như thế, do một lòng giáo hóa chúng sanh cho họ được giải thoát, do hy sinh bản thân nên chứng giác Phật quả tối cao vô thượng. Thêm nữa, đức Phật lại bảo cùng Vô Tận Ý: Tuy ở trên, ta đã vì ông nói các hạnh nguyện tự tha của Quán Âm Bồ Tát, nay ở đây ta vẫn phải vì ông lược nói những hạnh hóa tha của Quán Âm Bồ Tát. Quán Âm là vị Bồ Tát đại từ đại bi, không thời khắc nào chẳng quan hoài bọn chúng sanh ta, do đó, bất luận chúng ta “nghe tên” và “thấy thân”, cho đến “tâm niệm” Bồ Tát thì đều sẽ cảm ứng Bồ Tát, chẳng đến nỗi luống uổng. Pháp sư Thông Lý nói: “Nghe tên ắt xưng niệm là dùng khẩu nghiệp để cảm; thấy thân ắt lễ là dùng thân nghiệp để cảm; tâm niệm ắt quán là dùng ý nghiệp để cảm. Ba điều ấy đều có thể ứng, nên chẳng luống uổng”. Có người cho rằng miệng xưng danh, thân thể lễ bái, tâm niệm tư duy là lãng phí thời gian, chẳng có ý nghĩa gì, chẳng có một chút lợi ích thật sự gì, đây là điều lầm lạc lớn nhất, mà cũng là lỗi lầm chẳng có tín niệm tôn giáo vậy! Câu “năng diệt chư hữu khổ” (diệt khổ trong các cõi) hiển thị lợi ích thù thắng đạt được do nghe tên, thấy thân và tâm niệm Bồ Tát. “Chư Hữu” nói đơn giản là Tam Hữu, tức Dục Hữu, Sắc Hữu, Vô Sắc Hữu; nói ở mức độ trung bình là chín cõi: Ngũ Thú Tạp Cư Địa, Ly Sanh Hỷ Lạc Địa, Định Sanh Hỷ Lạc Địa; Ly Hỷ Diệu Lạc Địa, Xả Niệm Thanh Tịnh Địa, Không Vô Biên Xứ Địa, Thức Vô Biên Xứ Địa, Vô Sở Hữu Xứ Địa, Phi Phi Tưởng Xứ Địa. Nếu phân tích chi tiết, “chư Hữu” chỉ hai mươi lăm Hữu trong tam giới, tức là bốn đường ác trong bốn đại châu, Lục Dục và Phạm Thiên, Tứ Thiền, Tứ Không Xứ, Vô Tưởng và Bất Hoàn. Gọi chung là Hữu vì có nhân có quả, nhân quả chẳng lầm vậy. Bình thường khi chúng ta nói đến Hữu thì có nghĩa là “tồn tại”, tức là mỗi một hữu tình có sanh mạng thể trong tam giới. Dù không thật sự có được một Tự Ngã, nhưng có giả tướng do duyên khởi hòa hợp, đích xác tồn tại trong thế gian này nên gọi là Hữu. Sanh mạng thể trong hai mươi lăm Hữu là bất đồng, nhìn từ quan điểm thế gian, đương nhiên là có sướng vui vô cùng khác biệt, như trên trời là sướng nhất, địa ngục là khổ nhất, nhân gian là khổ vui lẫn lộn. Nhưng nếu nhìn từ quan điểm Phật pháp, chúng sanh trong hai mươi lăm Hữu của tam giới đều cùng trong biển khổ sanh tử, không ai chẳng bị đau khổ bức bách. Nếu dựa trên ý nghĩa bức bách, thông thường nói có tám khổ, nhưng nay dựa theo quyển mười hai Trí Độ Luận lược nói có hai thứ khổ: 1) Nội khổ: Chỉ bốn trăm lẻ bốn thứ bệnh khổ nơi thân thể, các nỗi khổ ưu sầu, ghen ghét v.v… trong tâm. 2) Ngoại khổ: Chỉ các nỗi khổ gia hại như ác tặc, cọp, sói v.v… nỗi khổ tai nạn mưa, gió, lạnh, nóng v.v… Bất luận nội khổ hay ngoại khổ bức bách, chỉ cần thâu nhiếp tam nghiệp, nhất tâm xưng danh, thân lễ, tâm niệm, liền cảm ứng Bồ Tát, diệt trừ các nỗi khổ trong hai mươi lăm Hữu và các thứ ách nạn, thân tâm rốt ráo được giải thoát! 2.2.1.2. Biệt hiển (hiển thị riêng biệt từng điều) 2.2.1.2.1. Năng miễn tam nạn (thoát được ba nạn) Chánh kinh: Giả sử hưng hại ý, Thôi lạc đại hỏa khanh, Niệm bỉ Quán Âm lực, Hỏa khanh biến thành trì. Hoặc phiêu lưu cự hải, Long, ngư, chư quỷ nạn, Niệm bỉ Quán Âm lực, Ba lãng bất năng một. 假使興害意。 推落大火炕。 念彼觀音力。 火炕變成池。 或漂流巨海。 龍魚諸鬼難。 念彼觀音力。 波浪不能沒。 (Nếu kẻ nổi ý hại, Xô rớt hầm lửa lớn, Nhờ sức niệm Quán Âm, Hầm lửa biến thành ao. Hoặc lênh đênh biển cả, Mắc nạn quỷ, cá, rồng, Nhờ sức niệm Quán Âm, Sóng mòi chẳng chìm được) Từ đây trở đi, trùng tụng những sự Quán Âm cứu nạn, cứu tai. Hai bài kệ tụng này ý nói có thể tránh được tam tai: hỏa tai, thủy tai, phong tai. Giả sử trong thế gian này, có kẻ nào đối với quý vị khởi tâm ý hãm hại, thật sự đẩy quý vị rớt vào trong “hầm lửa lớn” mong kết thúc sanh mạng của quý vị; nhưng trong lúc đó, quý vị chẳng cần phải sanh ác niệm đối với kẻ đó, chỉ cần quý vị có thể niệm thánh hiệu đức Quán Âm Bồ Tát kia, liền có thể cảm ứng thần lực oai đức của Bồ Tát khiến cho cái hầm lửa lớn quý vị té vào đó ngay lập tức biến thành ao nước trong mát, khiến quý vị chẳng bị tổn thương mảy may nào. Kinh Hoa Nghiêm phẩm Nhập Pháp Giới chép: “Ma La Da sơn, xuất Chiên Đàn hương, nhược dĩ đồ thân, thiết nhập đại hỏa, hỏa bất năng thiêu” (Núi Ma La Da sanh hương Chiên Đàn, nếu bôi lên thân, dù có vào trong lửa lớn, lửa chẳng đốt nổi). Gỗ Chiên Đàn Hương thế gian còn có lực dụng như thế, huống hồ là hạnh nguyện lực của Bồ Tát? Cao Tăng Truyện chép thời Ngụy có pháp sư Pháp Lực, phát tâm sửa tháp dựng chùa, đi ra ngoài mộ hóa, quyên được một xe mè, đi đến giữa đầm, gặp phải dịp đốt đồng, rủi thay lúc đó pháp sư Pháp Lực mệt mỏi ngủ quên, đến khi lửa cháy đến gần thân, bị khói lửa xông tỉnh, bèn lập tức xưng niệm thánh hiệu. Ngay lúc miệng vừa thốt ra chữ Quán, còn chưa niệm đến hai chữ Thế Âm, theo tiếng niệm gió liền nổi, ngọn lửa cũng theo đó tắt ngấm, đủ thấy hiệu lực của việc niệm thánh hiệu Quán Âm. Còn như Hỏa là Sân Hỏa, phần trên đã giảng rồi, bất tất phải nhắc lại. Nhưng cũng có thể hiểu “hầm lửa” là tỷ dụ đường ác; như nói: “Tam ác hỏa khanh, lâm chung dục nhập” (Hầm lửa ba đường ác, lâm chung sắp vào). Một người lúc còn sống tạo tội ác, đến lúc sắp chết, đương nhiên phải đọa ba ác đạo, thế nhưng ngay trong lúc đó, nếu có thể nhất tâm xưng niệm thánh hiệu Quán Âm, ngưỡng cậy sức oai đức từ bi của Quán Âm, lập tức chuyển ba đường ác thành đường lành; thậm chí vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Kinh Quán Thế Âm Đại Bi Đà Ra Ni nói: “Ngã nhược hướng hỏa thang, hỏa thang tự tiêu diệt” (Nếu tôi hướng về vạc lửa, vạc lửa tự tiêu diệt) cũng là nói về ý này. Bị người xô rớt vào hầm lửa, nhưng chẳng khởi ác niệm đối với người ấy, chỉ có người tu dưỡng nơi tôn giáo mới có thể làm như vậy được. Hết thảy mọi thế nhân thông thường, đừng nói là quý vị đẩy họ vào tử địa hay làm hại mạng, chỉ cần có chút gì chẳng vừa ý họ, họ cũng nghĩ cách trả đũa hết. Bởi thế, làm người tốt nhất là phải có tín ngưỡng tôn giáo và có sự tu dưỡng tôn giáo. Hoặc là có người chèo thuyền vượt biển, lúc thuyền vào trong biển cả, chợt gặp phải cuồng phong sóng dữ khiến thuyền “phiêu lưu cự hải” (lênh đênh trong biển cả), sóng gió vùi dập khiến người ta bị lạc hướng trong biển, đó là việc rất nguy hiểm! Bởi lẽ, nước sâu chẳng thể tự thoát, lại còn có các tai nạn rồng, cá, la-sát, các quỷ. Nói thật ra, nếu chẳng bị chết đuối, cũng vùi thân trong bụng cá, rất ít có cơ hội sanh tồn! Trong cảnh ngàn cân treo sợi tóc ấy, nếu có thể niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, ngửa nhờ sức oai thần của Quán Âm Bồ Tát, sóng mòi chẳng thể nhấn chìm đáy biển, bởi thế nói là “ba lãng bất năng một” (sóng mòi chẳng chìm được). Nên biết “cự hải” (biển cả) được nói ở đây chỉ biển cả sanh tử vô biên, “rồng, cá, các quỷ” chỉ phiền não trong nội tâm chúng ta. Phiền não trong tâm chúng ta dậy sóng nổi gió khiến chúng ta vĩnh viễn trôi nổi trong biển sanh tử, chẳng đến được bờ kia Niết Bàn. Trên mặt sự tướng, tôi kể một hai câu chuyện cảm ứng: Trong niên hiệu Thuận Trị đời Thanh, có ông họ Lưu ở Mạt Lăng phát tâm triều lễ Nam Hải Phổ Đà, trong thuyền nguyện được thấy Bồ Tát, nào ngờ sau đó gặp cơn sóng gió, thuyền lật, họ Lưu rơi xuống nước. Tuy người đã ở dưới nước, trước mắt thấy bốn phía ánh sáng đỏ rực, có một vị tăng nhân, đưa ông ta về nhà, lúc vừa về đến nhà, vị tăng nhân biến mất; mới biết vị tăng nhân đến cứu họ Lưu chính là Quán Âm Bồ Tát thị hiện. Trong sách Tỳ Kheo Ni Truyện có nói thời Tấn có vị ni sư pháp danh là Lệnh Tông, trước tiên là ở Ký Châu, do niệm thánh hiệu được thoát nạn giặc. Buổi chiều, ni sư đến bến Đạt Mãnh, do không có thuyền để qua sông, Ni sư bèn kiền thành niệm thánh hiệu, chợt có một con nai trắng chạy tới, lội xuống sông, ni sư theo chân nai [vượt sông], chẳng bị thấm ướt, nhờ đó về được nhà. Nên biết con nai trắng đó cũng là Quán Âm thị hiện đến cứu ni sư Lệnh Tông. 2.2.1.2.2. Năng miễn bát nạn (Thoát khỏi tám nạn) 2.2.1.2.2.1. Oán tặc hình lục nạn (Nạn oán tặc, xử tử hình) Chánh kinh: Hoặc tại Tu Di phong, Vị nhân sở thôi đọa, Niệm bỉ Quán Âm lực, Như nhật hư không trụ, Hoặc bị ác nhân trục, Đọa lạc Kim Cang sơn, Niệm bỉ Quán Âm lực, Bất năng tổn nhất mao, Hoặc trị oán tặc nhiễu, Các chấp đao gia hại, Niệm bỉ Quán Âm lực, Hàm tức khởi từ tâm, Hoặc tao vương nạn khổ, Lâm hình dục thọ chung, Niệm bỉ Quán Âm lực, Đao tầm đoạn đoạn hoại. 或在須彌峰。 為人所推墮。 念彼觀音力。 如日虛空住。 或被惡人逐。 墮落金剛山。 念彼觀音力。 不能損一毛。 或值怨賊繞。 各執刀加害。 念彼觀音力。 咸即起慈心。 或遭王難苦。 臨刑欲壽終。 念彼觀音力。 刀尋段段壞。 (Hoặc trên đảnh Tu Di, Bị người đẩy rớt xuống, Nhờ sức niệm Quán Âm, Như mặt nhật treo không, Hoặc bị người ác đuổi, Rớt khỏi núi Kim Cang, Nhờ sức niệm Quán Âm, Chẳng bị tổn mảy lông, Hoặc gặp oán tặc quấy, Cùng cầm đao gia hại, Nhờ sức niệm Quán Âm, Đều liền khởi từ tâm, Hoặc gặp phải nạn vua, Chịu chém, mạng sắp dứt, Nhờ sức niệm Quán Âm, Đao liền gãy từng khúc) Tu Di, còn gọi là Tu Di Lâu (Sumeru, Meru), hay Tô Mê Lư, Trung Quốc dịch là Diệu Cao. Vì núi này do bảy báu hợp thành, nên gọi là Diệu. Vì núi này cao hơn bảy Kim Sơn[1] nên gọi là Cao. Núi ở trong đại hải, dựa trên Kim Luân, mặt trời, mặt trăng xoay quanh, chư thiên sống hoặc dạo chơi trong đó, bảy rặng núi vây quanh, bảy biển giáp vòng. Bốn mặt núi mỗi mặt một màu: Mặt Đông màu hoàng kim, mặt Nam màu lưu ly, mặt Tây màu bạch ngân, mặt Bắc màu pha lê. Bất luận mặt núi màu gì, nước ở phía mặt núi đó đều cùng một màu với núi. Tính ra, núi này cao tám vạn bốn ngàn do-tuần, ngập dưới nước bốn vạn hai ngàn do-tuần, vượt khỏi mặt nước bốn vạn hai ngàn do-tuần, là trung tâm của thế giới Sa Bà. Thật ra, núi Tu Di được nói trong kinh Phật hiện tại chính là Hỷ Mã Lạp Sơn (Himalayas), đúng là ngọn núi cao nhất thế giới[2]. Phật dạy: Giả sử có người đang ở trên ngọn cao nhất của núi Tu Di, đột nhiên bị người khác xô rớt xuống, chẳng cần phải nói, người ấy chẳng khỏi tan xương nát thịt, tuyệt đối chẳng còn có hy vọng sống còn. Vì thế nói là “vị nhân sở thôi đọa” (bị người đẩy rớt xuống), nhưng ngay trong lúc đó, người bị đẩy ấy kiền thành xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, liền được oai lực của Quán Âm Bồ Tát gia bị, hệt như mặt trời, mặt trăng an trụ trong không trung, chẳng đến nỗi rớt xuống mất mạng. Người đẩy ta rớt xuống không phải là oan gia thì cũng là đạo tặc mưu đoạt tài hại mạng; người bị đẩy mà chẳng rơi toàn là do oai lực Quán Âm gia trì. Trong chuyện thoát khỏi oán tặc này, sở dĩ đặc biệt lấy núi Tu Di để nói là vì Diệu Cao sơn vương trên thấu hư không, dưới tột cùng biển cả, cứu được nạn khó cứu nhất. Chót vót đảnh núi Diệu Cao, Bồ Tát còn cứu được thì những nơi khác Quán Âm đến cứu tế sẽ chẳng thành vấn đề nữa. Sách Quảng Tín Phủ Chí có chép một câu chuyện như sau: Dưới triều Tống, có người vào núi đào quặng đồng, đào mỏ đồng sâu đến nỗi không sao dò được, đào đến nỗi ngọn núi ấy muốn sụp lở. Ngay trong lúc ấy, chợt có một người nữ xách giỏ chứa một con cá vàng đến rao bán. Những người đào đồng trong hầm núi nghe tiếng người nữ rao bán cá, ai nấy tranh nhau chui ra, chỉ sợ mình chậm chân, đến lúc mọi công nhân đều chui ra khỏi hang núi xong, ngay lập tức ngọn núi sụp xuống, cô gái bán cá cũng chẳng biết đi đâu mất! Mọi người kinh hồn hoảng vía, mới hay đó là Quán Âm đến cứu độ vậy. Ở đây, núi cao Tu Di ví cho núi Ngã Mạn cao ngất của chúng ta. Người sống trong thế gian không ai là chẳng cống cao, ngã mạn, có thể thấy rõ thái độ cậy mình khinh người đó. Người ở trên đảnh núi ngã mạn cao chót vót, thường coi thường mọi sự, chẳng có ai đáng để vào mắt, tự cho mình phi phàm nhất; bởi thế, từ đầu đến cuối muốn giữ vững địa vị của chính mình. Một ngày nào đó, cảm thấy có chuyện gì chẳng vừa ý, chẳng được đại đa số mọi người tôn trọng, liền tự giận dữ, tự vứt bỏ, cam bề đọa lạc, khác nào bị người xô từ đỉnh núi Tu Di xuống. Bởi thế, làm người chẳng được tự cao, tự đại, mà phải thường tự khiêm. Nếu có thể thường niệm Quán Âm sẽ có thể an nhiên ngồi nơi địa vị của chính mình! Hoặc lại có kẻ nào đó, bị những kẻ hung ác tàn bạo không ngừng đuổi theo sau, bức kẻ ấy không còn đường nào chạy trốn nữa; kết quả, bị té từ núi Kim Cang xuống, chẳng cần phải nói nữa, thật là nguy hiểm vô cùng, rất khó giữ được sanh mạng. Nhưng nếu trong lúc nguy hiểm vô cùng ấy, người bị truy bức gặp hoàn cảnh cấp bách, trí huệ phát sanh, khẩn thiết chí thành xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát thì liền được oai lực Quán Âm gia trì, khiến cho da tóc nơi sanh mạng thể chẳng hề bị tổn thương mảy may gì, bởi thế nói là “bất năng tổn nhất mao” (chẳng bị tổn mảy lông). Kim Cang Sơn là tiếng Hán, tiếng Ấn gọi là Chước Ca La (Cakravāda). Theo kinh Khởi Thế, ngoài các đại sơn và núi Tu Di ra, còn có một hòn núi lớn tên là Chước Ca La (cũng có chỗ dịch là Thiết Vi sơn), cao sáu trăm tám mươi vạn do-tuần, kích thước các bề cũng là sáu trăm tám mươi vạn do-tuần, do kim cang dày khít kiên cố tạo thành, rất khó lòng phá hoại, đánh vỡ được, bởi vậy gọi là núi Kim Cang; nhưng nếu những thứ khác đụng phải kim cang, những thứ đó sẽ bị phá hoại dễ dàng. Chớ nghĩ núi Kim Cang kiên cố nhất hoàn toàn là ngọn núi ở bên ngoài, nó chính là Ngã Chấp trong tâm chúng ta đấy. Theo Phật pháp, khó phá hoại nhất không gì bằng tâm Ngã Chấp của chúng sanh. Phải đạt đến bực Sơ Địa Bồ Tát mới phá sạch hết nổi Phân Biệt Ngã Chấp, nhưng Câu Sanh Ngã Chấp tùy ý khởi lên, cực kỳ vi tế, dù đã chứng Sơ Địa vẫn chưa thể giải quyết được. Phải tu tập những địa vị cao hơn, tu tập Sanh Không Trí Quán mới hòng dần dần đoạn trừ được, bởi thế nó được ví như Kim Cang. Chính vì chúng sanh ngã chấp kiên cường nên thường bị vây quanh bởi những kẻ ác phiền não, thường bị họ đẩy vào hiểm lộ đường cùng, rốt cuộc từ núi chúa Ngã Chấp té vào ác đạo, chịu mọi thống khổ! Hoặc là trong thế gian có người nào đó đột nhiên gặp phải rất nhiều oán địch và rất nhiều đạo tặc vây kín lấy người đó, khiến người đó không cách nào chạy thoát được. Đã thế, mỗi tên còn cầm một thanh đao muốn sát hại người ấy. Bất luận thế nào, người ấy rất khó tìm con đường sống trong cái chết được. Thế nhưng trong lúc ấy, nếu người ấy xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, liền được từ lực của Quán Âm Bồ Tát gia hộ, khiến cho những kẻ ấy chẳng còn có ý niệm sát hại nữa, ngay lập tức sanh khởi tâm từ bi, phát sanh hảo cảm lớn lao, bởi thế nói là “hàm tức khởi từ tâm” (đều liền khởi từ tâm). Ở đây, tôi kể một câu chuyện thật: Năm Dân Quốc thứ nhất (1911), ở Lý Gia Trang, huyện Thiệu Bá, Dương Châu, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc, có một vị đại thiện nhân họ Lý, tên là Quốc Cư. Bất luận trong địa phương có chuyện gì, hễ sức ông ta lo liệu được, ông ta bèn tìm cách giúp đỡ đắc lực, tích cực giúp cho sự tình được giải quyết hợp lý. Bất hạnh thay, có lần đạo tặc ồ ạt tấn công nhà ông ta, toan cướp sạch tài sản. Lý đại thiện nhân thấy giặc kéo đến, rất thong dong, không bối rối, cực kỳ an nhiên bảo bọn giặc: - Các anh sống khốn khổ tôi chẳng hay biết đến nỗi chưa tạm cùng các anh kết thiện duyên, hôm nay được các anh đến tệ xá thật là rất khó có. Nếu các anh có cần gì, tôi sẽ tận lực dâng hiến; nhưng các anh hiện thời cực nhọc lắm rồi, tôi nghĩ chắc cũng chưa dùng cơm chiều. Giờ đây trước hết mời các anh xơi cơm, cho tôi được tỏ chút tâm ý. Bọn giặc nghe Lý thiện nhân nói như thế, dù ăn uống nhưng cái ý tưởng bất hảo chiếm đoạt tài vật của ông ta bị tinh thần vĩ đại của Lý thiện nhân cảm hóa, từ đấy chẳng còn mưu toan phá nhà cướp của nữa, cải tà quy chánh trở thành người tốt. Phải biết “oán tặc” được nói ở đây, giống như trong phần Trường Hàng ở trên đã nói, chẳng phải là giặc bên ngoài, mà chính là giặc trong tâm; như phiền não cướp đoạt pháp tài công đức cố nhiên là giặc trong tâm. Sáu căn thấy nghe hay biết cũng là giặc trong tâm. Giặc bên ngoài dễ phòng ngừa, những vật bị chúng cướp đoạt chẳng qua là tài vật ngoài thân; giặc trong tâm rất khó ngăn ngừa, những thứ chúng cướp đoạt là pháp bảo mình đã tích tụ, khiến cho chúng ta vĩnh viễn trở thành kẻ bần cùng, cô quạnh, kém hèn trong biển khổ sanh tử. Bởi thế làm người, đặc biệt là người học Phật, giặc ngoài chẳng cần phải sợ, nếu có được tinh thần như Lý thiện nhân chẳng những không bị oán tặc bức hại, mà còn chuyển hóa chúng trở thành người tốt. Thứ chúng ta đáng nên sợ chính là bọn giặc trong tâm mình. Bọn giặc bên trong này chẳng những khiến chúng ta lưu lãng dài lâu trong sanh tử, chúng còn bức ta đi vào ba ác đạo nguy hiểm nữa. Hoặc lại có một người nào đó, vi phạm pháp luật quốc gia, bị pháp luật xử phạt. Trong thời đại chuyên chế quá khứ, vua chính là đất nước, vua có quyền sanh sát tối thượng, muốn trị tội như thế nào thì cứ việc xử phạt như thế ấy, vì thế nói “hoặc tao vương nạn khổ” (hoặc gặp khổ vì mắc nạn vua).Khi quốc vương ra lệnh cho đao phủ chém đầu, trong lúc thọ hình, thọ mạng sắp bị kết thúc ấy, nếu ta thành tâm thành ý niệm thánh hiệu Bồ Tát Quán Âm thì sẽ được oai lực Quán Âm gia bị, khiến cho đao đang cầm trong tay gã đao phủ đó lập tức gãy rời thành từng đoạn, chẳng thể tổn hại thân thể quý vị một mảy may nào, bởi thế nói là “đao tầm đoạn đoạn hoại” (đao liền gãy từng khúc). Chữ “tầm” (尋) trong kệ tụng có nghĩa là “ngay lập tức”. Lúc bị xử chém sắp chết, rốt cuộc chẳng bị tử vong, đấy chẳng phải là từ lực của Quán Âm gia bị hay sao? Sách Pháp Uyển Châu Lâm, quyển mười bảy, có chép một câu chuyện tuy chẳng liên quan đến nạn vua, nhưng có thể dùng làm cước chú cho phần này: Có vị pháp sư Đạo Tập du hành đến Tây Sơn, Thọ Dương, bất ngờ gặp phải hai tên cướp trói vào một gốc cây. Lúc kẻ cướp sắp giết Sư, Sư tự biết có vùng vẫy cũng vô ích, bèn chỉ nhất tâm niệm Quán Thế Âm, niệm đến chết cũng chẳng ngưng. Kết quả, kẻ cướp vận dụng hết sức vẫn chẳng chém được Sư, rốt cuộc Sư chẳng bị tổn hại gì, bọn cướp thấy như thế hoảng sợ khôn cùng, bỏ chạy mất, pháp sư Đạo Tập cũng được giải thoát. Quyển mười bảy sách Pháp Uyển Châu Lâm còn chép truyện Pháp Thiền pháp sư. Lúc sư đi qua núi, đột nhiên gặp phải kẻ giặc hung ác, tự biết khó tránh khỏi cái chết, Sư lập tức kiền thành niệm Quán Âm. Giặc tuy kéo cung nhắm bắn Sư, nhưng từ đầu đến cuối không bắn ra mũi tên nào được. Bởi thế, tên giặc ném cung xuống đất, lập tức bỏ chạy không biết về hướng nào; nhờ đó, pháp sư Pháp Thiền an nhiên vô sự! 2.2.1.2.2.2. Già tỏa độc dược nạn (nạn gông xiềng, thuốc độc) Chánh kinh: Hoặc tù cấm già toả, Thủ túc bị nữu giới, Niệm bỉ Quán Âm lực, Thích nhiên đắc giải thoát, Chú trớ, chư độc dược, Sở dục hại thân giả, Niệm bỉ Quán Âm lực, Hoàn trước ư bổn nhân. 或囚禁枷鎖。 手足被杻械。 念彼觀音力。 釋然得解脫。 咒詛諸毒藥。 所欲害身者。 念彼觀音力。 還著於本人。 (Hoặc tù giam, gông, xiềng, Chân tay bị còng, cùm, Nhờ sức niệm Quán Âm, Tháo gỡ, được giải thoát, Chú ếm, những thuốc độc, Toan muốn hại thân kia, Nhờ sức niệm Quán Âm, Hại ngược kẻ làm đó). Ví như có một người nào đó, chẳng cần biết là vi phạm pháp luật quốc gia hay là bị giặc cướp bắt được; kết quả, bị giam cầm trong tù ngục, bị gông, bị xiềng, thậm chí tay bị còng, chân đóng cùm, bị mất tự do hoàn toàn, nên nói là “chân tay bị còng, cùm”. Cái buộc trên tay gọi là Nữu (杻: còng), cái buộc vào chân gọi là Giới (械: cùm). Trong lúc ấy, nếu có thể xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát thì lập tức nhờ vào oai lực Quán Âm gia bị, khiến cho những thứ đó bị tháo rớt, được giải thoát. “Thích nhiên” nghĩa là tan lìa ra. Sách Pháp Uyển Châu Lâm, quyển mười bảy có chép truyện sau: Vào đời Tấn ở Trung Quốc có một người ở Hà Nội, tên là Đậu Truyền. Đương thời thứ sử Tinh Châu là Cao Xương và thứ sử Ký Châu là Lã Hộ ai nấy cầm quân kình chống nhau, hai bên chẳng hòa thuận với nhau. Đậu Truyền làm quan dưới quyền Cao Xương, được phái đem kỵ binh tập kích Lã Hộ, chẳng may bị bắt, đồng bạn cùng bị bắt sáu bảy người, cùng bị giam trong nhà lao, gông xiềng canh phòng nghiêm nhặt, đợi ngày đem ra chém. Sa-môn Chi Đạo Sơn khi ấy ở trong doanh Lã Hộ, từng quen biết Đậu Truyền, nghe nói họ Đậu bị bắt, lại còn sắp bị chém, liền đến nhà giam thăm ông ta, nói chuyện với nhau qua cửa tù. Đậu Truyền hỏi Chi Đạo Sơn: - Bây giờ tôi gặp phải ách nạn này, thầy có cách gì cứu tôi hay không? Chi Đạo Sơn nói: - Tôi không có cách nào cứu ông được cả, chỉ có cách ông chí tâm xưng niệm thánh hiệu Quán Âm, nhất định sẽ được Bồ Tát cảm ứng. Trong quá khứ, Đậu Truyền đã từng nghe nói đến lòng từ bi của đức Quán Âm, bây giờ nghe Chi Đạo Sơn nói như thế, lập tức chuyên tâm nhất ý xưng niệm thánh hiệu Quán Âm. Suốt ba ngày ba đêm chí thành quy mạng xưng niệm, thấy gông xiềng trên thân tựa hồ có chút gì khác thường, lại cảm thấy hơi thong dong, dùng tay thử đẩy một cái, đột nhiên nó rớt khỏi thân. Đậu Truyền lại càng chí thành khẩn cầu: - Con được Bồ Tát xót thương, đã giải thoát được gông cùm, nhưng những người cùng bị cầm tù với con nhiều lắm, con chẳng nỡ bỏ đi một mình. Khẩn cầu Bồ Tát từ bi cứu khắp tất cả, khiến những người chung ngục đều thoát được nạn giam cầm này! Cầu khẩn xong, lại kéo gông xiềng của người khác, mọi người lần lượt được tháo gỡ gông xiềng, tựa hồ có người ở bên cạnh chặt đứt vậy. Khi đó, mọi người mở cửa, cùng nhau thoát ra, chẳng bị kẻ canh ngục phát hiện, nhân đó thoát ra ngoài thành, thoát khỏi nạn gông cùm! Gông cùm và còng xiềng trong phần Trường Hàng đã giảng là dây cương danh vọng, xiềng khóa lợi lộc vậy. Nhìn bề ngoài, cả thế gian chẳng có ai bị giam cầm trong tù ngục cả, tựa hồ ai cũng được tự do hoạt động, về căn bản chẳng bị điều gì trói buộc cả, nào biết sự thật chẳng hề giống như vậy! Thử nhìn xem: Người có danh dự vì bảo vệ danh dự của chính mình, suốt ngày sợ mất danh dự, đó chẳng phải là bị gông xiềng danh dự ràng buộc hay sao? Lại xem người có tiền tài vì cầu được tiền tài nhiều hơn nữa, suốt ngày tính toán sao cho tiền của chất chồng, đấy chẳng phải là bị gông xiềng tài lợi ràng buộc hay sao? Bởi thế, chúng sanh sống trong thế giới này về căn bản là bị cầm tù trong tam giới, xưa nay chẳng hề được tự do chi cả! Hiện tại, nếu có thể xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, thấu hiểu lòng đại từ đại bi của Quán Âm Bồ Tát, chẳng còn đeo đuổi trường danh lợi nữa, thì mới có thể tháo gỡ, giải thoát. Tiếp đó nói về nạn độc dược. “Chú trớ” là những hành vi bất chánh đáng nhất. Ở Ấn Độ có loại ngoại đạo niệm một loại ác chú để giết hại những kẻ họ muốn giết, như chú sai khiến quỷ nhập tràng, còn gọi là Tỳ Đà La (Vetāla) chú, khiến cho xác chết đứng dậy đi giết người. Lại có kẻ vẽ bùa, đốt thành tro để ếm người mình ghét, hoặc bện cỏ thành hình người, bắn giết để mong kẻ cừu thù của mình bị chết. Đấy đều gọi là “chú trớ”. Độc dược chỉ bất cứ những gì uống vào sẽ chết, những thứ này chẳng phải chỉ có một hai loại nên bảo là “các độc dược”. Bất luận dùng ác chú để nguyền rủa, ếm đối người, hay dùng thuốc độc hại người, mục đích đều nhằm tổn hại thân thể người khác, bởi thế nói là “sở dục hại thân giả” (toan muốn hại thân kia).Chính ngay trong lúc đó, nếu quý vị thành tâm xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, liền có thể ngửa nhờ oai lực Quán Âm Bồ Tát, kết quả, chẳng những họ chẳng thể làm tổn hại được quý vị, mà còn “hoàn trước ư bổn nhân” (hại ngược kẻ làm đó),khiến chính kẻ đó bị thương tổn. Trước hết, tôi kể một câu chuyện thực, rồi mới luận ý thú kinh văn. Trong quá khứ, có một gã chuyên cầu thần bói quẻ, tên là Lại Tỉnh Can, dụng tâm rất tà ác. Vì muốn quẻ mình bói được linh nghiệm, trong nhà gã đặc biệt thờ một loại yêu tinh, mỗi năm xuống Chiết Giang dụ dỗ đồng nam, đồng nữ mang về cúng tế yêu tinh đó. Sau này có một đồng nữ bị gã dẫn dụ về nhà, giam trong một căn nhà. Khi đó, gã tay chân của yêu thần ngọt nhạt phỉnh dụ cô bé, muốn cô tắm gội thay áo để chờ yêu tinh đến ăn thịt. Thế nhưng cô bé này do túc căn quá khứ, bình thời biết niệm Quán Âm Bồ Tát, bởi vậy trong lúc ấy, cô bé chỉ nhất tâm xưng danh. Đến quá nửa đêm, trong căn phòng cô bé đang ở, lỗ hổng [lấy ánh sáng] trên trần nhà chợt mở ra, con yêu tinh hai mắt sáng ngời như chớp, từ lỗ hổng chui vào phòng. Cô bé tuy sợ cực độ, vẫn cứ nhất tâm xưng danh niệm tới niệm lui. Từ miệng cô chợt tỏa ra ánh sáng bắn vào thân con yêu quái; con yêu quái bị trúng ánh sáng đó lập tức từ lỗ hổng rớt phịch xuống. Cô bé kêu cứu mạng ầm lên, khéo sao tuần cảnh đi ngang, nghe tiếng kêu cứu, lập tức xông vào nhà xem chuyện gì xảy ra. Yêu tinh nguyên là một con rắn độc lớn, nằm chết cứng đờ bên cạnh cô bé. Tuần cảnh dò xét biết Lại Tỉnh Can là người hết sức tồi bại, bèn bắt gã về bót, trị tội lừa người, hại người. Phải biết đó là như người ta thường nói: “Hại người, hại ngược lại mình” vậy, cũng như kinh này nói “hại ngược kẻ làm đó”. Bởi thế, người sống trong thế gian thà mình chịu thua thiệt, ngàn vạn phần chẳng được ôm lòng hại người; nếu không, hại người chưa chắc người ta bị hại, mà chính mình gặp phải tai ương trước, có khổ hay không? Trong kinh Thí Dụ cũng có một câu chuyện tương tự như vậy: Có một cư sĩ tại gia học Phật, thoạt đầu thọ trì Ngũ Giới, lúc sau tuổi cao già yếu, đối với giới phẩm phần nhiều quên mất. Lúc ấy, trong núi có vị Phạm Chí khát nước, từng xin nước sạch nơi cư sĩ, nhưng vị cư sĩ bận chuyện ruộng nương, chẳng thể lập tức cho ngay được. Vì thế, Phạm Chí phẫn hận bỏ đi. Nhưng Phạm Chí ấy chẳng phải là kẻ đơn giản, ông ta có thể sai khiến được quỷ nhập tràng, bèn triệu một con quỷ tới, bảo nó: “Ông Thanh Tín Sĩ nọ làm nhục ta, ngươi hãy thế ta giết ổng”. Trong núi có vị La Hán biết chuyện đó, lập tức ra ruộng bảo ông Cư Sĩ: - Tối nay ông hãy thắp đèn sớm, tinh tấn dũng mãnh chí thành quy y Tam Bảo, tụng trì kệ tụng nói về những điều miệng chớ phạm, lại còn nghĩ thương xót hết thảy chúng sanh, thì ông sẽ được an ổn. Cư sĩ vâng lời La Hán chỉ dạy, niệm Phật tụng giới suốt đêm, kết quả, quỷ chẳng hại được; nhưng pháp của quỷ thần là người ta muốn chúng giết hại, chúng lập tức giết hại; nhưng nếu người đáng lẽ bị chúng giết mà có công đức khiến chúng chẳng giết được thì đương nhiên chúng phải giết người sai chúng đi giết. Bởi thế, quỷ sanh sân nộ, muốn sát hại Phạm Chí. La Hán biết chuyện ấy, lại đem Phạm Chí đi giấu kín khiến quỷ tìm chẳng thấy. Nhân vì như thế, vị cư sĩ do đấy ngộ đạo, Phạm Chí do đấy được sống. Nếu chẳng có vị La Hán, há chẳng phải là có thêm một oan hồn ư? Sách Đồ Thư Tập Thành Thần Dị, quyển một trăm lẻ sáu, có dẫn lời cư sĩ Tô Đông Pha như sau: “Quán Âm là bậc từ bi, nay người bị chú ếm, nhờ sức niệm Quán Âm, [chú ếm] bèn hại người lại kẻ làm chuyện đó, há nào phải là tâm Quán Âm ư? Nay đổi lại như sau: ‘Chú ếm, các độc dược, toan làm hại thân kia, nhờ sức niệm Quán Âm, hai bên đều vô sự!” Có người phê bình như sau: “Tô Đông Pha nói: ‘Hại ngược lại là chẳng từ bi, phải nói là hai bên chẳng có chuyện gì’, ta nghĩ Đông Pha chẳng cao minh gì nên mới nói lời thô lậu như thế. Nói ‘hại ngược’ vừa có sự vừa có lý. Về Sự là tà chẳng thể thắng chánh, Từ chế ngự Ác. Nay do [người bị hại] chánh niệm Quán Âm, tự nhiên hại ngược [lại kẻ gây chuyện ác] giống như ngậm máu phun lên trời, ngược lại bị dơ thân mình, đút đầu vô lửa, tự cháy trán mình, tự nhiên mà có như vậy, đâu phải Bồ Tát gia hại kẻ đó, cũng chẳng phải do hành nhân khởi tâm nguyện hại ngược lại!” 2.2.1.2.2.3. La-sát, ác thú nạn (Nạn la-sát, ác thú) Chánh kinh: Hoặc ngộ ác La Sát, Độc long, chư quỷ đẳng, Niệm bỉ Quán Âm lực, Thời tất bất cảm hại, Nhược ác thú vi nhiễu, Lợi nha trảo khả bố, Niệm bỉ Quán Âm lực, Tật tẩu vô biên phương. 或遇惡羅剎。 毒龍諸鬼等。 念彼觀音力。 時悉不敢害。 若惡獸圍繞。 利牙爪可怖。 念彼觀音力。 疾走無邊方。 (Hoặc gặp ác La Sát, Rồng độc, các quỷ thảy, Nhờ sức niệm Quán Âm, Thảy đều chẳng dám hại. Nếu ác thú vây quanh, Nanh vuốt nhọn đáng sợ, Nhờ sức niệm Quán Âm, Rảo chạy không tăm tích). Hoặc nếu có người đột nhiên gặp phải La Sát hung ác, rồng độc và các quỷ gây tai nạn v.v… toan muốn gia hại người đó hòng kết thúc tánh mạng. Nếu ngay trong lúc đó mà có thể nhất tâm xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, nương nhờ oai lực Quán Âm Bồ Tát gia bị, ngay lập tức chúng đều chẳng dám làm hại, bởi thế nói là “thời tất bất cảm hại” (thảy đều chẳng dám hại). La Sát trong phần Trường Hàng đã giải thích rồi, nay không nhắc lại nữa. Tương truyền trong quá khứ có một người, hễ gặp người khác là thích hỏi hết chuyện này sang chuyện kia. Một ngày, đi trên đường, gặp một con La Sát, tự biết tánh mạng khó giữ, nhưng tánh người ấy hiếu kỳ, chẳng vì nguy hiểm mà không hỏi han, nên vẫn cứ hỏi: - Ủa nè ông bạn! Vì sao bụng trắng lưng đen vậy? Quỷ La Sát đáp: - Ta sợ nhất là ánh mặt trời, nên đi xoay lưng về phía ánh nắng, bởi thế bụng trắng lưng đen. Người kia nghe lời ấy, lập tức lấy lại can đảm, nắm La Sát đẩy nó tiến về phía mặt trời. La Sát sợ ánh sáng nên tự chạy trốn. Nhờ đó, người kia thoát nạn La Sát! Câu chuyện này ngụ ý: Bất luận La Sát, bất luận ác quỷ, chỉ có thể hành sự trong hắc ám, chứ đối với quang minh đều sợ hãi, chẳng dám hoạt động dưới ánh sáng. Bởi vậy, chỉ cần chúng ta nhất tâm xưng danh, nương vào từ quang của Quán Âm Bồ Tát, La Sát, ác quỷ đều chẳng dám hại. Đồng thời cũng có thể nói là: Trong tâm chúng ta có con quỷ tham, tham cầu chẳng ngơi, có quỷ vô minh tối tăm chập chùng, quỷ bên trong dẫn khởi quỷ bên ngoài, bởi thế quỷ thường đến làm lừng. Nếu làm người chánh đại quang minh, công chánh, chẳng cẩu thả, tà niệm chẳng khởi, La Sát, quỷ quái nào cũng chẳng thể làm hại được! Trong thâm sơn cùng cốc, hoặc chỗ đồng hoang cây rậm, thường có các ác thú sài lang, hổ, báo… hung mãnh, tàn bạo xuất hiện. Nếu có người nào đó đột nhiên gặp phải rất nhiều loài ác thú vây quanh, nhe nanh múa vuốt bén ngót rất đáng sợ, khiến kẻ ấy cảm thấy vô cùng hoảng sợ. Ngay trong lúc đó, nếu có thể kiền thành xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, liền có thể nhờ oai lực Quán Âm Bồ Tát gia bị, khiến cho những ác thú đang bao vây bốn mặt kia đều chạy trốn lẹ, nấp vào nơi nào không biết nữa. Ác thú, độc xà đều có thật; trong thời cổ, mỗi năm số người bị chúng làm hại đúng là rất nhiều, cho đến bây giờ, vẫn thường nghe nói có người bị ác thú cắn, hoặc bị rắn độc mổ. Như lúc cọp xuất hiện thường gây tai họa, nên Trung Quốc có câu: “Đàm hổ sắc biến” (Nghe nói tới hổ, mặt tái mét). Bởi thế, trong kinh Phật thường nhắc đến nỗi sợ rắn độc, ác thú để chúng ta biết mà đề phòng. Chuyện khẩn yếu nhất của nhân loại là được sanh tồn, nếu cuộc sống không bị uy hiếp sẽ chẳng nẩy sanh sợ hãi. Đức Phật biết rõ tâm lý chúng sanh nên thường nêu những trường hợp thật sự này để thuyết pháp cho chúng sanh. Sách Pháp Uyển Châu Lâm chép: Năm Nguyên Gia thứ nhất dưới triều Tống ở Trung Quốc, có vị sa-môn ở Hoàng Long, tên gọi là Đàm Vô Kiệt, là một hành giả tịnh tu khổ hạnh, thường tụng đọc kinh Quán Thế Âm. Có lần, Sư cùng đồ chúng hai mươi lăm người đi sang Thiên Trúc, đi đường trải đủ mọi gian nan, nguy hiểm. Đến được nước Xá Vệ ở Thiên Trúc, gặp phải một bầy voi núi, vốn là loài rất nguy hiểm. Ngài Đàm Vô Kiệt nâng kinh, niệm rằng: “Nhất tâm quy mạng đại từ đại bi Quán Thế Âm”. Ngay lúc đó, chợt có một con sư tử từ trong rừng xông ra. Voi thấy sư tử, kinh hoảng bỏ chạy, chẳng còn gây hại tới nhóm Đàm Vô Kiệt. Đi chưa được bao lâu, lại có một bầy trâu rừng rống lên xông tới, muốn hại bọn họ. Đàm Vô Kiệt vẫn như cũ quy mạng, nhất tâm xưng danh. Ngay trong lúc ấy, có một con kên kên to bay tới, khiến các con trâu rừng kia kinh hoảng, lập tức bỏ chạy, nhóm Đàm Vô Kiệt thoát nạn! Cho thấy xưng niệm thánh hiệu Quán Âm liền được Bồ Tát cảm ứng. Sách Nam Hải Từ Hàng chép: Vào thời Minh, ở đất Mân Nam có người tên Lôi Pháp Chấn, hầm than kiếm sống, trong nhà có cây Áp Lan, vân gỗ cực kỳ tinh tế, muốn khắc tượng Đại Sĩ để thờ, nhưng công việc quá bận, chưa khắc được. Một ngày vào núi hầm than, đột nhiên trong đám cây rậm rạp, một con hổ xông ra, nhe nanh múa vuốt đuổi bắt Lôi Pháp Chấn, khiến Lôi Pháp Chấn hết sức kinh hoàng. Trong lúc nguy cấp đó, chợt có một cô gái mỹ lệ, chỉ vào hổ quát tháo, hổ liền nép phục cô ta, cúi đầu, vẫy đuôi bỏ đi. Pháp Chấn được cô gái cứu giúp, thưa hỏi cô gái tên họ là gì hòng báo đáp. Cô gái đáp: “Tôi là cây gỗ Áp Lan trong nhà ông”. Nói xong không thấy đâu nữa. Pháp Chấn thấy chuyện như vậy, biết là Quán Âm đến cứu, bèn chọn ngày tốt khắc thánh tượng Quán Âm. Từ đó suốt đời trì trai, đảnh lễ. Đủ thấy sức cảm ứng của Quán Âm rất lớn. 2.2.1.2.2.4. Độc trùng, bạo vũ nạn (Nạn độc trùng, mưa dữ) Chánh kinh: Ngoan, xà, cập phúc yết, Khí độc yên hỏa nhiên, Niệm bỉ Quán Âm lực, Tầm thanh tự hồi khứ, Vân lôi cổ, xiết điển, Giáng bạc, chú đại vũ, Niệm bỉ Quán Âm lực, Ứng thời đắc tiêu tán. 蚖蛇及蝮蝎。 氣毒煙火然。 念彼觀音力。 尋聲自迴去。 雲雷鼓掣電。 降雹澍大雨。 念彼觀音力。 應時得消散。 (Rắn, rết, bò cạp độc, Nhả độc như khói mù, Nhờ sức niệm Quán Âm, Theo tiếng, lui chạy mất. Mây sấm rền, chớp lòe, Mưa đá, mưa lớn xối, Nhờ sức niệm Quán Âm, Ngay lập tức tan mất). Trong thế gian này, “nguyên xà cập phúc yết” (tạm dịch: “Rắn rết bò cạp độc”) các loài trùng độc, rắn độc rất nhiều. Chúng nó phun hơi độc mù mịt như lửa đốt khói bốc, bởi thế nói là “khí độc yên hỏa nhiên” (tạm dịch: “Nhả độc như khói mù”). Bất luận người nào tiếp xúc những độc khí đó đều bị táng thân mất mạng. Nếu có người gặp phải tình hình này, lập tức niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, liền được oai lực Quán Âm Bồ Tát gia bị, theo tiếng niệm ấy, bọn chúng tự nhiên chạy trốn hết, chẳng dám phun khí độc xâm hại nữa, Bồ Tát từ bi cảm ứng nhanh đến dường nào? Có thuyết nói Nguyên và Phúc chỉ là một loại; ta thường gọi Nguyên là Thổ Hủy Xà (rắn hổ đất?). Hủy (虺) là một loài rắn độc, dài khoảng chừng tám chín thước, đầu dẹp, mắt to, màu đất, lúc thấy người bèn ngóc đầu lên đuổi theo, loài này cực độc, chỉ cần bị nó cắn, tuyệt đối chẳng còn mạng nữa. Phúc (蝮:rắn cạp nong?) cũng là một loài rắn độc, hay sống ở chỗ ẩm ướt, dài khoảng hơn một thước, đầu rất lớn, hình tam giác, cổ lại rất nhỏ, nanh độc hình giống cái ống, toàn thân màu xám nhạt, có vằn màu nâu, đến đuôi đột nhiên nhỏ dần, độc tánh rất dữ dội, bị nó cắn một cái, cũng mất mạng luôn. Tương truyền thời Nam Tống, trong niên hiệu Thiệu Hưng, ở Dư Hàng có một người đàn bà họ Châu, đi trên đường thấy có ba con rắn lớn nằm khoanh giữa lộ khiến bà không cách nào đi qua được; chỉ còn cách lấy hết can đảm, nhảy qua rắn. Rắn cũng chẳng chịu kém, lập tức phát nộ đuổi theo bà, cuốn bà ta ngã lăn ra đất. Ngay trong lúc ấy, có người làng tên là Cung Lê Thần đi đến đó, thấy tình hình ấy, muốn cứu bà ta nhưng không nghĩ ra cách nào khác, bèn chắp tay lớn tiếng xưng niệm thánh hiệu Quán Âm và trì niệm chú Đại Bi. Thật là chẳng thể nghĩ bàn, rắn nghe tiếng niệm thánh hiệu Quán Âm, bèn buông bà ta ra, mỗi con tự bò đi mất. Chuyện này chứng tỏ rất đắc lực cho câu “tầm thanh, tự hồi khứ” (nghe tiếng, tự chạy mất). Lại còn có người nói Yết (bò cạp), tục gọi là Hiết, thuộc bộ Tri Thù, dài khoảng ba tấc, màu xanh pha đen, trên cổ có một đôi xúc tu giống như càng cua, đầu và ức đều rất ngắn, phần bụng có mười ba đốt tròn, phần đốt tròn cuối bụng hẹp nhỏ trông như cái đuôi, cuối đuôi có móc độc. Nếu gặp người bèn cong đuôi lên bắn ra dịch độc. Người trúng dịch độc này có thể bị mất mạng. Bò cạp thường bắt nhện, côn trùng nhỏ để ăn, cũng hay cắn người. Từ miệng nhả chất độc tổn hại người là tỷ dụ con người ác khẩu, chửi bới dữ dằn, dai dẳng, và những điều độc hại do việc khêu gợi ly gián gây nên. Như ác khẩu, chửi bới dai dẳng khiến người ta khó chịu, chẳng yên ổn nổi, thậm chí vì đó kết liễu tánh mạng. Đấy là chuyện thường thấy trong thế gian. Bởi thế, câu nói: “Nhất ngôn thính chi, linh nhân như tam bách mâu thích tâm” (Một lời nghe qua khiến người cảm thấy như ba trăm ngọn mâu đâm vào tim) chính là nói về ý này.Trong mỗi một xó xỉnh của xã hội hiện thời, có thể nói không sai lắm là không ngày nào chẳng có người chửi bới dữ dằn, độc địa. Chẳng cần biết do quan hệ nào, con người trở thành cừu địch với nhau, quốc gia này gây chiến tranh với quốc gia khác, thường là do một câu chẳng thể nhịn nổi mà thành chuyện. Còn đâm thọc ly gián thì làm cho đôi bên nghi ngờ, ghét bỏ nhau, thậm chí biến thành đấu đá kịch liệt, cũng khiến cho đôi bên đều bị tổn thương. Bởi vậy, làm người trong thế gian, chẳng thể không cẩn thận khẩu nghiệp, đặc biệt là ác khẩu và lưỡng thiệt càng phải đặc biệt tránh. Trời vốn đang trong trẻo, chợt mây đen phủ kín, sấm nổ ầm ì như tiếng trống rền, chớp lòe nhoang nhoáng bốn phía giống như được vạch, kéo; bởi thế nói “vân lôi cổ, xiết điển” (mây giăng, sấm nổ như trống rền, chớp giăng). Hoặc còn đổ xuống những hạt nước đá cứng chắc, hoặc là tuôn mưa lớn ào ạt, bởi thế nói là “giáng bạc chú đại vũ” (mưa đá, mưa lớn xối). Ngay trong lúc có những hiện tượng thiên nhiên đáng sợ đó, nếu có thể kiền thành niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, liền có thể nhờ vào oai lực Quán Âm Bồ Tát gia bị, ngay lập tức trời quang, mưa tạnh, sấm im, mưa đá hết, nên nói “ứng thời đắc tiêu tán” (ngay lập tức tan mất). Mây là thứ lờ lững trong không trung, như thường nói: “Bạch vân thương cẩu, biến hóa vạn thiên” (mây trắng, chó xanh, biến hóa ngàn muôn). Nhưng mây do gì tạo thành? Hơi nước hỗn hợp trong không khí, vốn là vô hình vô tướng, một khi ngưng kết thành những hạt nước hoặc đông thành những băng tinh[3], liền biến thành mây hữu hình. Nếu mây biến thành sắc đen, phủ kín không trung, là dấu hiệu trời sắp đổ mưa. Sấm động là mây phóng điện, phát ra những tiếng vang rền to lớn, khác nào tiếng trống đánh nên gọi là “lôi cổ”. Trong quá khứ, lúc dân trí chưa khai phát, người ta gọi sấm là Lôi Thần, nói trên lưng Lôi Công đeo một cái trống to, dùng tay vỗ ra tiếng. Đấy cũng là cách giải thích tiếng sấm rền như tiếng trống. Chữ “điển” trong “xiết điển” là nói một công năng cố hữu của vật chất, có thể dùng nó làm sức đẩy, lại còn có thể lợi dụng nó để phát sáng, phát nhiệt, [xiết điển] tức là tia chớp lóe sáng trên không. Sấm và chớp thường đi chung với nhau, tức là trước hết chớp lòe nhoang nhoáng, rồi mới có tiếng sấm ầm ì. Mọi người thường nghĩ chúng theo thứ tự trước sau, nhưng thật sự chúng xảy ra cùng một lúc. Chỉ vì sóng ánh sáng lan truyền nhanh hơn, sóng âm thanh truyền chậm hơn, nên trước hết thấy ánh chớp rồi mới nghe tiếng sấm. 2.2.1.3. Tổng kết Chánh kinh: Chúng sanh bị khổn ách, Vô lượng khổ bức thân, Quán Âm diệu trí lực, Năng cứu thế gian khổ. 眾生被困厄。 無量苦逼身。 觀音妙智力。 能救世間苦。 (Chúng sanh bị khổn ách, Vô lượng khổ bức thân, Quán Âm sức trí diệu, Thường cứu khổ thế gian). Trong thế gian hiện thực này, chúng sanh gặp phải cảnh khốn quẫn, hoặc gặp phải tai nạn nguy ách, nên nói là “bị khổn ách”. “Bị” (被) có nghĩa là hứng chịu. Đã thế, còn có vô lượng nỗi khổ bức bách thân tâm, khiến cho cả thân lẫn tâm đều chẳng cảm thấy tự tại. Nhưng đấng tầm thanh cứu khổ đại bi Quán Âm có đủ trí huệ lực vi diệu chẳng thể nghĩ bàn, xem thấy chúng sanh bị khổn ách, bị các nỗi khổ bức bách, do tâm Bi thôi thúc, Ngài liền đến cứu khổ nạn cho chúng sanh. Như Tâm Kinh ghi: “Quán Tự Tại Bồ Tát lúc thực hành sâu xa Bát Nhã Ba La Mật Đa, soi thấy năm Uẩn đều không, độ hết thảy khổ ách”. Bởi thế nói là “thường cứu khổ thế gian”. Quán Âm Bồ Tát sở dĩ có tên Quán Âm cũng là do duyên này mà có. Giảng đến đây thì phần hiển thị nguyên do có danh hiệu đã hoàn tất. 2.2.2. Hiển du hóa phương tiện (hiển thị phương tiện du hóa) 2.2.2.1. Quảng hiển ứng hóa chư quốc (nói rộng về việc ứng hóa trong các cõi nước) 2.2.2.1.1. Thân nghiệp phổ ứng (thân nghiệp ứng hiện khắp tất cả) Chánh kinh: Cụ túc thần thông lực, Quảng tu trí phương tiện, Thập phương chư quốc độ, Vô sát bất hiện thân, Chủng chủng chư ác thú: Địa ngục, quỷ, súc sanh, Sanh, lão, bệnh, tử khổ, Dĩ tiệm tất linh diệt. 具足神通力。 廣修智方便。 十方諸國土。 無剎不現身。 種種諸惡趣。 地獄鬼畜生。 生老病死苦。 以漸悉令滅。 (Đầy đủ sức thần thông, Rộng tu trí phương tiện, Các cõi nước mười phương, Không đâu chẳng hiện thân, Bao nhiêu các đường ác, Địa ngục, quỷ, súc sanh, Sanh, già, bệnh, chết khổ Khiến dần bị tiêu diệt). Quán Âm là vị đại Bồ Tát địa vị cao tu hành đã lâu, từ trong thể Viên Thông ngài đã chứng, phát xuất diệu dụng tối cực thù thắng, bởi thế nói là “cụ túc thần thông lực” (đầy đủ sức thần thông). “Thần” nghĩa là diệu dụng chẳng thể suy lường, “thông” nghĩa là vô ngại tự tại. Phàm là đại Bồ Tát đều có thần thông. Bất quá nói đến thần thông, thường chia ra hai loại: Thần thông hữu lậu và thần thông vô lậu. Thần thông hữu lậu chẳng riêng thần tiên có mà quỷ thần cũng có; nhưng thần thông quỷ thần có được là Báo Đắc Thông (thần thông do quả báo mà tự nhiên có được), công dụng chẳng lớn, chỉ có thể thấy chút phần trong hai đường nhân đạo và quỷ đạo. Thiên tiên có năm thần thông: Thiên Nhãn, Thiên Nhĩ, Tha Tâm, Túc Mạng, Thần Túc; so ra tuy công dụng lớn hơn quỷ thần rất nhiều, nhưng vẫn rất hẹp nhỏ, lại còn phiền não hoàn toàn chưa đoạn. Phật pháp coi trọng nhất là Lậu Tận Thông, bọn họ vẫn chưa đạt được. Bởi lẽ, có lúc họ khởi sát cơ, lợi dụng thần thông gây tạo tội ác lớn. Nhị Thừa thánh giả xuất thế, chẳng những có đủ năm thứ thần thông thông thường, mà còn đắc Lậu Tận Thông của Phật pháp. Tuy thần thông của họ phát sanh tác dụng cao trỗi hơn thần thông hữu lậu của thiên tiên trăm ngàn vạn lần, nhưng do chưa đạt được rốt ráo, nên Thiên Nhãn Thông của Nhị Thừa chỉ có thể thấy tam thiên đại thiên thế giới này; Thiên Nhĩ Thông chỉ nghe được trong tam thiên đại thiên thế giới này; Thần Túc Thông chỉ có đi tự tại trong tam thiên đại thiên thế giới này; Túc Mạng Thông chỉ có thể biết rõ sự việc trong vòng tám vạn kiếp; Tha Tâm Thông chỉ biết được tâm của chúng sanh lục phàm. Đăng Địa Bồ Tát (những vị Bồ Tát chứng từ Sơ Địa trở lên) phá được một phẩm vô minh, cho nên Thiên Nhãn Thông và Thiên Nhĩ Thông của họ chẳng những thấy nghe được tam thiên đại thiên thế giới, mà còn thấy nghe được một trăm tam thiên đại thiên thế giới. Công dụng phát sanh bởi thần thông của họ so với Nhị Thừa rộng lớn gấp trăm lần, nhưng vẫn chưa thể kể là “đầy đủ thần thông”. Thiên Nhãn Thông của Phật có thể thấy vô lượng vô số vô cùng vô tận tam thiên đại thiên thế giới, Thiên Nhĩ Thông của Phật nghe được vô lượng vô số vô cùng vô tận tam thiên đại thiên thế giới, Túc Mạng Thông biết rõ chuyện trong nhiều kiếp lâu xa trước giống hệt như chuyện xảy ra trong ngày hôm nay. Thấu triệt tột cùng, rốt ráo đầy đủ. Trong phần trên đã nói, Quán Thế Âm Bồ Tát đã sớm thành Phật, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai, đã chứng viên thông diệu thể, chẳng giống với Bồ Tát mới thành, bởi thế Ngài đầy đủ sức thần thông lớn lao chẳng thể nghĩ bàn. Chánh Pháp Minh Như Lai thị hiện Quán Thế Âm Bồ Tát, chẳng những có đủ thần thông diệu dụng, mà còn rộng tu đại trí huệ, đại phương tiện. “Đại trí huệ” chỉ Thắng Nghĩa Trí, khế chứng chân lý “các pháp tánh Không” là đặc tánh duy nhất của trí ấy. “Đại phương tiện” chỉ Thế Tục Trí, thuyết pháp thích ứng căn cơ chúng sanh là công dụng duy nhất của trí này. Vận dụng cả hai trí, không gì chẳng đầy đủ, nên gọi là “rộng tu”. Chẳng có Thắng Nghĩa Trí, nhất định chẳng thể chứng chân lý; chẳng có Thế Tục Trí, nhất định chẳng thể độ quần mê. Đứng trên lập trường Bồ Tát, hai trí này chẳng thể phế bỏ một trí nào; nhưng cần phải có Thắng Nghĩa Trí mới có thể phát sanh Thế Tục Trí quyền xảo được. Đại Bi Quán Âm đã có đủ thần thông lực và trí phương tiện, đương nhiên sẽ có thể ở trong mười phương thế giới, trong hết thảy các cõi nước, không cõi nào Ngài chẳng thị hiện các thứ thân ứng hóa để độ các loài chúng sanh bất đồng. “Sát” trong tiếng Ấn Độ là Sát-Ma, Hán dịch là Độ Điền, có lúc kinh còn gọi là Quốc, hoặc gọi là Độ, nhưng đều cùng một ý nghĩa. Nếu nói Phật sát thì có nghĩa là một thế giới được hóa độ bởi một đức Phật. “Hiện thân” nghĩa là Phật, Bồ Tát hóa hiện các thân phận bất đồng; như phần Trường Hàng kinh này nói Quán Âm Bồ Tát hiện ba mươi ba ứng thân, đó là ý nghĩa chữ “hiện thân”. Ứng là tùy cảm mà ứng, tức là do chúng sanh cơ cảm, bèn tự nhiên ứng theo đó. Cần phải biết rằng: Quán Thế Âm Bồ Tát lấy việc độ sanh làm bổn nguyện, chẳng phải như mọi người thường nghĩ Bồ Tát chỉ được thờ trong các chùa miếu, mà Ngài luôn hiện hữu trong mười phương cõi nước đến khắp mọi nơi hiện thân thuyết pháp. Quán Âm Bồ Tát không cõi nào chẳng hiện thân, rốt cuộc Ngài thị hiện tại những nơi nào? Chính là “chủng chủng chư ác thú” (trong hết thảy đường ác), Ngài đều có thể hiện thân. Chữ “chư ác thú” thông thường chỉ ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; cũng có khi ngoài ba đường ác thêm vào đường A Tu La, gọi là bốn “ác thú”. Sở dĩ gọi là “ác thú” là vì mỗi chúng sanh do ác nghiệp của chính mình sẽ hướng đến (thú hướng) chỗ ác, nên gọi là “ác thú”. Cũng có khi gộp cả nhân thiên vào ba đường ác gọi là Ngũ Ác Thú, nên gọi là “chư ác thú”. Nhân thiên bị gọi là ác thú là dựa trên chuyện sanh tử luân hồi mà nói. Nói theo quan điểm xuất thế của nhà Phật, phàm bất cứ những gì không thể siêu xuất tam giới đều gọi là “ở trong ác thú”. Lấy địa ngục để nói: Chúng sanh đọa trong địa ngục, bất luận là thuộc tám ngục lạnh hoặc tám ngục nóng, hoặc trong các địa ngục khác, đều có các thứ đau khổ công kích. Quán Âm Bồ Tát thấy chúng sanh chịu khổ trong địa ngục, chẳng nỡ thấy họ bị hãm trong mọi thống khổ bao vây trong cả một thời gian dài, bởi thế khởi lên bi nguyện “ta chẳng vào địa ngục, ai vào địa ngục”, thị hiện thân tướng chúng sanh địa ngục, vào trong địa ngục giáo hóa bọn họ, khiến bọn họ xuất ly khổ não địa ngục, thân tâm được giải thoát! Về ngạ quỷ, tuy nói là có vô tài, thiểu tài, đa tài – như các thần hưởng đồ huyết thực – sai biệt, nhưng do đói khát mà thành tên, nên thường gọi là ngạ quỷ. Đọa trong đường ngạ quỷ, thường kéo dài cả trăm ngàn vạn năm, chẳng nghe được tên chất tương (juice) hay nước, huống hồ những thứ thức ăn khác? Bởi thế, sa chân vào đường ngạ quỷ rất khổ vậy. Quán Âm Bồ Tát thấy chúng sanh ngạ quỷ thọ khổ, đặc biệt thị hiện thân quỷ vương Diện Nhiên đại sĩ, tạo cơ hội cho đức Phật giảng kinh Diệm Khẩu để phổ cứu hết thảy ngạ quỷ. Đó là hiện thân ngạ quỷ thuyết pháp cho ngạ quỷ được giải thoát. Về súc sanh, trong hiện thực thế gian có thể thấy rõ loài này. Có những loài chim bay trên không trung, có loài thú chạy trên mặt đất, có loài lông vẩy bơi lội dưới nước. Chúng sanh đọa vào súc sanh hoặc là để trả nợ, hoặc là để đền mạng, thường chịu những đau khổ khó lòng chịu đựng nổi. Quán Thế Âm Bồ Tát thấy chúng sanh thọ khổ trong đường súc sanh, liền thị hiện các thân tướng chúng sanh sai khác để hóa độ bọn họ, khiến bọn họ lìa bỏ quả báo súc sanh, thân tâm được giải thoát. Về nhân loại, bốn nỗi khổ lớn Sanh, Lão, Bệnh, Tử, bất luận có tiền hay không tiền, bất luận có địa vị hay không địa vị, ai cũng chẳng tránh khỏi. Chẳng riêng gì nhân loại, ngay cả các hữu tình trên trời cũng chẳng thể tránh khỏi giống như thế. Như cổ đức nói: “Nhân gian nan miễn tứ tướng khổ, thiên thượng hà tằng miễn ngũ suy” (Nhân gian khó thoát bốn tướng khổ, cõi trời ai khỏi năm tướng suy?) Quán Thế Âm Bồ Tát thấy nhân loại và chúng sanh trên cõi trời thọ khổ, cũng thị hiện thân người hoặc thân trời giống hệt họ, đến thuyết pháp cho chúng ta khiến cho chúng ta lìa khổ được vui! Nói chung, chúng sanh trong tam giới, bất luận thuộc đường nào, cứ hễ ai có nỗi khổ, chỉ cần nhất tâm xưng danh, Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi đều hiện trước mặt, nói ra chánh pháp người ấy có thể tiếp nhận được, khiến cho người ấy thực hành theo chánh pháp đó, bèn có thể dần dần tiêu diệt thống khổ, bởi thế nói là “dĩ tiệm tất linh diệt” (khiến dần dần bị tiêu diệt).Điều này trong phần Trường Hàng tôi đã giải thích chi tiết. Hai bài kệ nói trên là phần Tổng Tụng về sự hiện thân, nên khoa này được gọi là Thân Nghiệp Phổ Ứng. 2.2.2.1.2 Ý nghiệp phổ quán(ý nghiệp quán sát khắp) Chánh kinh: Chân quán, thanh tịnh quán, Quảng đại trí huệ quán, Bi quán cập Từ quán, Thường nguyện, thường chiêm ngưỡng, Vô cấu thanh tịnh quang, Huệ nhật phá chư ám, Năng phục tai phong hỏa, Phổ minh chiếu thế gian. 真觀清淨觀。 廣大智慧觀。 悲觀及慈觀。 常願常瞻仰。 無垢清淨光。 慧日破諸暗。 能伏災風水。 普明照世間。 (Chân quán, thanh tịnh quán, Trí huệ quán rộng lớn, Bi quán và từ quán, Thường nguyện, thường chiêm ngưỡng, Sáng thanh tịnh, không nhơ, Huệ nhật phá các tối, Dẹp phục tai, gió, lửa, Chiếu sáng khắp thế gian). Đây là phần nói về ý nghiệp quán sát khắp tất cả của đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Có năm loại quán: Chân Quán, Thanh Tịnh Quán, Quảng Đại Trí Huệ Quán, Bi Quán và Từ Quán. Dùng năm thứ Quán này hiển thị căn bản hóa độ hết thảy chúng sanh. Theo cổ đức, ba thứ Quán trước thuộc về Tự Lợi, hai Quán sau thuộc về Lợi Tha. Bởi thế, năm thứ Quán gồm hai bộ phận lớn là Tự Lợi và Lợi Tha. Nếu luận trên phương tiện ứng hóa thù thắng của năm thứ Quán này, phải nói chúng đều thuộc về Lợi Tha; nhưng nếu xem tiếp ý đoạn văn trên: “Khiến dần dần tiêu diệt thống khổ của chúng sanh” thì rốt cuộc là dần dần tiêu diệt bằng cách nào đây? Vì thế, ở đây bèn nói là dùng năm pháp Quán để dần dần diệt khổ cho chúng sanh; đã thế phần kinh văn này lại thuộc về phần Hiển Thị Phương Tiện Du Hóa, lẽ đương nhiên là vận dụng Ngũ Quán để làm phương tiện độ thoát chúng sanh. Có người giải thích như thế này: Do Bồ Tát Quán Âm sanh khởi quán huệ Chân Tâm, soi thấy vọng nghiệp của chúng sanh vốn là Không, về căn bản, tự thể của nghiệp tánh là bất khả đắc. Khởi quán huệ Thanh Tịnh Quán, soi thấy tự tánh của chúng sanh vốn lìa nhiễm, chưa từng bị tạp nhiễm làm nhiễm ô. Khởi quán huệ Đại Trí Quán chiếu phá vô minh si ám của chúng sanh, hiển phát quang minh mà chúng sanh vốn sẵn có. Khởi quán huệ Đại Bi Quán, dẹp trừ vô lượng khổ đau cho chúng sanh, chẳng còn bị các thống khổ bức bách. Khởi huệ quán Đại Từ Quán, ban cho chúng sanh hết thảy an lạc, khiến chúng sanh vĩnh viễn được sống tự do tự tại. Theo cách giải thích này, có thể nói ba phép Quán đầu nhằm phá hủy Hoặc nghiệp của chúng sanh, hai phép Quán sau nhằm dẹp khổ ban vui. Như vậy năm phép Quán đều là Lợi Tha. Do đó, cổ nhân đem ba phép quán Chân, Tịnh, Trí phối hợp với thuyết tam quán Không, Giả, Trung của ngài Thiên Thai; chúng tôi cho rằng không nhất thiết là như vậy. Quán Âm Bồ Tát dùng Ngũ Quán hóa độ chúng sanh, chúng ta phải “thường nguyện” Bồ Tát từ bi cứu tế, khiến chúng ta thật sự lìa khổ được vui. Đồng thời cũng nên “thường chiêm ngưỡng” diệu tướng trang nghiêm của Bồ Tát, đảnh lễ kính ngưỡng, cầu Ngài nhiếp chiếu. Nói “chiêm ngưỡng” có nghĩa là dùng tâm cung kính ngửa trông vậy. Phẩm Phương Tiện kinh Pháp Hoa có câu: “Chiêm ngưỡng Lưỡng Túc Tôn”, kinh Duy Ma nói: “Chiêm ngưỡng tôn nhan, mục bất tạm xả” (chiêm ngưỡng tôn nhan, mắt chẳng tạm rời) đều nhằm diễn tả ý này. Bốn câu trên là bài tụng để tổng kết phần nói về Trí Quán, hiển thị Bồ Tát ứng vật quán chiếu nên mới có năm phép Quán sai biệt. Mỗi một phép quán trong năm phép ứng vật quán chiếu của Bồ Tát đều thanh tịnh vô cấu. Từ trong thanh tịnh vô cấu quán, phát sanh quang minh đại trí huệ, nên nói: “Vô cấu thanh tịnh quang”. Ánh sáng đại trí huệ ấy rạng rỡ chiếu ngời, có thể chiếu tan hết thảy tối tăm phiền não, khác nào vầng mặt trời treo cao trên không trung thanh tịnh, chiếu tan hết thảy tối tăm trong đại địa, bởi thế nói: “Huệ nhật phá chư ám” (huệ nhật phá các tối). Vô Lượng Thọ Kinh chép: “Huệ nhật chiếu thế gian, thanh trừ sanh tử vân” (Huệ nhật chiếu thế gian, trừ sạch mây sanh tử), phẩm Phương Tiện kinh Pháp Hoa ghi: “Huệ nhật đại thánh tôn” đều nhằm diễn tả ý này. Chúng sanh vô tri vô minh, nên gọi là “chư ám”. Thanh tịnh trí quang có thể chiếu sáng tăm tối mù lòa của thế gian nên dùng “huệ nhật” (mặt trời trí huệ) để ví dụ. Phẩm Dược Vương Bổn Sự kinh Pháp Hoa có câu: “Hựu như Nhật thiên tử năng trừ chư ám, thử kinh diệc phục như thị, năng phá nhất thiết bất thiện chi ám” (Lại như Nhật thiên tử trừ được các tối, kinh này cũng giống như thế, phá được hết thảy tối tăm bất thiện). Ánh sáng của huệ nhật chẳng những phá được các tối mà còn “năng phục tai phong hỏa” (dẹp được tai nạn, gió, lửa). Chữ “tai” bao gồm hết thảy khổn ách, nhưng nạn gió, nạn lửa là những tai nạn lớn nhất trong các tai nạn. Tai nạn gió, lửa còn khuất phục được thì tự nhiên các tai nạn khác không thành vấn đề. Nói một cách nghiêm túc, chúng sanh sở dĩ có các tai nạn: gió, lửa v.v… chẳng phải do từ bên ngoài xảy đến cho chúng sanh mà là do phiền não của chúng sanh chiêu cảm. Hắc ám phiền não đã bị chiếu tan, đương nhiên dẹp được các tai nạn. Quang minh của vầng mặt trời trí huệ trừ dẹp tai nạn, chiếu tan hắc ám, khác nào thái dương chiếu rực thế gian, khắp nơi được soi thảy đều sáng sủa, nên nói là: “Phổ minh chiếu thế gian” (Chiếu sáng khắp thế gian). 2.2.2.1.3. Khẩu nghiệp phổ ích (Khẩu nghiệp lợi ích khắp tất cả) Chánh kinh: Bi thể giới lôi chấn, Từ ý diệu đại vân, Chú cam lộ pháp vũ, Diệt trừ phiền não diệm. 悲體戒雷震。 慈意妙大雲。 澍甘露法雨。 滅除煩惱焰。 (Bi thể giới sấm rền, Mây từ ý lớn diệu, Tuôn mưa pháp cam lộ, Diệt trừ lửa phiền não). Đoạn này nói về sự lợi ích khắp cả do khẩu nghiệp của Quán Âm, cũng tức là tán thán sự nghiệp thuyết pháp độ sanh của Quán Thế Âm Bồ Tát. Tuy nói là “khẩu nghiệp lợi ích khắp cả”, nhưng thực tế bao gồm hoạt động của cả ba nghiệp, cũng có nghĩa là hiển thị tam luân bất tư nghị hóa của đức Quán Âm. “Bi thể”: Bi nghĩa là dẹp khổ. Tâm Bi của chư Phật, Bồ Tát rộng lớn khôn sánh, bởi thế gọi là Đại Bi. Phật, Bồ Tát lấy Đại Bi làm thể, nên gọi là “bi thể”. Như nói: “Phật tâm là đại từ bi”, “Bồ Tát chỉ từ đại bi sanh, chẳng từ các điều thiện nào khác mà sanh” đều có thể coi là những thuyết minh về bi thể; nhưng bi thể ấy còn có thể nói đại từ bi pháp thân, do trì giới mà có. Do đó, Giới và Từ Bi có mối liên quan mật thiết. Chẳng hạn như bất sát, chẳng làm cho hết thảy hữu tình chịu nỗi khổ sát sanh, đó cũng là ban cho hết thảy hữu tình cảm giác an toàn. Cao hơn một bậc là phải yêu thương bảo vệ sanh mạng hữu tình. Há chẳng phải Giới là thực hiện từ bi đó ư? Quán Thế Âm Bồ Tát dùng giới thể đại từ đại bi, thân luân hiện thần thông, thị hiện ba mươi ba ứng thân, sức thần thông diệu dụng chấn động khác nào sấm rền khắp đại thiên, cảnh tỉnh thế gian đang mê man trong giấc mộng bởi thế nói là “bi thể giới lôi chấn”. Tổ Đức Thanh nói: “Pháp Thân vô thể, lấy Bi làm thể; Giới là những răn dạy lưu xuất từ Pháp Thân. Vì thế để thuyết pháp thì trước hết dùng sấm rền kinh động nhân quần, dùng từ ý nổi mây từ rộng lớn”. “Từ ý diệu đại vân” chỉ ý nghiệp của Bồ Tát. Bồ Tát không chỉ dùng Bi để dẹp trừ đau khổ cho chúng sanh, mà còn đồng thời vận dụng Từ để ban sự sướng vui cho chúng sanh, bởi thế nói là Từ Ý. Trong Phật pháp, phàm muốn khen ngợi điều gì là chẳng thể nghĩ bàn thì gọi là Diệu. Có người nói: “Diệu có nghĩa là không gì sánh bằng, không gì hơn được nữa”. Lòng Đại Từ của Phật, Bồ Tát duyên khắp hết thảy pháp giới chúng sanh, như đám mây che kín khắp hết thảy, bởi thế nói là “diệu đại vân”. Câu “chú cam lộ pháp vũ” (xối mưa pháp cam lộ) hiển thị khẩu nghiệp thuyết pháp của Bồ Tát. Sách Pháp Hoa Văn Cú viết: “Cam lộ là thuốc bất tử của chư thiên; ăn vào trường thọ, thân yên ổn, sức lực lớn lao, thân thể tươi sáng”. Sách Duy Ma Cật Chú, quyển bảy viết: “Ngài La Thập nói: ‘Chư thiên đem các thứ thuốc quý bỏ vào biển, dùng núi báu để mài, tạo thành cam lộ. Ăn vào thành tiên, gọi là Bất Tử Dược’. Ngài Đạo Sanh nói: ‘Thức ăn cõi trời là vị cam lộ. Ăn vào trường thọ, nên gọi là thuốc Bất Tử”. Đức Phật thường dùng Cam Lộ để ví diệu pháp bất sanh bất tử. Diệu pháp tư nhuận (tưới tắm, thấm nhuần) chúng sanh, nên được ví như mưa. Kinh Vô Lượng Thọ, quyển thượng ghi: “Chú pháp vũ, diễn pháp thí” (xối mưa pháp, diễn pháp thí). Phẩm Tự kinh Pháp Hoa có câu: “Vũ đại pháp vũ, xuy đại pháp loa” (Mưa trận mưa pháp lớn, thổi ốc pháp lớn). Kinh Niết Bàn quyển hai chép: “Vô thượng pháp vũ, vũ nhữ thân điền, linh sanh pháp nha” (Trận mưa pháp vô thượng rưới xuống ruộng thân của ông, khiến cho nó trổ mầm pháp). Lại nói: “Duy hy Như Lai cam lộ pháp vũ” (Chỉ mong cầu pháp vũ cam lộ của đức Như Lai). Đây là dùng cam lộ pháp vũ để ví cho giáo pháp của Như Lai. Quán Thế Âm Bồ Tát vì chúng sanh tuyên thuyết diệu pháp, khiến các chúng sanh đều được lợi ích nơi pháp, bởi thế nói là “xối mưa pháp cam lộ”. Có thể làm cho chúng sanh được những lợi ích gì? Chúng sanh có đủ phiền não, nhưng phiền não hừng hực như ngọn lửa to lớn, dùng bất cứ thứ gì khác cũng vô phương diệt được lửa phiền não của chúng sanh, chỉ có cam lộ pháp vũ của Bồ Tát mới có thể làm cho chúng sanh diệt trừ được ngọn lửa phiền não, đạt tới địa vị thanh tịnh bất sanh bất diệt, bởi thế nói là “diệt trừ phiền não diệm” (diệt trừ ngọn lửa phiền não). 2.2.2.2. Chánh hiển du ư Sa Bà (hiển thị sự nghiệp du hóa Sa Bà) Chánh kinh: Tránh tụng kinh quan xứ, Bố úy quân trận trung, Niệm bỉ Quán Âm lực, Chúng oán tất thoái tán, Diệu Âm, Quán Thế Âm, Phạm Âm, Hải Triều Âm, Thắng bỉ thế gian âm, Thị cố tu thường niệm, Niệm niệm vật sanh nghi, Quán Thế Âm tịnh thánh, Ư khổ não tử ách, Năng vị tác y hỗ, Cụ nhất thiết công đức, Từ nhãn thị chúng sanh, Phước tụ hải vô lượng, Thị cố ưng đảnh lễ! 諍訟經官處。 怖畏軍陣中。 念彼觀音力。 眾怨悉退散。 妙音觀世音。 梵音海潮音。 勝彼世間音。 是故須常念。 念念勿生疑。 觀世音淨聖。 於苦惱死厄。 能為作依怙。 具一切功德。 慈眼視眾生。 福聚海無量。 是故應頂禮。 (Kiện cãi, qua chỗ quan, Trong quân trận kinh hãi, Nhờ sức niệm Quán Âm, Các oán thảy lui tan, Diệu Âm, Quán Thế Âm, Phạm Âm, Hải Triều Âm, Hơn tiếng thế gian kia, Vì thế phải thường niệm. Niệm niệm chớ sanh nghi, Quán Thế Âm tịnh thánh, Trong khổ não, nạn chết, Thường làm chỗ nương dựa, Đủ hết thảy công đức, Mắt từ nhìn chúng sanh, Chứa phước biển vô lượng, Vì thế phải đảnh lễ!) Đây là đoạn kệ tụng cuối cùng thuộc phần hiển thị sự du hóa trong thế giới Sa Bà kết thúc phần thuyết minh phương tiện du hóa của Quán Thế Âm Bồ Tát. Chúng sanh trong thế giới Sa Bà đặc biệt là nhân loại, từ cổ đến nay đấu tranh kiên cố, rất khó đối xử hòa thuận vui vẻ với nhau, thường vì những chuyện nhỏ nhặt bèn phát sanh những tranh chấp không cần thiết, đến nỗi tranh tụng nơi cửa quan. Chẳng riêng gì người ngoài như thế, ngay đến chồng vợ, cha con, anh em v.v… cũng đem nhau ra tòa rất nhiều. Nếu như có người vì tranh chấp bèn đi thưa kiện, lúc phải ra pháp đình hoặc phải đối chất trước mặt nhân viên tư pháp, khó tránh khỏi sợ bị thua kiện; nói thật ra, kiện tụng là chuyện chẳng đáng nên làm nhất, bởi lẽ dù hữu lý hay vô lý, kết quả nói chung đều bất lợi cho chính mình. Giả sử có người vì tranh tụng phải đến cửa quan (“qua chỗ quan”), cảm thấy rất sợ hãi, nếu có thể niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, liền được oai lực Quán Âm gia bị, khiến cho người ấy ngay khi đó giải quyết mối tranh chấp một cách hòa bình, đôi bên nói năng tử tế với nhau, không còn phải gặp nhau ở pháp đình nữa. Như vậy túc oán giữa hai bên nhanh chóng tiêu trừ, trở thành bạn bè rất thân thiết. Chẳng riêng gì con người tranh chấp nhau, ngay cả nước này với nước kia cũng tranh giành không ngừng; bởi vậy thế giới này của chúng ta từ trước đến nay chưa có được ngày nào hòa bình. Có người nói: “Lịch sử nhân loại là lịch sử chiến tranh”, thật chẳng sai tí nào! Chiến tranh là quân đội đôi bên đối địch bày trận tuyến, giữ nghiêm mặt trận đợi thời cơ, đến lúc hai bên giao phong, tự nhiên chẳng bên nào tránh khỏi thương vong. Cứ nghĩ mỗi một sanh mạng đang sống vui khỏe, từng người một ngã lăn ra, tự nhiên người ta cảm thấy sợ hãi. Vì thế nói là “bố úy quân trận trung” (trong quân trận kinh hãi). Ngay trong lúc binh tai chiến họa nguy hiểm kinh sợ khẩn cấp, nếu có thể niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, ngửa nhờ oai lực Bồ Tát gia bị, các oán địch thảy đều tan lui, can qua hóa thành ngọc bạch, sống đời hòa bình. Chữ “chúng oán” trong bài kệ tụng không những chỉ các quân trận đối địch mà còn gồm cả oán cừu thưa kiện. Do niệm đức Quán Âm, được thánh đức cảm hóa, hối lỗi cái tâm trước kia, bởi thế đều tan lui cả. Trong phần Ý Nghiệp Phổ Quán ở trên có nói đến Ngũ Quán của đức Quán Âm. Trong phần Du Hóa Sa Bà này lại nói đến Ngũ Âm của đức Quán Âm. Ngũ Quán là Năng Quán Trí của Bồ Tát; còn Ngũ Âm có cái là Sở Quán Cảnh (cảnh được quán) của Bồ Tát, có cái là Thuyết Pháp Âm (âm thanh thuyết pháp) của Bồ Tát; dùng năm âm này để giải thích duyên do Bồ Tát có danh hiệu Quán Thế Âm. Có người nói Ngũ Âm này đều hình dung Quán Âm Bồ Tát thuyết pháp thanh tịnh và mỹ diệu, thật ra không phải cả năm âm đều như thế. Chẳng hạn như Diệu Âm không cần phải giải thích cách nào khác, mà chỉ là chuyên nói về âm thanh tụng niệm “Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát”. Do âm thanh niệm thánh hiệu Bồ Tát chính là âm thanh vi diệu chẳng thể nghĩ bàn nên gọi là Diệu Âm. Quán Thế Âm nghĩa là quán chiếu hết thảy âm thanh trì danh kêu cứu, lập tức không cõi nào chẳng hiện thân, tìm âm thanh đó để đến cứu tế; bởi thế gọi là Quán Thế Âm. Chữ Phạm trong Phạm Âm có nghĩa là thanh tịnh, khiết bạch, tức là dù pháp thế gian hay xuất thế gian của Quán Âm Bồ Tát đều thanh tịnh, vô cấu nhiễm. Phẩm Tự kinh Pháp Hoa nói: “Quán âm vi diệu, linh nhân nhạo văn” (xem âm thanh vi diệu khiến người thích nghe). Kinh Hoa Nghiêm nói: “Diễn xuất thanh tịnh vi diệu phạm âm, tuyên dương tối thượng vô thượng chánh pháp, văn giả hoan hỷ, đắc tịnh diệu đạo” (Diễn nói phạm âm thanh tịnh vi diệu, tuyên bày chánh pháp tối thượng, vô thượng, người nghe hoan hỷ đắc đạo tịnh diệu). Sách Pháp Hoa Văn Cú viết: “Phật được quả báo âm thanh thanh tịnh, mầu nhiệm nhất, nên hiệu là Phạm Âm”. Hải Triều Âm là tiếng lớn như tiếng hải triều ầm vang, như lúc hải triều (sóng biển) lên cao phát ra âm vang tột bậc hùng tráng mênh mông. Đã thế, hải triều lên xuống có thời gian nhất định, từ xưa đến nay chẳng sai chạy. Như sách Nghĩa Sớ của ngài Trường Thủy viết: “Trống trời không suy nghĩ, tùy theo con người mà phát ra tiếng vang; hải triều vô niệm, chưa hề sai thời”. Điều này ví như Bồ Tát thuyết pháp đúng lúc, chưa hề sai thời gian, căn cơ, như chúng sanh lúc nào được đắc độ thì ngay lúc đó Bồ Tát bèn thuyết pháp cho; nên giảng pháp nào mới độ được thì Bồ Tát liền giảng cho chúng sanh pháp đó, giống như hải triều chẳng sai giờ, bởi thế gọi là Hải Triều Âm. “Thắng bỉ thế gian âm” (Hơn tiếng thế gian kia): Có người nói âm thanh niệm Quán Thế Âm Bồ Tát giống như Phạm Âm, như Hải Triều Âm, vượt trỗi hết thảy âm thanh thế gian, vì thế là Phật tử phải thường nên xưng niệm thì mới hòng đạt được lợi ích thực tế. Có người nói Quán Âm đại sĩ đối với căn cơ của chúng sanh trong thập giới có thể nói các pháp thập giới bất đồng, nhưng âm thanh ấy thanh tịnh, âm thanh thế gian trọn chẳng thể bằng, bởi thế chúng ta phải thường niệm tụng. Thuyết trước là ước theo âm thanh niệm thánh hiệu Đại Sĩ mà luận; thuyết sau là ước theo âm thanh của Đại Sĩ vì chúng sanh thuyết pháp mà luận. Cả hai thuyết đều có lý, nhưng tôi nghĩ thuyết trước hợp lý hơn. Đức Phật đau lòng rát miệng khuyên răn chúng sanh, muốn chúng ta thường xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, nhưng trong lúc chúng ta niệm, niệm trước, niệm sau, niệm niệm chớ nên sanh khởi một niệm nghi hoặc nào; nếu không, niệm thánh hiệu Quán Âm chẳng có ích gì! Nên biết Nghi là đại địch của Tín, nếu có một nghi niệm tồn tại, quý vị sẽ chẳng thể chuyên tâm nhất ý niệm được. Do vậy, chẳng thể chân thật, thiết tha chí thành niệm; tự nhiên khó thể cảm ứng Bồ Tát. Nếu muốn cảm ứng Ngài đến cứu tế khổ nạn cho chúng ta, quý vị phải ngưỡng mộ mà niệm Ngài, không mảy may nghi ngờ gì! Phải biết Quán Thế Âm Bồ Tát là Bổ Xứ Đại Sĩ, đã đoạn sạch hết thảy phiền não tạp nhiễm, chẳng giống với các Bồ Tát chưa đoạn sạch phiền não vô minh khác, nên Ngài được tôn là “tịnh thánh” tức là bậc thánh giả thanh tịnh. Nhưng chúng ta sanh tử trong khổ não, bất luận gặp phải ách nạn nào, nếu quý vị có thể nhất tâm xưng danh, Quán Thế Âm tịnh thánh liền có thể làm bậc cha lành cho chúng ta nương nhờ, làm bậc từ mẫu cho chúng ta nương cậy. Nói cách khác, chúng sanh trong thế gian này gặp bất cứ tai nạn nào thì Quán Thế Âm luôn là người nương nhờ đắc lực cho chúng ta. Thêm nữa, Quán Âm Bồ Tát đầy đủ hết thảy vô lượng công đức. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển chín chép: “Nói đến Công Đức thì Công là công năng; điều thiện có công năng tươi nhuận phước lợi, vì thế gọi là Công. Công ấy là đức sẵn có của thiện hạnh nên gọi là Công Đức”. Sách Nhân Vương Kinh Sớ, quyển thượng của ngài Thiên Thai có câu: “Thí vật là Công, quy về mình là Đức”. Sách Thắng Man Bảo Quật, quyển thượng viết: “Ác hết là Công, thiện viên mãn là Đức. Đức còn là được, do công tu mà có được, nên gọi là Công Đức”. Quán Âm đầy đủ các công đức, thường dùng “Từ nhãn” (mắt Từ) bình đẳng quán sát hết thảy chúng sanh, như con cùng một cha mẹ được yêu thương, che chở, chẳng hề đối đãi bất đồng; vì hễ con cái gặp khốn khó, hoạn nạn nào, cha mẹ đều là chỗ nương cậy duy nhất cho con. Quán Âm Bồ Tát tích công chứa đức, tất cả công đức Ngài tích tụ rộng lớn như biển vô lượng vô biên. Do vì như vậy, chúng sanh phải thường đảnh lễ, cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát. Đảnh lễ tức là ngũ thể đầu địa (năm vóc gieo xuống đất), như nói “đầu diện lễ túc” (đầu mặt lễ dưới chân), hoặc “đảnh lễ Phật túc” (đảnh lễ chân Phật). Trong con người không gì quý hơn đảnh đầu, thấp hèn nhất không gì bằng chân. Nay dùng đảnh đầu tôn quý nhất của mình để đảnh lễ chân thấp hèn của người, nói như bây giờ là lễ kính đến cùng cực. [1] Kim Sơn là bảy rặng núi bao quanh núi Tu Di từ ngoài vào trong (không tính núi Thiết Vi), giữa các rặng núi này là biển Hương Thủy Bảy ngọn Kim Sơn là Nimindhara, Vinadhara, Aśvakarna, Sudarśana, Khadiraka, Isadhara, và Yugandhara. [2] Đây là quan điểm của riêng của đại sư. Theo thiển ý, núi Tu Di không phải là Hỷ Mã Lạp Sơn vì theo như mô tả trong kinh Phật, núi Tu Di có hương thủy hải giáp vòng, bảy rặng núi vây quanh v.v…. kỳ vĩ hơn Hỷ Mã Lạp Nhã rất nhiều. Có vị giải thích núi Tu Di tương ứng với một thái dương hệ nghe ra khả tín hơn. Hòa thượng Tịnh Không đều cho rằng một đơn vị thế giới bao gồm cả một thái dương hệ. Cụ Hoàng Niệm Tổ còn đi xa hơn, cho một thế giới là một Ngân Hà Hệ (galaxy); nhưng cả hai cùng xác quyết núi Tu Di không thuộc địa cầu. [3] Băng tinh (Ice crystal) là những hạt nước đóng thành băng trên không, chúng là hạt nhân của những đám mây chứa mưa. [1] Tứ chúng: tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di. Thất chúng: tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, sa-di, sa-di-ni, thức-xoa-ma-na, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di. |
|
Nguyện đem công đức lành, Hồi hướng cho tất cả. Chúng con với chúng sanh, Đều chứng thành Phật quả.
| ||||||
Từ khóa » Niệm Bỉ Quán âm Lực
-
Niệm Bỉ Quán Âm Lực | Giác Ngộ Online
-
PHẨM PHỔ MÔN - KỆ TỤNG - Thiền Viện Thường Chiếu
-
Niệm Danh Hiệu Quán Âm Bồ Tát - YouTube
-
Kinh Phổ Môn »» PHẦN DỊCH ÂM - Rộng Mở Tâm Hồn
-
Những Lợi ích Khi Niệm Quán Thế Âm Bồ Tát - .vn
-
Phẩm 25: Phổ Môn - Làng Mai
-
Hoặc Bị Dòng Nước Cuốn Trôi, Xưng Danh Hiệu Ngài Liền Gặp Chỗ Cạn ...
-
Nghi Thức Trì Tụng Kinh Phổ Môn (Kinh Cầu An) Bản đầy đủ
-
NGHI THỨC CẦU AN (Kinh Phổ Môn) - Vien Giac Pagode
-
Kinh Phổ Môn - (Dịch âm) - Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
-
Mùa Gốm - "Long Ngư Chư Quỷ Nạn Niệm Bỉ Quán âm Lực Ba...
-
[DOC] Kinh Pho Mon - Doan Trung Con - Nguyen Minh Tien Dich
-
Ý Nghĩa Của Kinh Phổ Môn Và Cách Tụng Kinh Phổ Môn Chuẩn Nhất