Quyết định Của Cả Cuộc đời - Báo Công An Nhân Dân điện Tử

Đầu tháng 12/1999, miền Trung oằn mình trong cơn lũ "bà thêm" (lũ xảy ra ngày 23/10 âm lịch). Đã hàng chục năm gắn với công tác thuỷ lợi và kinh nghiệm lãnh đạo ở một tỉnh bão lũ thường xuyên như Quảng Nam, ông Lê Trí Tập, Chủ tịch tỉnh biết chắc thiệt hại sắp xảy ra sẽ rất tàn khốc.

5h30 sáng ngày 1/12/1999, trước đỉnh lũ đúng 24h, ông Tập đã đứng trên mặt đập hồ Phú Ninh, trọng điểm xung yếu bậc nhất của tỉnh Quảng Nam để thị sát và chỉ đạo. Mưa chéo mặt và kín trời, nước hồ dâng rất nhanh. Tất cả những người có mặt đều cực kỳ lo lắng. Khá đông phóng viên báo chí có mặt, nhưng câu hỏi đưa ra thì chỉ có một: "Nếu mưa không giảm thì sao? Vỡ đập thì sao?". Người ướt sũng, vị Chủ tịch tỉnh kiên quyết: "Tôi đang đứng trên mặt đập, nếu vỡ đập, tôi sẽ là người đầu tiên bị cuốn cùng cơn lũ".

Hồ Phú Ninh cách thị xã Tam Kỳ chỉ 7 km, rộng 23.409ha. Đáy tự nhiên của đập nằm ở cao độ 25m, hai đập tràn sự cố Long Sơn I và Long Sơn II nằm ở cao độ 26m. Cao trình đập phụ Dương Lâm ở đỉnh là 35m. Đến chiều ngày 1-12, mưa vẫn không ngớt. Tốc độ xả lũ 1.000 m3/s hầu như không ăn thua gì với tốc độ nước dâng trong đập. Chỉ cần mưa thêm khoảng 40mm, nước sẽ tràn qua và phá vỡ mặt đập.

Tình hình căng như một sợi dây đàn. Một cuộc họp khẩn cấp được tổ chức ngay gồm một bên là toàn bộ cán bộ chủ chốt của tỉnh và bên kia là đoàn công tác do đích thân Bộ trưởng Bộ NN và PTNT kiêm Trưởng Ban Phòng chống lụt bão TW Lê Huy Ngọ dẫn đầu. Các thông số báo cáo đều khẳng định: đến nửa đêm, ngưỡng 35m sẽ bị nước phá vỡ. Lúc đó, cả công trình thuỷ lợi hồ Phú Ninh sẽ bị xoá sổ. Đại thảm họa đã gần kề. Để cứu đập chính và cả công trình, không còn cách nào khác, phải cho nước tràn, vỡ đập phụ Dương Lâm, theo đúng tiêu chuẩn thiết kế.

Có ý kiến cho rằng, thậm chí nếu đập không vỡ thì phải cho nổ mìn. Lúc đó, nước sẽ tràn qua cao trình, mặt đập bằng đất sẽ bị nước phá vỡ ngay. Một khối nước 300-400 triệu m3 ngay lập tức từ độ cao 30m sẽ đổ ập xuống khu vực thị xã Tam Kỳ, biến cả vùng phía Bắc Tam Kỳ thành một con sông không có bờ và cuốn đi bất kỳ thứ gì nằm trên dòng chảy của nó.

Nếu điều đó xảy ra, hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn dân của Tam Kỳ, Thăng Bình... sẽ bị lũ cuốn phăng, đại thảm họa sẽ xảy ra, thiệt hại là không thể tính nổi. Cũng không gì có thể ngăn chặn được dòng nước. Thời gian bàn bạc, chọn lựa phương án xem như cũng không còn nữa.

Ở cương vị Chủ tịch tỉnh, ông Lê Trí Tập phát biểu: "Mục đích cao nhất là cứu dân. Nếu để nước tràn đập hoặc phá đập lúc nửa đêm, số người chết sẽ rất kinh khủng. Nếu không có đoàn công tác của Chính phủ, tôi sẽ là người quyết định, nhưng đã có đoàn ở đây, chúng tôi xin Trung ương cho quyết định: nâng cao trình mặt đập lên thêm 30cm để kéo dài thời gian tràn đập nhằm cứu dân".

Lập luận của ông được xác tín bằng những số liệu lượng mưa cập nhật từ trạm đầu nguồn ở Tiên Phước và hai trạm riêng cho hồ Phú Ninh là Xuân Bình và Phú Thọ. Nếu mưa vẫn không giảm, với việc nâng cao trình mặt đập lên thành 35,3m, hồ Phú Ninh sẽ đủ sức chứa thêm 17,3 triệu m3 nước, đủ để trì hoãn việc tràn đập đến tận sáng, thay vì nửa đêm như với cao trình hiện tại. Ông Tập bảo: "Đến lúc đó thì hết cách, có phá là trời phá chứ chúng ta không phá. Nhưng vỡ đập vào ban ngày, việc sơ tán, cứu dân chắc chắn hiệu quả hơn, giảm thiểu được tổn thất".

Không có ý kiến nào thuyết phục hơn. Ngặt một nỗi, cao trình mặt đập là con số của thiết kế, có tính pháp lệnh. Thay đổi cao trình là vi phạm pháp lệnh. Cho dù có dũng cảm thay đổi cao trình mà mưa vẫn tiếp tục thì đại thảm họa vẫn cứ xảy ra. Cho tràn đập hay trì hoãn, đó là quyết định sinh tử, không chỉ thách thức sinh mệnh chính trị của một cá nhân, một tập thể mà quan trọng hơn cả, nó còn quyết định luôn cả số phận, sinh mạng và tài sản của hàng chục ngàn người dân. Không có thời gian cho sự đắn đo, ông Tập quyết định ngay: "Xin cho nâng mặt đập, tôi sẽ chịu mọi trách nhiệm".

Không khí cuộc họp căng như bong bóng. Đoàn công tác của Chính phủ đề nghị tạm hoãn cuộc họp để xin ý kiến chỉ đạo của Trung ương. Tiếp điện thoại của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, ông Tập khẳng định: "Tình hình hiện tại chỉ có thể giải quyết tại chỗ, không thể chờ sự chi viện từ Trung ương hay địa phương khác. Quảng Nam đã có phương án sẵn, xin Trung ương cho tự quyết để thực hiện".

Không đầy 10 phút sau, cuộc họp lại tiếp tục. Bộ trưởng Lê Huy Ngọ và đoàn công tác đều ủng hộ ý kiến "sửa thiết kế" của Chủ tịch tỉnh nhưng rất lo lắng, vì làm sao có thể gấp rút tăng cao trình lên thêm 30cm, trong khi mưa vẫn xối xả? Ông Tập mừng quá, trình bày luôn phương án đã chuẩn bị: một trung đoàn bộ đội 500 quân đang đi dã ngoại ở huyện miền núi Tiên Phước đã được điều động chờ sẵn tại chân đập hồ Phú Ninh cùng với 2.000 bao đất đóng sẵn. Xe xúc, xe ủi cũng đã chuẩn bị và tập kết từ trước. Chỉ cần phát lệnh, sau không đầy 20 phút là sẽ nâng cao xong cao trình cho mặt đập dài 200m, bằng cách chồng 2 bao đất lên thành hàng.

Chưa đến "giờ G" - nửa đêm, công việc nâng cao trình đã hoàn tất. Từ đó đến sáng, cả Chủ tỉnh tỉnh Lê Trí Tập và hầu như toàn bộ cán bộ lãnh đạo đầu ngành của tỉnh Quảng Nam lẫn đoàn công tác của Trung ương đều thức trắng và ướt sũng trên mặt đập. Sống cùng sống, chết cũng chết, không chỉ sự nghiệp chính trị mà cả tính mạng của họ cũng gắn luôn vào số phận của con đập.

Trời không phụ lòng người. Gần sáng, mưa ngớt, rồi tạnh hẳn. Lên đến lé đé "điểm chết" mới nâng cao của mặt đập, nước hồ chững lại, sau đó hạ dần theo đà tiêu thoát của trận đại hồng thuỷ. Con đập và cả công trình hồ Phú Ninh vẫn đứng vũng trong cơn lũ lịch sử. Hàng chục ngàn dân các huyện Bắc Quảng Nam thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.

Mười năm ngoảnh lại, cảm xúc căng thẳng, thắt ruột vẫn chưa tan hẳn trong lòng ông Tập. Ông bảo: "Nếu mất con đập, hàng ngàn dân thảm nạn, tôi chắc cũng để nước cuốn mình trôi chứ không sống nổi".

Sau cơn lũ, ông Lê Trí Tập đã được thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất. Nhưng trong tâm thức của người dân Quảng Nam, với quyết định giúp níu lại cuộc sống của hàng ngàn người, ông Chủ tịch tỉnh của họ thật sự đã là một anh hùng. Ông Tập không quan tâm đến danh hiệu hay chức vị, chỉ hài lòng vì đã quyết định đúng, vì sở học, kiến thức khoa học đã phát huy tác dụng trong giây phút quyết liệt nhất.--PageBreak--

Tuổi đã ngoài thất thập (sinh năm 1939), ông Tập vẫn chưa phai ký ức về "cơn khát" năm 1952. Năm đó, cả huyện Điện Bàn và toàn vùng Quảng Nam quê ông đều đại hạn. Còn nhỏ, nhưng là lao động trụ cột của gia đình, hôm nào ông cũng phải dậy từ 2-3 giờ sáng để đi "vét" từng gàu nước về giải hạn cho những chân ruộng, mảnh vườn đang khô cong cơn khát. Lúc đó, ông chỉ có một khát khao là làm sao có được một hệ thống kênh mương để đưa nước về với ruộng, người nông dân thoát cảnh vất vả dậy sớm thức khuya lặn lội hàng cây số chắt bòn từng ngụm nước.

Tham gia kháng chiến chống Pháp từ hồi 13, 14 tuổi, sau Hiệp định Genève, ông Tập được đưa ra Bắc tiếp tục học văn hoá. Năm 1961, khi được hỏi về nguyện vọng chọn ngành ở đại học, anh chọn ngay ngành thuỷ lợi của ĐHBK Hà Nội. Đầy háo hức, Lê Trí Tập khám phá ra rằng, khoa học thuỷ lợi không chỉ là công việc của riêng nguồn nước và đường dẫn nước. Nó còn có thể giúp anh tiếp cận và thông thạo nhiều ngành nghề khác, từ cơ khí, giao thông, xây dựng, thiết kế cho đến cả nông nghiệp, thuỷ văn, thủy điện, vận tải... Anh học rất giỏi, càng học càng say mê.

Ra đi từ cơn mơ về những ngày đất khát, mọi quyết định sau đó trong đời của Lê Trí Tập đều gắn với quê hương và nghề thuỷ lợi. Tốt nghiệp đại học năm 1965, anh từ chối lời mời ở lại trường tham gia giảng dạy và chọn làm cán bộ thiết kế ở Viện Khảo sát thiết kế thuỷ lợi để được trực tiếp phục vụ ngay.

Cuối năm 1971, đầu năm 1972, Lê Trí Tập lại từ chối giấy gọi đi Liên Xô làm nghiên cứu sinh để vác ba lô về Nam, háo hức về với quê hương đang giữa mùa bom đạn. Từ đó đến đầu năm 1975, dấu chân của nhà khoa học trẻ đã mòn vẹt khắp các nẻo đường rừng của các tỉnh vùng Bắc Tây Nguyên và tỉnh Quảng Đà. Ông nhớ tên, thuộc nết, hiểu cặn kẽ từng điểm nhỏ của hầu như mọi suối, khe, lạch nước, con sông, cả trong mùa cạn lẫn ngày bão lũ của tỉnh Quảng Đà, đồng thời thông thạo ngôn ngữ, am hiểu phong tục, tập quán của một số dân tộc khu vực Bắc Tây Nguyên.

Sau giải phóng, Lê Trí Tập lại từ chối vị trí Phó Ty Thuỷ lợi tỉnh Đắk Lắk. "Tôi xa quê hết cả 20 năm chiến tranh, lâu quá rồi. Giờ đã hoà bình, xin cho tôi về quê phục vụ". Trung ương đưa Lê Trí Tập về Quảng Đà giữ chức Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch, rồi Giám đốc Sở Điện - Than tỉnh nhưng ông đều lắc đầu. "Tôi chỉ rành nghề thuỷ lợi, cho tôi về làm thuỷ lợi, tôi làm được nhiều thứ hơn". Tổ chức bảo ông: "Bên Thuỷ lợi...hết chỗ rồi. Chẳng còn vị trí trưởng, phó nào cả. Về bên đó, anh chỉ làm lính thôi đấy".

Đối với Lê Trí Tập, làm quan hay làm dân, làm nhà khoa học hay người lao động thì mục tiêu cũng chỉ có một: phục vụ. Ông gật đầu ngay, vác ba lô về quê làm cán bộ thiết kế của Ty Thuỷ lợi Quảng Đà.

Hầu như công trình thuỷ lợi nào ở khu vực này, ông cũng từng tham gia vào công tác qui họach và thiết kế. Ở quê, nhưng ông vắng nhà biền biệt hàng tháng trời, ba đứa con giao lại một tay vợ, bà Trần Thị Vy lo lắng. Ban đầu đi xe đạp, sau là xe máy cà tàng, ông rong ruổi khắp hang cùng ngõ hẻm để nghiên cứu và thiết kế các công trình.

Nhiều hôm, quá say sưa với công việc, ông quên mất cả giờ ăn. Những người nông dân mà ông không nhớ hết tên ái ngại, đưa khoai chà (khoai lang, khoai mì luộc nghiền thành bột) ra mời, ông cũng vui vẻ quệt mồ hôi, ngồi ngay bên bờ kênh hoặc mặt đập, giữa nắng trưa ăn cùng họ. Thế là xong bữa. Thỉnh thoảng, được ngày rảnh, ông tạt về nhà, xoay trần ra xây công trình cho riêng gia đình mình. Hồi đó gia đình ông còn ở trong kiệt (hẻm nhỏ). Vợ trộn hồ, chồng làm thợ, mất nhiều tháng trời ông mới dựng xong 4 bức vách, sau đó mua gỗ về làm khung, dựng chồng lên thành nhà cho vợ con tá túc. Chưa một lần ông tự hỏi cán bộ như ông là nghèo hay giàu, vất vả hay sung sướng. Vì đơn giản, ông đã và luôn hạnh phúc. Được bỏ sức lực, trí tuệ ra phấn đấu cho giấc mơ của chính mình bằng tất cả tâm huyết, đó chính là hạnh phúc.

Đến năm 1986, sau khi kinh qua đủ chức vụ chuyên môn, ông lại trở thành Phó Giám đốc rồi Giám đốc Sở Thuỷ lợi Quảng Nam - Đà Nẵng, vị trí chức vụ mà người ta đã từng bố trí cho ông từ hơn 10 năm trước!

Khi về hưu, ông Lê Trí Tập lại từ chối lời mời tham gia UB phòng chống lụt bão Trung ương. Vì ông "muốn dành vị trí và cơ hội cho lớp trẻ". Nhưng năm nào cũng thế, trước và sau mùa mưa bão hoặc trước những vấn đề hóc búa gây tranh cãi xung quanh việc thuỷ lợi, thuỷ điện..., rất nhiều cán bộ lãnh đạo địa phương, nhà chuyên môn, giới báo chí...lại tìm đến tham vấn ý kiến của ông. Ông Tập bảo, cái gì biết thì ông chẳng bao giờ từ chối trả lời.

Có những vấn đề gay gắt như việc qui hoạch thuỷ điện tràn lan gây mất rừng; việc xả nước từ đập thuỷ điện gây lũ, úng cục bộ hoặc trên diện rộng; vấn đề đúng qui trình, đúng thiết kế nhưng có lợi cho sản xuất, kinh doanh của một số ngành nhưng có thể ảnh hưởng đến tài sản, quyền lợi của người dân, ông lên tiếng rất mạnh mẽ.

Ngay cả những đơn vị, tổ chức bị ông chỉ trích vẫn quý mến và tôn trọng ý kiến phản biện của ông. Người ta hiểu, ông gay gắt nhưng ý kiến của ông giàu tính khoa học thuyết phục. Trên hết là vì dân và vì trách nhiệm. Mất công tìm tòi, nghiên cứu giải thích, bận bịu nhiều nhưng ông Tập vẫn thấy vui. Ông đã về hưu nhưng vẫn còn nhiều người muốn tìm đến với ông "sau mùa hoa nở", chắc hẳn đó là những bước chân luôn mang theo sự cầu thị, chân thành

Từ khóa » Tiểu Sử ông Lê Trí Tập