RỐI LOẠN DÒNG TƯ DUY VÀ HÌNH THỨC TƯ DUY

 

Tư duy có đặc điểm là có quan hệ rất mật thiết vớ ngôn ngữ.Tư duy và ngôn ngữ là thống nhất, nhưng không phải là đồng nhất với nhau.Tuy nhiên chúng không thể tách rời nhau được, tư duy không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ, ngược lại ngôn ngữ cũng không thể có nếu không dựa vào tư duy. Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức.Nếu không có ngôn ngữ thì các sản phẩm của tư duy không được chủ thể và người khác tiếp nhận, cũng như chính bản thân quá trình tư duy cũng không thể diễn ra được.Ngược lại, nếu không có tư duy với những sản phẩm của nó thì ngôn ngữ chỉ là những chuỗi âm thanh vô nghĩa. Do vậy, trong lâm sàng người ta nghiên cứu ngôn ngữ là hình thức biểu hiện của tư duy và thông qua ngôn ngữ để hiểu về nội dung tư duy.

1. Theo nhịp điệu ngôn ngữ

+ Rối loạn tư duy nhịp nhanh

-Tư duy phi tán: Biểu hiện là dòng tư duy tăng tới mức mà các chuỗi ý nghĩ chuyển hướng thường xuyên và rất nhanh. Người  bệnh nói liên tục suốt ngày không biết mệt mỏi. Tuy nhiên, mặc dù đôi khi có những lỗi đáng kể, nhưng mối liên kết giữa các chủ đề, các khái niệm trong tư duy vẫn khiến người nghe hiểu được và có khi khiến người nghe vui thích, hay gặp trong trạng thái hưng cảm.

-Tư duy dồn dập: trong đầu óc bệnh nhân dồn dập đủ các loại ý nghĩ, xuất hiện ngoài ý muốn và không cản được. “ Cái lưỡi thi đua với ý nghĩ và không kịp bày tỏ ý nghĩ bằng lời nói”. Người bệnh như bị áp lực về nói (pressure of speech), thường gặp trong tâm thần phân liệt, đây là hình thức thô sơ của tư duy tự động.

– Nói hổ lốn: là chứng nói tháo lời, nói luôn miệng, nội dung vô nghĩa, các từ như được chằng buộc vào nhau và liên tưởng không logic.

+ Rối loạn tư duy nhịp chậm

– Tư duy chậm chạp: dòng ý tưởng chậm chạp, suy nghĩ khó khăn, sau mỗi câu hỏi, phải dừng lại rất lâu mới trả lời được và thường gặp trong trạng thái trầm cảm.

– Tư duy ngắt quãng: còn gọi là tư duy tắc nghẽn (thought  blocking), dòng tư duy như  bị ngắt nhanh, bị bẻ gãy, gián đoạn bất ngờ và dường như có một bức tường đột nhiên sập xuống làm ngắt suy nghĩ và lời nói ở giữa câu, gặp trong tâm thần phân liệt.

2. Theo hình thức phát ngôn

– Nói một mình: người bệnh nói lẩm bẩm môt mình, nội dung không liên quan đến hoàn cảnh, gặp trong tâm thân phân liệt.

– Nói tay đôi: người bệnh nói chuyện với một nhân vật tưởng tượng hoặc nói chuyện với ảo thanh, gặp trong stress hoặc tâm thần phân liệt.

– Trả lời bên cạnh: hỏi một đàng, trả lời một nẻo, gặp trong tâm thần phân liệt, rối loạn phân ly…

– Không nói (mutism): có nhiều nguyên nhân do bị ức chế trong trạng thái trầm cảm, hiện tượng phủ định trong trạng thái căng trương lực, hoạt động nghèo nàn trong trạng thái lú lẫn, sa sút, liệt chức năng cơ quan phát âm trong hysteria và do hoang tưởng , ảo giác chi phối.

– Nói lặp lại (echolalia): biểu hiện nhắc lại câu mà người khám bệnh vừa nói. Nếu bệnh nhân chỉ nhắc lại được một từ hoặc nhóm từ cuối cùng của câu nói thì gọi là palilalia, gặp trong tâm thần phân liệt.

– Lặp lại những câu vô nghĩa (verbigeration): lời nói không hiểu được và thay thế bằng những lời nói rời rạc vô nghĩa, có thể lặp lại liên tục trong nhiều ngày, gặp trong tâm thần phân liệt.

– Cơn xung động lời nói: tự nhiên xuất hiện cơn xung động, nói một hồi, nội dung không liên quan tới hoàn cảnh, có thể nguyền rủa hoặc nói thô tục, gặp trong tâm thần phân liệt.

3. Theo kết cấu ngôn ngữ

– Rối loạn về kết âm và phát âm: bao gồm các loại khó nói, nói lắp, nói thì thào, nói giọng mũi, giả giọng địa phương và giọng nước ngoài.

Rối loạn ngữ pháp và logic tư duy

– Ngôn ngữ phân liệt (schizophasie): là tư duy bị chia cắt, từng câu có thể đúng ngữ pháp, ít nhiều có ý nghĩa, nhưng giữa các câu không có mối liên hệ về ý nghĩa và logic.

Rối loạn tính liên tục của ngôn ngữ

– Tư duy lai nhai (circumstantiality): dòng tư duy thay đổi nhiều hướng, lạc đề, câu văn rườm rà với nhiều dấu phẩy, nhiều ý trong ngoặc đơn và nhiều câu phụ, gặp trong động kinh.

-Tư duy tản mạn (tangentiality): xa dần với chủ đề, không thể quay trở lại và cũng không thể nhớ chủ đề khởi nguồn là gì, do ý nghĩ bắt đầu chệch dần chủ đề theo kiểu tiếp tuyến và mất liên kết giữa các ý, các câu.

– Liên tưởng lỏng lẻo (loose associations): là điển hình của chứng đi chệch đường, không có mối liên hệ logic nên người nghe không thể hiểu. Những trường hợp rối loạn nặng, không có sự liên kết giữa các nhóm từ hoặc các từ, những quy luật ngữ pháp bị phá vỡ, liên tưởng lỏng lẻo là triệu chứng kinh điển của TTPL.

– Liên tưởng tiếng vang (clang association): thể hiện một chuỗi ý nghĩ mà ý nghĩ sau bị kích thích bởi âm thanh của từ đi trước. Đây là hình thức liên tưởng máy móc, ví dụ bệnh nhân nói: “ tên tôi là Bình, bình là hòa bình thế giới, thế giới chống chiến tranh hạt nhân, Goocbachop gặp Rigan, gân là gân bò…”

– Tư duy thiếu mạch lạc hoặc ngôn ngữ rời rạc (incoherence): nói trống rỗng và tối nghĩa, dùng từ mập mờ, mơ hồ, trừu tượng hoặc quá cụ thể, lặp đi lặp lại hoặc rập khuôn cứng nhắc, nghèo nàn và ít thông tin.

– Dùng từ mới (neologisms): hay còn gọi là từ bịa đặt, tiến nói riêng để diễn đạt một khái niệm, đôi khi bệnh nhân không dùng từ thông thường mà sáng tạo cách diễn đạt mới. Những từ mới, từ bịa được hình thành bằng cách kết hợp một số từ đã biết, theo cách nói riêng của mình và có tính chất “ma thuật”.

4. Theo ý nghĩa, mục đích của ngôn ngữ

– Suy luận bệnh lý (morbid reasoning): khi nói về một chủ đề nào đó, dùng các thao tác tư duy để trình bày một cách cầu kỳ, vụn vặt, không có ý nghĩa, bí hiểm về triết học.

-Tư duy hai chiều (ambivalent thought): trong ngôn ngữ người bệnh xuât hiện đồng thời hai dòng suy nghĩ có ý nghĩa hoàn toàn trái ngược và loại trừ lẫn nhau.

– Tư duy tự kỷ (autistic thought): người bệnh thường nói đến những chủ đề của thế giới bên trong kỳ lạ của mình, tách rời thực tế.

– Tư duy tượng trưng (symbolic thought): những sự việc bình thường trong thực tế được người bệnh gán cho một ý nghĩa tượng trưng.

Chia sẻ:

  • X
  • Facebook
Thích Đang tải...

Có liên quan

Filed under: Triệu chứng học tâm thần |

Từ khóa » Tư Duy Ngắt Quãng