SÁM HỐI 6 CĂN NGHI THỨC CHO PHẬT TỬ TẠI GIA - 123doc

Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm, Chúng con chí tâm thành đảnh lễ: - Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới.. 1 lạy - Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chánh phá

Trang 3

NIỆM HƯƠNG

(Quỳ nguyện hương)

Trầm thuỷ, rừng thiền hương sực nức, Chiên đàn vườn tuệ đã vun trồng

Ðao giới vót thành hình non thẳm,

Nguyện đốt lò tâm mãi cúng dâng

Nam Mô Bồ Tát Hương Cúng Dường

(câu cuối đọc 3 lần rồi đứng lên)

TÁN PHẬT

Ðại từ, đại bi thương chúng sanh,

Ðại hỷ, đại xả cứu hàm thức

Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm, Chúng con chí tâm thành đảnh lễ:

- Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột

hư không khắp pháp giới (1 lạy)

- Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chánh pháp ba đời,

tột hư không khắp pháp giới (1 lạy)

- Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng, bậc Hiền thánh

ba đời, tột hư không khắp pháp giới (1 lạy)

Trang 4

TÁN PHÁP

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp

Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

Nguyện hiểu nghĩa chơn đức Thế Tôn Qui kính Phật, Bồ Tát trên hội Bát Nhã

(câu cuối đọc 3 lần)

TÂM KINH TRÍ TUỆ CỨU CÁNH RỘNG LỚN

Khi Bồ tát Quán Tự Tại hành sâu Bát Nhã

Ba la mật đa, ngài soi thấy năm uẩn đều không,liền qua hết thảy khổ ách

Này Xá Lợi Phất! Sắc chẳng khác không,không chẳng khác sắc Sắc tức là không, khôngtức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng lại nhưthế

Này Xá Lợi Phất! Tướng không của cácpháp không sanh, không diệt, không dơ, khôngsạch, không thêm, không bớt Cho nên trongtướng không, không có sắc, không có thọ,

Trang 5

tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi,thân, ý; không có sắc, thinh, hương, vị, xúc,pháp; không có nhãn giới cho đến không có ýthức giới; không có vô minh cũng không có hết

vô minh cho đến không có già chết cũng không

có hết già chết; không có khổ, tập, diệt, đạo;không có trí huệ, cũng không có chứng đắc

Vì không có chỗ được, nên Bồ tát y theoBát Nhã Ba la mật đa, tâm không ngăn ngại Vìkhông ngăn ngại nên không sợ hãi, xa lìa hẳnđiên đảo mộng tưởng, đạt đến cứu cánh Niếtbàn Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát Nhã

Ba la mật đa, được đạo quả Vô thượng Chánhđẳng chánh giác Nên biết Bát Nhã Ba la mật đa

là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượngchú, là vô đẳng đẳng chú, hay trừ được hết thảykhổ, chơn thật không dối

Vì vậy, nói chú Bát Nhã Ba la mật đa, liềnnói chú rằng:

"Yết đế, yết đế, Ba la yết đế, ba la tăng yết

đế, Bồ đề tát bà ha" (thần chú đọc 3 lần)

Trang 6

ĐẢNH LỄ PHẬT VÀ CHƯ VỊ TỔ SƯ

(Mỗi câu lạy 1 lạy)

- Chí tâm đảnh lễ: Quá khứ Phật Tỳ Bà Thi.

- Chí tâm đảnh lễ: Hiện tại Phật Thích Ca Mâu Ni.

- Chí tâm đảnh lễ: Vị lai Phật Di Lặc Tôn

- Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Đại Ca Diếp

- Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư A Nan.

- Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Bồ Ðề Ðạt Ma.

- Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Huệ Khả.

- Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Huệ Năng.

- Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Trúc Lâm Ðại Ðầu Ðà

- Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Pháp Loa

- Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Huyền Quang

- Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư vị Tổ sư Ấn Ðộ, Trung Hoa, Việt Nam.

Trang 7

SÁM HỐI SÁU CĂN

(Quỳ tụng)

- Chí tâm sám hối:

Chúng con từ vô thỉ kiếp đến nay,

Bỏ mất bản tâm không biết chánh đạo Rơi ba đường khổ, bởi sáu căn lầm; Không sám lỗi trước khó tránh lỗi sau

1.- NGHIỆP CĂN MẮT LÀ:

Nhân ác xem kỹ, nghiệp thiện coi khinh, Lầm nhận hoa giả, quên ngắm trăng thật Yêu ghét nổi dậy, đẹp xấu tranh dành,

Chợp mắt dối sanh, mờ đường chánh kiến Trắng qua xanh lại, tía phải vàng sai,

Trang 8

Hoặc đến Tam bảo, hoặc vào chùa chiền, Gần tượng, thấy kinh mắt không thèm ngó Phòng Tăng, điện Phật gặp gở gái trai,

Mắt liếc mày đưa, đam mê sắc dục

Không ngại Hộ pháp, chẳng sợ Long thần, Trố mắt ham vui, đầu chưa từng cúi

Những tội như thế, vô lượng vô biên,

Ðều từ mắt sanh, phải sa địa ngục

Trải hằng sa kiếp, mới được làm người,

Dù được làm người, lại bị mù chột

2.- NGHIỆP CĂN TAI LÀ:

Lời kinh câu kệ, không chút lắng tai

Thoảng nghe khen hão, khấp khởi mong cầu, Biết rõ lời lành, đâu từng ưng nhận

Vài ba bạn rượu, năm bảy khách chơi,

Trang 9

Tán ngắn bàn dài, châu đầu nghe thích

Hoặc gặp thầy bạn, dạy bảo đinh ninh,

Những điều hiếu trung, che tai bỏ mặc

Hoặc nghe tiếng xuyến, bỗng nảy lòng dâm, Nghe nửa câu kinh, liền như tai ngựa

Những tội như thế, vô lượng vô biên,

Ðầy ắp bụi trần, kể sao cho xiết

Sau khi mạng chung, rơi ba đường ác

Hết nghiệp thọ sanh, lại làm người điếc

3.- NGHIỆP CĂN MŨI LÀ:

Thường tham mùi lạ, trăm thứ ngạt ngào,

Chẳng thích chơn hương, năm phần thanh tịnh Lan xông xạ ướp, chỉ thích tìm tòi,

Giới định huân hương, chưa từng để mũi

Trầm đàn thiêu đốt, đặt trước Phật đài,

Nghển cổ hít hơi, trộm hương phẩy khói

Theo dõi hương trần, Long thần chẳng nể,

Chỉ thích mùi xằng, trọn không chán mỏi

Mặt đào má hạnh, lôi kéo chẳng lìa,

Cây giác hoa tâm, xây đi không đoái

Trang 10

Hoặc ra phố chợ, hoặc vào bếp sau,

Thấy bẩn thèm ăn, ưa nhơ kiếm nuốt

Chẳng ngại tanh hôi, không kiên hành tỏi,

Mê mãi không thôi, như lợn nằm ổ

Hoặc chảy nước mũi, hoặc hỉ đàm vàng,

Bôi cột quẹt thềm, làm nhơ đất sạch

Hoặc say nằm ngủ, điện Phật phòng Tăng, Hai mũi thở hơi, xông kinh nhơ tượng

Ngửi sen thành trộm, nghe mùi thành dâm, Không biết không hay, đều do nghiệp mũi, Những tội như thế, vô lượng vô biên,

Sau khi mạng chung, đọa ba đường khổ

Trải ngàn muôn kiếp, mới được làm người,

Dù được làm người, quả báo bệnh mũi

4.- NGHIỆP CĂN LƯỠI LÀ:

Tham đủ mọi mùi, thích xét ngon dở,

Nếm hết các thứ, rõ biết béo gầy

Sát hại sinh vật, nuôi dưỡng thân mình,

Quay rán cá chim, nấu hầm cầm thú

Thịt tanh béo miệng, hành tỏi ruột xông

Trang 11

Ăn rồi đòi nữa, nào thấy no lâu

Hoặc đến đàn chay, cầu thần lễ Phật,

Cố cam bụng đói, đợi lúc việc xong

Sáng sớm ăn chay, cơm ít nước nhiều,

Giống hệt người đau, gắng nuốt thuốc cháo Mắt đầy mỡ thịt, cười nói hân hoan,

Rượu chuốc cơm mời, nóng thay nguội đổi Bày tiệc đãi khách, cưới gả cho con,

Giết hại chúng sanh, vì ba tấc lưỡi

Nói dối bày điều, thêu dệt bịa thêm,

Hai lưỡi bỗng sanh, ác khẩu dấy khởi

Chửi mắng Tam bảo, nguyền rủa mẹ cha,

Khinh khi Hiền thánh, lừa dối mọi người Chê bai người khác, che dấu lỗi mình,

Bàn luận cổ kim, khen chê này nọ

Khoe khoang giàu có, lăng nhục người nghèo, Xua đuổi Tăng Ni, chửi mắng tôi tớ

Lời dèm thuốc độc, nói khéo tiếng đàn,

Tô vẽ điều sai, nói không thành có

Oán hờn nóng lạnh, phỉ nhổ non sông,

Tán dóc Tăng phòng, ba hoa điện Phật

Trang 12

Những tội như thế, vô lượng vô biên,

Ví như cát bụi, đếm không thể cùng

Sau khi mạng chung, vào ngục Bạt thiệt

Cày sắt kéo dài, nước đồng rót mãi

Quả báo hết rồi, muôn kiếp mới sanh,

Dù được làm người, lại bị câm bặt

5.- NGHIỆP CĂN THÂN LÀ:

Tinh cha huyết mẹ, chung hợp nên hình,

Năm tạng trăm hài, cùng nhau kết hợp

Chấp cho là thật, quên mất pháp thân,

Sanh dâm, sát, trộm, bèn thành ba nghiệp:

a.- Nghiệp Sát Sanh là:

Luôn làm bạo ngược, chẳng khởi nhân từ, Giết hại bốn loài, đâu biết một thể

Lầm hại cố giết, tự làm dạy người,

Hoặc tìm thầy bùa, đem về ếm đối

Hoặc làm thuốc độc, để hại sanh linh,

Chỉ cốt hại người, không hề thương vật

Hoặc đốt núi rừng, lấp cạn khe suối,

Trang 13

Buông chài bủa lưới, xuýt chó thả chim,

Thấy nghe tùy hỷ, niệm dấy tưởng làm,

Cử động vận hành, đều là tội lỗi

b.- Nghiệp Trộm Cắp là:

Thấy tài bảo người, thầm khởi tâm tà,

Phá khóa cạy then, sờ bao mò túi

Thấy của thường trụ, lòng dấy khởi tham, Trộm của nhà chùa, không sợ Thần giận Không những vàng ngọc, mới mắc tội to, Ngọn cỏ cây kim, đều thành nghiệp trộm

c.- Nghiệp Tà Dâm là:

Lòng mê nhan sắc, mắt đắm phấn son,

Chẳng đoái liêm trinh, riêng sanh lòng dục Hoặc nơi đất Phật, chánh điện phòng Tăng,

Cư sĩ gái trai, đụng chạm đùa giỡn

Tung hoa ném quả, đạp cẳng kề vai,

Khoét ngạch trèo tường, đều là dâm nghiệp Những tội như thế, vô lượng vô biên,

Ðến lúc mạng chung, đều vào địa ngục

Trang 14

Gái nằm giường sắt, trai ôm cột đồng,

Muôn kiếp tái sanh, lại chịu tội báo

6.- NGHIỆP CĂN Ý LÀ:

Nghĩ vơ, nghĩ vẩn, không lúc nào dừng,

Mắc mưu tình trần, kẹt tâm chấp tướng

Như tầm kéo kén, càng buộc càng bền,

Như bướm lao đèn, tự thiêu tự đốt

Hôn mê chẳng tỉnh, điên đảo dối sinh

Não loạn tâm thần, đều do ba độc

a.- Tội Keo Tham là:

Âm mưu ghen ghét, keo cú vét vơ,

Mười vốn ngàn lời, còn cho chưa đủ

Của chứa tợ sông, lòng như hũ chảy,

Rót vào lại hết, nên nói chưa đầy

Tiền mục lúa hư, không cứu đói rét,

Lụa là chất đống, nào có giúp ai,

Ðược người mấy trăm, chưa cho là nhiều, Mất mình một đồng, tưởng như hao lớn

Trên từ châu báu, dưới đến tơ gai,

Trang 15

Kho đụn chất đầy, chưa từng bố thí

Bao nhiêu sự việc, ngày tính đêm lo,

Khổ tứ lao thần, đều từ tham nghiệp

b.- Tội Nóng Giận là:

Do tham làm gốc, lửa giận tự thiêu,

Quắc mắt quát to, tiêu tan hòa khí

Không riêng người tục, cả đến thầy tu,

Kinh luận tranh giành, cùng nhau công kích Chê cả sư trưởng, nhiếc đến mẹ cha,

Cỏ nhẫn héo vàng, lửa độc rực cháy

Buông lời hại vật, cất tiếng hại người,

Không nhớ từ bi, chẳng theo luật cấm

Bàn thiền tợ Thánh, trước cảnh như ngu, Dầu ở cửa Không, chưa thành vô ngã

Như cây sanh lửa, lửa cháy đốt cây,

Những tội trên đây, đều do nghiệp giận

c.- Tội Ngu Si là:

Căn tánh dần độn, ý thức tối tăm,

Chẳng hiểu tôn ty, không phân thiện ác

Trang 16

Chặt cây hại mạng, giết gấu gãy tay,

Mắng Phật chuốc ương, phun Trời ướt mặt Quên ơn quên đức, bội nghĩa bội nhân,

Không tỉnh không xét, đều do si nghiệp

Những tội như thế, rất nặng rất sâu,

Ðến lúc mạng chung, rơi vào địa ngục

Trải trăm ngàn kiếp, mới được thọ sanh,

Dù được thọ sanh, lại mắc ngu báo

Nếu không sám hối, đâu được tiêu trừ,

Nay trước Phật đài, thành tâm sám hối

SÁM HỐI BA NGHIỆP

Chúng con đồng đến trước Phật đài,

Tâm thành đảnh lễ mười phương Phật,

Tất cả Bồ-tát trong ba đời,

Thanh văn Bích Chi chúng hiền Thánh,

Đồng đến chứng minh con phát lồ:

Bao nhiêu tội lỗi trong nhiều kiếp,

Ba nghiệp gây nên chẳng nghĩ lường,

Nổi chìm lăn lộn trong ba cõi,

Tội ác chiêu hoài không biết dừng

Trang 17

Hôm nay tỉnh giác con sám hối,

Hổ thẹn ăn năn mọi lỗi lầm,

Cầu xin chư Phật đồng chứng giám,

Bồ-tát Thanh văn thảy hộ trì

Khiến con tội cũ như sương tuyết,

Hiện tại đời con đang sống đây,

Tuy có duyên lành gặp Phật pháp,

Mà đã gây nên lắm nghiệp khiên

Lòng còn chứa chấp tham kiêu mạn,

Sân si tật đố hạnh tà mê,

Miệng nói điêu ngoa thêm dối trá,

Gạt lường ác khẩu lời vu oan,

Sát sanh hại vật thân gây tạo,

Thương tổn sanh linh để lợi mình,

Tam bảo chứng minh con sám hối

Dứt tâm tương tục kể từ đây,

Không hề tái phạm dù lỗi nhỏ,

Nguyện gìn ba nghiệp như giá băng,

Nguyện đạt chơn tông giáo viên đốn,

Kiến tánh viên minh tâm nhất như

Vọng tình ngoại cảnh dường mây khói,

Trang 18

Nghiệp thức vốn không trí sáng ngời,

Liễu sanh thoát tử không ngăn ngại,

Tam giới ra vào độ chúng sanh

Thuyền từ chống mãi không dừng nghỉ,

Đưa hết sanh linh lên giác ngạn,

Công đức tu hành xin hồi hướng,

Tất cả chúng sanh đều Niết-bàn

Vào nhà chư Phật ngồi tòa báu,

Mặc áo Như Lai chứng Pháp thân,

Đồng phát Bồ-đề tâm bất thối,

Đồng ngộ vô sanh pháp giới chơn,

Đồng lên Phật quả vào Diệu giác,

Đồng nhập Chơn như thể sáng tròn

Tánh tội vốn không, do tâm tạo,

Tâm nếu diệt rồi, tội sạch trong,

Tội trong tâm diệt, cả đều không,

Thế ấy mới là chơn sám hối

Nam Mô Bồ tát Cầu Sám Hối

(câu cuối tụng 3 lần)

Trang 19

VĂN PHÁT NGUYỆN

Đệ tử chúng con một lòng thành,

Nguyện cho đất nước mãi thanh bình,Tai nạn đao binh đều dứt sạch,

Huynh đệ nhìn nhau con một nhà

Xót thương cứu giúp tiêu thù hận,

Cả trên thế giới thảy an lành,

Cùng chung nhân loại lòng yêu mến,

Sớt cơm chia áo một tâm thành

Kết tình đồng loại như ruột thịt,

Nguyện cả chúng sanh đến côn trùng,Cùng khởi lòng thương che chở thảy,

Ai đành sát hại làm lợi mình

Mong sao toàn thể cùng vui sống,

Nguyện mưa chánh pháp khắp quần sanh,Mọi người đều được ơn nhuần gội,

Nhiệt não tiêu tan lòng thanh lương

Tam thừa thánh quả đều an trụ,

Nguyện con dứt sạch mọi não phiền,

Gắng tu chẳng chút sanh lười mỏi,

Lập chí vững chắc như kim cương

Trang 20

Dù bao sóng gió không lay động,

Thẳng bước tiến lên quả vô sanh,

Yêu ma quỉ mị không ngăn nổi,

Chiếc gươm trí tuệ tay chẳng rời

Đơn đao đột nhập vô thượng giác,

Tam độc bát phong không chướng ngăn,Chỉ một chân như tam-muội ấn,

Tiến thẳng vào trong nhà Pháp thân

Trên ngọn Diệu Phong rong tự tại,

Xem xét mười phương chúng khổ đau,Khởi từ phương tiện tùy ứng hóa,

Đưa chúng đồng lên bờ Niết-bàn

Dù bao gian khổ lòng không nản,

Công đức tu hành xin hướng về,

Tất cả chúng sanh cùng mình được,

Đồng nương chánh pháp tối thượng thừa,Lên ngôi chánh giác chứng Phật đạo

Trang 21

CHÍ TÂM PHÁT NGUYỆN

Một nguyện nguồn linh thường trong lặng Hai nguyện tạng thức dứt lăng xăng

Ba nguyện khối nghi đều tan nát

Bốn nguyện trăng định mãi tròn đầy

Năm nguyện pháp trần không khởi diệt Sáu nguyện lưới ái lìa buộc ráng

Bảy nguyện suy nghĩ hành Thập địa

Tám nguyện nghe suốt bỏ tam thiên

Chín nguyện tâm vượn thôi nhảy nhót Mười nguyện ý ngựa dứt cương yên

Mười một nguyện mở lòng nghe Phật dạy Mười hai nguyện mến thích Tổ sư Thiền

CHÍ TÂM HỒI HƯỚNG

Chúng con hồi tâm về Thánh chúng,

Ân cần đầu cúi lễ Từ tôn

Thềm thang Thập địa nguyện sớm lên, Chơn tâm Bồ đề không thối chuyển

Trang 22

PHỤC NGUYỆN

Cửa Thiền thường nghiêm tịnh,

Toàn chúng mãi thuận hòa

Phật tuệ chiếu sáng ngời,

Mưa pháp hằng nhuần gội

Phật tử lòng tin sâu,

Ruộng phước càng tăng trưởng

Chúng sanh sống an lạc,

Vui hưởng cảnh thái bình

Nơi nơi dứt đao binh,

Mỗi mỗi đều thành Phật

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

BA TỰ QUY Y

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sanh, hiểu

thấu đại đạo, phát tâm vô lượng (1 lạy)

Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sanh, thâm

nhập tam tạng, trí tuệ như biển (1 lạy)

Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sanh, quản

lý đại chúng, tất cả không ngại (1 lạy)

Từ khóa » Bài Kinh Sám Hối 6 Căn