Sông Việt Nam – Wikipedia Tiếng Việt

Bước tới nội dung

Nội dung

chuyển sang thanh bên ẩn
  • Đầu
  • 1 Một số thông số
  • 2 Danh sách Sông
  • 3 Vai trò của các hệ thống sông lớn ở Việt Nam
  • 4 Tham khảo
  • 5 Liên kết ngoài
  • Bài viết
  • Thảo luận
Tiếng Việt
  • Đọc
  • Sửa đổi
  • Sửa mã nguồn
  • Xem lịch sử
Công cụ Công cụ chuyển sang thanh bên ẩn Tác vụ
  • Đọc
  • Sửa đổi
  • Sửa mã nguồn
  • Xem lịch sử
Chung
  • Các liên kết đến đây
  • Thay đổi liên quan
  • Thông tin trang
  • Trích dẫn trang này
  • Tạo URL rút gọn
  • Tải mã QR
In và xuất
  • Tạo một quyển sách
  • Tải dưới dạng PDF
  • Bản để in ra
Tại dự án khác
  • Khoản mục Wikidata
Giao diện chuyển sang thanh bên ẩn Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Việt Nam hiện có 2360 con sông dài trên 10 km, trong đó 93% là các con sông ngắn và nhỏ, chảy liên tỉnh được đưa vào danh mục quản lý của Cục đường sông Việt Nam theo quyết định số 1989 ngày ngày 1 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, 191 tuyến sông, kênh với tổng chiều dài 6.734,6 km được xem là tuyến đường sông quốc gia.[1]

Một số thông số

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Mật độ sông, kênh trung bình trong cả nước đạt 0,60 km/km². Nơi có mật độ sông thấp nhất là vùng Nam Trung Bộ. Khu vực đồng bằng sông Hồng có mật độ 0,45 km/km². Khu vực đồng bằng sông Cửu Long có mật độ 0,68 km/km².
  • Tổng lưu lượng nước trung bình của các sông và kênh là 26.600 m³/s. Trong đó, phần được sinh ra trên đất Việt Nam chiếm 38,5%; phần từ nước ngoài chảy vào Việt Nam chiếm khoảng 61,5%. Hệ thống sông Cửu Long chiếm 60,4%, hệ thống sông Hồng 15,1% và các con sông còn lại chiếm 24,5%.
  • Việt Nam có 23 sông xuyên biên giới. Trong đó có những sông lớn như Sông Hồng, Sông Đà, Sông Mã,Sông Lam, Sông Đồng Nai...
  • Hướng của các dòng sông Việt Nam chủ yếu chảy từ Tây sang Đông, từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ đất liền ra biển Đông; nhưng cũng có những dòng sông chảy ngược, điển hình như Sê San (còn gọi là Krông Pơ Kô) và Sêrêpôk (còn gọi là Đắk Krô) hình thành ở khu vực Tây Nguyên rồi chảy ngược hướng Tây sang Campuchia. Ở miền Bắc có sông Kỳ Cùng hình thành ở tỉnh Lạng Sơn chảy ngược theo hướng Đông Nam – Tây Bắc sang Trung Quốc.
  • Dọc bờ biển, trung bình cứ 23 km lại có một cửa sông. Việt Nam có 112 cửa sông lạch đổ ra biển. Các cửa sông lớn của Việt Nam thường bắt nguồn từ nước ngoài, phần trung lưu và hạ lưu chảy trên đất Việt Nam.
  • Ba dòng sông rộng nhất là sông Hồng, sông Tiền, sông Hậu với chiều rộng trung bình khoảng 1 km.
  • Các dòng sông có chiều dài chảy trong nước lớn nhất là: Sông Hồng dài 551 km (kể cả đoạn từ thượng nguồn về đến Việt Trì với tên gọi sông Thao); sông Đà dài 543 km; sông Thái Bình dài 411 km (kể cả dòng chính từ thượng nguồn đến Phả Lại – Chí Linh, Hải Dương với tên gọi sông Cầu); sông Sêrêpôk dài 371 km; sông Bé dài 385 km; sông Chảy dài 303 km.
  • 3 dòng sông có tốc độ dòng chảy lớn nhất là sông Hồng, sông Đà, sông Lô. Trong đó, lưu lượng của sông Hồng cao nhất vào tháng 8 là hơn 9.200m3/s.

Danh sách Sông

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Danh sách sông ở Việt Nam

Vai trò của các hệ thống sông lớn ở Việt Nam

[sửa | sửa mã nguồn]

Các hệ thống sông lớn ở Việt Nam đóng vai trò quan trọng và đa dạng trong nhiều khía cạnh của đời sống, kinh tế và văn hóa:[2]

  • Nguồn cung nước: Hệ thống sông cung cấp nguồn nước quan trọng cho nông nghiệp, sản xuất và sinh hoạt hàng ngày của người dân. Sông là nguồn nước tươi cần thiết để tưới tiêu cho lúa, cây trồng và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp.
  • Giao thông và thương mại: Sông đã và đang đóng vai trò quan trọng trong giao thông vận tải hàng hóa và người. Các tuyến đường thủy sông ngòi nước cung cấp một phương tiện vận chuyển rất hiệu quả, giúp kết nối vùng sâu với các trung tâm kinh tế lớn.
  • Năng lượng thủy điện: Sử dụng sông để xây dựng các nhà máy thủy điện giúp tạo ra nguồn năng lượng sạch và tái tạo. Việc phát triển các dự án thủy điện từ sông giúp cung cấp điện năng cho nhiều khu vực trong cả nước.
  • Văn hóa và lịch sử: Sông đóng vai trò quan trọng trong văn hóa và lịch sử của Việt Nam. Nhiều nền văn minh lớn đã phát triển dọc theo các sông lớn, với các di tích lịch sử và văn hóa quan trọng.
  • Môi trường tự nhiên và sinh thái: Hệ thống sông cũng góp phần quan trọng trong việc duy trì môi trường tự nhiên và sinh thái đa dạng. Sông là nơi sinh sống của nhiều loài động, thực vật, và cung cấp nguồn tài nguyên đa dạng cho các sinh vật sống trong và xung quanh sông.
  • Du lịch và giải trí: Sông mang lại tiềm năng lớn trong lĩnh vực du lịch và giải trí. Cảnh quan thiên nhiên đặc trưng của các sông lớn thu hút du khách, cung cấp cơ hội cho các hoạt động giải trí như thuyền buồm, câu cá, và du ngoạn trên sông.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Giải pháp nào quản trị hiệu quả nguồn thủy điện Việt Nam?. Conversations on Vietnam Development, 6/03/2019.
  2. ^ "Danh sách tên các con sông theo các tỉnh ở Việt Nam". luatduonggia.vn. ngày 2 tháng 6 năm 2025.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn] Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện về Sông Việt Nam. Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Sông_Việt_Nam&oldid=74497971” Thể loại:
  • Sông của Việt Nam
  • Đường thủy Việt Nam
Tìm kiếm Tìm kiếm Đóng mở mục lục Sông Việt Nam Thêm ngôn ngữ Thêm đề tài

Từ khóa » Các Con Sông Lớn Nhất Việt Nam