Sốt – Wikipedia Tiếng Việt

Các cấp độ sốt
°C Nhiệt độ trực tràng[4] Nhiệt độ miệng[13]
Sốt nhẹ 38,1–39 37,3–38
Sốt vừa 39,1–40 38,1–39 
Sốt cao 40,1–41,1 39,1–41
Sốt rất cao >41,1 >41

Căn cứ theo thời gian, sốt có thể được phân thành cấp tính (dưới 7 ngày), cận cấp tính (không quá 2 tuần), và mạn tính (trên 2 tuần).[4] Theo nhiệt độ cơ thể thì có sốt nhẹ, sốt vừa, sốt cao, và sốt rất cao (hyperpyrexia).[4] Nhiệt độ sốt đôi khi tương quan với tính nghiêm trọng của bệnh, nhưng cũng không là chỉ báo bệnh tình hữu ích.[4] Trừ người mắc bệnh tim thì sốt vừa không có hại gì.[14] Tuy nhiên sốt cao có thể nguy hiểm cho hệ thần kinh trung ương, nhất là ở trẻ em.[14] Trẻ em sốt trên 41 °C thường hay bị co giật.[14] Thân nhiệt duy trì trên 42 °C có thể dẫn đến tổn thương não vĩnh viễn.[14] Người sốt trên 43 °C hiếm khi sống sót.[14]

Thân nhiệt của bệnh nhân được ghi lại sau mỗi quãng thời gian đều nhau và nối các điểm lại cho ra đường cong nhiệt độ.[13] Các mô hình dao động nhiệt độ có thể là manh mối hữu ích cho chẩn đoán hoặc chẩn đoán phân biệt tình trạng bệnh.[13] Dựa vào đó sốt được phân thành các dạng:[15]

  1. Sốt liên tục: Thân nhiệt duy trì trên 39–40 °C trong vài ngày hoặc hàng tuần với dao động ngày ít, dưới 1 °C. Dạng này hay thấy ở viêm phổi thùy, thương hàn, sốt phát ban, hay cũng có thể do thuốc.[11]
  2. Sốt từng cơn: Thân nhiệt trong ngày biến động đến hơn 2 °C nhưng không lúc nào đạt bình thường. Dạng này hay thấy ở nhiễm khuẩn huyết, lao nặng, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn mủ.
  3. Sốt ngắt quãng: Thân nhiệt tăng đột ngột lên cao nhất trong vài tiếng rồi giảm mạnh về bình thường, sau đó là một hoặc vài ngày không sốt rồi lặp lại chu kỳ. Dạng này hay thấy ở sốt rét, viêm bể thận cấp, hoặc nhiễm trùng đường mật.
  4. Sốt tái lặp: Thân nhiệt tăng dần đến trên 39 °C trong vài ngày rồi giảm dần về bình thường trong vài ngày. Dạng này hay thấy ở bệnh Brucella, bệnh mô liên kết hay ung bướu.
  5. Sốt hồi quy: Thân nhiệt tăng đột ngột lên trên 39 °C trong vài ngày rồi giảm đột ngột về bình thường trong vài ngày. Dạng này hay thấy ở nhiễm khuẩn Borrelia recurrentis, bệnh Hodgkin.
  6. Sốt không quy luật: Kiểu đường cong nhiệt độ không theo quy luật; hay thấy ở lao, sốt thấp khớp, viêm phế quản phổi, viêm màng phổi tiết dịch.

Từ khóa » Tổng Quan Về Sốt